I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Nếu luật giao thông giúp cho người lái xe được an toàn thì trên đường đời cũng cần phải có những quy luật bảo toàn hạnh phúc. Phạm luật, nghĩa là chúng ta đang bị tước mất quyền hạnh phúc.
Giáo sư Sonja Lyubomirsky, thuộc Đại học California, đã yêu cầu những người tham gia hãy ngẫu nhiên làm những việc tốt cho người khác trong vòng 10 tuần. Bà nhận thấy mức độ hạnh phúc của những người này tăng lên đáng kể mỗi khi họ làm được một việc tốt và họ vẫn giữ được trạng thái hạnh phúc sau một khoảng thời gian. Nghiên cứu chuyên sâu hơn cho thấy những người hay giúp đỡ người khác, hoặc có tham gia hoạt động thiện nguyện thường cảm thấy hạnh phúc hơn khoảng 30% so với những người chưa từng tham gia các hoạt động này. Điều đó phản ánh đúng bốn cấp độ hạnh phúc mà Aristotle, triết gia Hy Lạp, đã nêu ra từ hai ngàn năm trước.
Theo Aristotle, hạnh phúc ở cấp độ cao thứ hai của loài người là chia sẻ, trao tặng - hay beautitudo, nghĩa là được chúc phúc. Khi ta làm cho người khác hạnh phúc họ sẽ chúc phúc ta bằng những ý nghĩ và cảm xúc tích cực. Năng lượng tích cực ấy sẽ hướng về phía ta và làm gia tăng mức độ hạnh phúc trong ta - hạnh phúc vì nhìn ra điểm tốt ở người khác và làm được điều tốt cho người khác. Đã bao giờ bạn thử hỏi, giữa người nhận quà và người trao quà, ai sẽ hạnh phúc hơn? Chính người cho đi sẽ nhận về hạnh phúc nhiều hơn.
Từ một nghiên cứu với sự tham gia của 2.016 người cho thấy những ai tham gia các hoạt động thiện nguyện thì tinh thần họ phấn chấn hơn, khả năng miễn dịch mạnh, ít bị trầm cảm và ít mắc các bệnh mãn tính. Một nghiên cứu ở Đại học Hebrew, Isarel cũng phát hiện ra rằng lòng tốt sản sinh ra chất dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh làm cho con người cảm thấy sảng khoái.
Khi bước vào tình huống với suy nghĩ “Mình có thể nhận được gì?” thay vì là “Mình có thể đóng góp được gì?”, ta sẽ cảm thấy căng thẳng và có thể gặt trái đắng. Còn khi ta chủ động trao đi thì chính năng lượng trao tặng thể hiện qua thái độ, lời nói và hành động sẽ quay trở về với ta. Điều tưởng như là nghịch lý ấy vẫn đang diễn ra trong cuộc sống - khi cho đi, ta sẽ nhận về nhiều hơn cái ta có ban đầu.”
(Trích Lăng kính Tâm hồn - Trish Summerfield, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2013, tr. 14-15)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [1100839]: Theo đoạn trích, ai là những người hạnh phúc hơn?
Theo đoạn trích, những người hay giúp đỡ người khác, hoặc có tham gia hoạt động thiện nguyện là những người hạnh phúc hơn (so với những người chưa từng tham gia các hoạt động này).
Câu 2 [1100840]: Dữ liệu sau đây là dữ liệu sơ cấp hay dữ liệu thứ cấp?
Một nghiên cứu ở Đại học Hebrew, Isarel cũng phát hiện ra rằng lòng tốt sản sinh ra chất dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh làm cho con người cảm thấy sảng khoái.
Dữ liệu Một nghiên cứu ở Đại học Hebrew, Isarel cũng phát hiện ra rằng lòng tốt sản sinh ra chất dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh làm cho con người cảm thấy sảng khoái là dữ liệu thứ cấp.
<*> Kiến thức:
+ Dữ liệu sơ cấp là loại dữ liệu nguồn hay dữ liệu gốc, mang tính khách quan cao, thường chưa được phân tích, diễn giải, xử lí. Loại dữ liệu này cung cấp thông tin chưa được xử lí hoặc bằng chứng, báo cáo, sự tường thuật trực tiếp, đầu tiên về một sự việc/ hiện tượng hoặc một phát hiện mới. Chẳng hạn: hiện vật/ tranh ảnh gốc, nhật kí, thư từ, diễn văn, nội dung phỏng vấn, bản tường thuật của nhân chứng, tác phẩm nghệ thuật, dữ liệu thống kê,...
+ Dữ liệu thứ cấp là loại dữ liệu cung cấp thông tin đã được người viết xử lí, kể lại, mô tả, tóm tắt, tổng hợp hoặc diễn giải, đánh giá từ những nguồn dữ liệu sơ cấp; tức là dữ liệu đã được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan. Tiêu biểu cho dữ liệu thứ cấp là dữ liệu trong các sách, báo, tạp chí như: bách khoa toàn thư, từ điển, sách tham khảo, sách giáo khoa, các bài báo, tạp chí có tính diễn giải, phân tích, bình luận, tổng hợp,... thông tin, bài phê bình tác phẩm nghệ thuật,...
Câu 3 [1100841]: Việc viện dẫn quan điểm của Aristotle về hạnh phúc trong đoạn trích có ý nghĩa gì?
- Quan điểm của Aristotle về hạnh phúc: Hạnh phúc ở cấp độ cao thứ hai của loài người là chia sẻ, trao tặng - hay beautitudo, nghĩa là được chúc phúc.
- Tác dụng của việc viện dẫn ý kiến của Aristotle:
+ Tăng tính thuyết phục cho lập luận của người viết.
+ Góp phần làm sáng tỏ, khẳng định tính đúng đắn của lí lẽ: Hạnh phúc đến từ việc cho đi.
+ Kêu gọi mọi người biết sống sẻ chia để có được niềm vui, hạnh phúc cho chính cuộc đời của mình.
Câu 4 [1100842]: Người viết đã bày tỏ quan điểm về hạnh phúc như thế nào qua đoạn văn cuối cùng của đoạn trích?
Qua đoạn văn cuối cùng, người viết đã bày tỏ rõ ràng quan điểm về hạnh phúc: hạnh phúc là kết quả của lối sống vị tha, sẻ chia và chủ động trao tặng, chứ không phải của sự ích kỉ hay tính toán cá nhân.
+ Hạnh phúc không đến từ việc chỉ nghĩ đến bản thân hay mong nhận về, bởi khi bước vào cuộc sống với suy nghĩ “mình có thể nhận được gì”, con người dễ rơi vào căng thẳng, thất vọng và hệ quả tiêu cực.
+ Hạnh phúc được tạo ra từ sự chủ động cho đi và đóng góp. Khi con người sống với tinh thần sẻ chia, năng lượng tích cực thể hiện qua thái độ, lời nói và hành động sẽ lan tỏa và quay trở lại, làm gia tăng giá trị tinh thần và niềm vui sống.
+ Càng biết sống vì người khác, con người càng nhận lại nhiều hơn những giá trị tốt đẹp so với những gì mình có ban đầu.
Câu 5 [1100843]: Nêu quan điểm của anh/chị về hạnh phúc (trình bày khoảng 5-7 dòng).
Thí sinh tự do bày tỏ quan điểm cá nhân; đồng thời lí giải một cách hợp lí, thuyết phục. Chẳng hạn:
Hạnh phúc có nhiều quan niệm khác nhau, tùy vào hoàn cảnh và cách sống của mỗi người. Đối với người này, hạnh phúc có thể là đạt được thành công trong học tập hay công việc, được xã hội công nhận và trân trọng. Nhưng với người khác, hạnh phúc lại đơn giản là có một gia đình ấm êm, được yêu thương và quan tâm mỗi ngày. Có người tìm thấy hạnh phúc trong sự đủ đầy vật chất, trong khi người khác cảm nhận hạnh phúc khi được sẻ chia và giúp đỡ mọi người xung quanh. Dù ở dạng nào, hạnh phúc luôn gắn liền với sự bình yên và tích cực trong tâm hồn.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [1100844]: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: Hạnh phúc là cho đi.
* Sơ lược nội dung đoạn trích: Đoạn trích bàn về hạnh phúc dưới góc nhìn khoa học và triết học, khẳng định rằng hạnh phúc bền vững đến từ việc cho đi và giúp đỡ người khác.
* Bàn luận:
- Giải thích:
+ Hạnh phúc theo từ điển: trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện (từ điển).
+ Hạnh phúc theo quan niệm của mỗi người có sự khác nhau phụ thuộc vào giá trị sống và mục tiêu cá nhân.
+ “Hạnh phúc là cho đi”: Khi giúp đỡ người khác, người cho đi nhận lại được sự vui vẻ, sự hài lòng và sự thỏa mãn. Khi ta cho đi, ta không chỉ mang lại niềm vui cho người khác mà còn cảm nhận được niềm vui sướng bên trong chính mình
- Ý nghĩa của việc cho đi:
+ Đối với bản thân người biết cho đi:
+ Đem lại niềm vui, hạnh phúc và sự thanh thản trong tâm hồn.
+ Giúp người cho đi cảm thấy bản thân có giá trị, có thêm niềm tin và nghị lực, từ đó xây dựng lối sống tốt đẹp, biết cống hiến cho cuộc đời.
+ Cho đi những điều tốt đẹp, thiện lành là cách ta tạo phúc cho chính mình và thế hệ sau.
Dẫn chứng:
• Một nghiên cứu ở Đại học Hebrew, Isarel cũng phát hiện ra rằng lòng tốt sản sinh ra chất dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh làm cho con người cảm thấy sảng khoái;
• Câu ngạn ngữ “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm.”;
• Nhà thơ Trần Nhuận Minh từng dặn con trong cách cư xử với người ăn xin: Lòng tốt gửi vào thiên hạ/ Biết đâu nuôi bố sau này (Dặn con).
• Hà Nhân trong Sống như cây rừng từng khẳng định: Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Ta biết cho đi hơn là nhận lại. Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên. Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình.
• Nhiều cá nhân biết sống san sẻ cùng người khác: Mẹ Teresa (Macedonia) đã dành cả cuộc đời hy sinh phục vụ người nghèo khổ và yếu thế và bà được mệnh danh là Vị thánh của những người khốn khổ; Tỉ phú người Mỹ Chuck Feeney đã cho đi hàng tỉ USD, sống những ngày tháng cuối đời trong một ngôi nhà thuê nhỏ ở San Francisco và không sở hữu bất cứ chiếc ô tô hay một ngôi nhà nào. Triết lí sống của ông là: “Tôi không thể nghĩ ra cách sử dụng tài sản nào xứng đáng và phù hợp hơn là cho đi khi một người còn sống, để cống hiến hết mình cho những nỗ lực có ý nghĩa nhằm cải thiện tình trạng con người”; ...
• Đối với người nhận: Khi cho đi, ta đã giúp cho người khác vượt qua khó khăn, giúp họ có thêm động lực và niềm tin vào cuộc sống.
• Đối với xã hội: Tạo nên sự gắn kết cộng đồng và sức mạnh dân tộc.
- Vì sao cần phải cho đi:
+ Con người không thể sống tách rời cộng đồng, cần sự sẻ chia và giúp đỡ lẫn nhau.
+ Cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng, đôi lúc con người sẽ gặp khó khăn, thử thách. Một cái dang tay tuy không quá lớn lao cũng có thể giúp con người vượt qua.
Dẫn chứng: Tinh thần cho đi được biểu hiện rất rõ qua những hoàn cảnh dân tộc trải qua đại nạn: Mỗi khi miền Trung hứng chịu bão lụt, nhân dân miền Bắc và miền Nam luôn dõi theo, hỗ trợ, chung tay cùng đồng bào khắc phục hậu quả; Trong thời gian đại dịch COVID-19, khi nhiều người gặp khó khăn vì bệnh tật, mất việc làm hoặc phải cách ly, rất nhiều cá nhân, tổ chức và cộng đồng đã chủ động cho đi, thể hiện tinh thần Lá lành đùm lá rách cao đẹp.
* Nhận xét, đánh giá; mở rộng nâng cao
- Nhận xét, đánh giá: Cho đi là lối sống đẹp, đáng trân trọng. Hạnh phúc không ở đâu xa xôi, hạnh phúc ẩn mình trong những điều bình dị như một lời nói yêu thương chân thành, một cái đưa tay lúc người khác gặp khó khăn,…
- Mở rộng, nâng cao:
+ Nhiều người trong cuộc sống hiện nay vẫn giữ lối sống ích kỉ, không biết cho đi, thu hẹp, ngăn cách bản thân giao hoà với xã hội. Đó là thái độ sống cần bị lên án, phê phán.
+ Của cho không bằng cách cho, khi cho đi cũng cần có thái độ khiêm tốn, không ra oai, hách dịch, nghĩ là mình đang bố thí cho người khác. Hạnh phúc chỉ đến với những người luôn sẵn sàng cho đi một cách chân thành và vô tư, không tính toán, không mưu mô, không hề nghĩ về việc nhận lại một điều gì đó.
Câu 7 [1100845]: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích sau:
“Anh con trai: Thế nào là lừa đảo? (Lắc đầu) Tính nết thầy vẫn chẳng thay đổi gì... Tôi tưởng bây giờ thầy phải nghĩ khác đi rồi cơ... Tôi nói thầy nghe nhé: đến cái thân thầy mang cũng không phải của thầy, chẳng qua thầy núp nhờ vào đó thôi... So với việc ấy, việc gian lận lừa đảo một vài món hàng của tôi ngoài chợ, nào có nghĩa lí gì!
Hồn Trương Ba: Nhưng tao có muốn vậy đâu, có thích thú gì đâu!
Anh con trai: Thầy muốn hay không thì sự thể vẫn là như vậy. Một khi đã mưu cầu được sống với bất cứ giá nào thì cũng chẳng nên chê việc này thơm, việc kia hôi!
Hồn Trương Ba: Thằng khốn kiếp! (Quát to) - Im ngay!
Vợ Trương Ba: Ông đừng quát lên thế nữa! Mà tiếng ông bây giờ có nhỏ nhẹ như trước đâu, ông quát lên như sấm ấy, nghe sợ lắm!
Hồn Trương Ba: (Cáu) Ra nói to tôi cũng không có quyền nữa sao? Cả cái tiếng của tôi cũng không là của tôi nữa sao? Hả? Hả? (Lại quát to hơn. Tiếng quát như lệnh vỡ gầm lên vang động khắp nhà. Mọi người trong nhà im thin thít. Cái Gái từ buồng trong ra, chăm chú nhìn Hồn Trương Ba).
Anh con trai: (Nhếch mép) Thầy cứ quát cho hả giận, cũng chẳng thay đổi gì được đâu. Chẳng phải chỉ cái giọng, toàn bộ cái lốt thầy mang giờ đã chẳng phải của thầy. Bản thân con người thầy đứng kia đã là một cái gì... một cái gì... không ngay thật rồi!
Chị con dâu: Nhà, không được nói thế!
Vợ Trương Ba: Cả! Mày nỡ nói vậy sao?
Anh con trai: Tôi chỉ nói sự thật. Lạ quá, tại sao mọi người lại sợ sự thật nhỉ?
Hồn Trương Ba: Mày bước ngay đi, bước đi với những việc làm ăn của mày, những sự thật gớm ghiếc của mày!
Anh con trai: Gớm ghiếc? Cả nhà cứ việc khinh thị tôi. Thử hỏi nhờ ai mà giữa thời buổi này nhà ta còn được đàng hoàng tươm tất như vậy? Cả thầy nữa, giờ thầy ăn mỗi bữa tám, chín bát cơm, rồi nào rượu, nào thịt,... Tiền làm ruộng làm vườn của u mà đủ cung phụng thầy chắc? Tiền làm vườn chỉ đủ nuôi thân ông Trương Ba chứ không đủ nuôi ông hàng thịt. U lo thắt ruột, nhưng không dám hé răng với thầy, chỉ còn biết trông cậy vào tôi, vào đồng tiền tôi buôn bán chạy chợ mang về... Thầy còn xỉ vả tôi nỗi gì? Đã đến nước này, thầy còn cao đạo!
Hồn Trương Ba: (Lắp bắp) Mày... mày... (Tát mạnh anh con trai. Anh con trai ngã xuống, lồm cồm đứng dậy, ôm má. Vợ Trương Ba và chị con dâu kêu lên).”
(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt - Lưu Quang Vũ, theo Văn bản đọc hiểu Ngữ văn 11, NXB Đại học Huế, 2023)
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
- Tác giả Lưu Quang Vũ:
• Tài năng sớm bộc lộ từ nhỏ.
• Thơ Lưu Quang Vũ không sắc sảo và dữ dội như kịch nhưng giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao.
• Ông còn là tác giả của một số truyện ngắn mang đậm phong cách riêng.
• Những vở kịch của Lưu Quang Vũ gây chấn động dư luận. Lưu Quang Vũ không chỉ trở thành một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX mà còn được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
• Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt:
• HCST: Viết năm 1981 - thời điểm đất nước mới thống nhất (1975), xã hội nhiều nhiễu nhương.
• Là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ.
• Từ một cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.
• Đoạn trích trong đề thuộc đoạn kết của vở kịch.
* Giải quyết VĐNL
(Phân tích tính bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích):
- Biểu hiện:
• Bi kịch bị xác anh hàng thịt chi phối và sai khiến dẫn đến tha hóa, khiến cho cách hành xử của Trương Ba không còn chuẩn mực như trước nữa:
_Cách ăn uống, sinh hoạt thô phàm: ăn mỗi bữa tám, chín bát cơm, rồi nào rượu, nào thịt,...
_Cách nói năng thô lỗ:
Xưng “tao” - “mày” với con trai
Liên tục quát to, thể hiện sự tức giận: Thằng khốn kiếp, Im ngay, Ra nói to tôi cũng không có quyền nữa sao? Cả cái tiếng của tôi cũng không là của tôi nữa sao? Hả? Hả?,…
→ Trương Ba không còn nhỏ nhẹ trong lời nói như trước. Chính vợ Trương Ba cũng thấy được sự thay đổi rõ nét này ở chồng mình (Mà tiếng ông bây giờ có nhỏ nhẹ như trước đâu, ông quát lên như sấm ấy, nghe sợ lắm!); phản ứng của cái Gái (chăm chú nhìn Hồn Trương Ba → cảm thấy lạ lẫm) càng nhấn mạnh sự thay đổi về cách nói năng của Trương Ba.
_Hành động bộc lộ sự tức giận đạt tới cực điểm: Đuổi, thậm chí còn tát con trai.
• Bi kịch trở nên xa lạ trong chính gia đình của mình (anh con trai không phục, còn có thái độ mỉa mai, coi thường; vợ, con dâu ngạc nhiên và thất vọng trước những hành xử thô lỗ của Trương Ba):
_Thái độ, hành động của anh con trai với cha của mình: Xưng “tôi” với cha, bóc mẽ cha mình, mang việc gian lận, lừa đảo so với việc sống nhờ sống gửi - điều mà Trương Ba không hề mong muốn,... ⟶ thái độ xấc xược, mỉa mai, hỗn láo.
_Các thành viên khác trong gia đình Trương Ba, chính họ cũng không hiểu nổi sự thay đổi của ông: Vợ - người đầu ấp tay gối bên mình ngần ấy năm cũng nhận ra sự thay đổi, không còn thấu hiểu mình, thậm chí còn cảm thấy sợ hãi mình; đứa con dâu, đứa cháu gái mình thương yêu cũng cảm thấy xa lạ mình.
→ Có lẽ, đây chính là bi kịch đau đớn nhất của Trương Ba: bị người thân ruồng rẫy, ghê sợ.
- Lí giải:
• Sự tắc trách của Nam Tào: gạch nhầm tên Trương Ba khiến ông phải chết oan.
• Sự chắp vá lỗi lầm thiếu suy nghĩ của Nam Tào, Đế Thích.
• Tính cách, thể xác anh hàng thịt quá đỗi khác biệt so với Trương Ba, làm cho ông không thể trở về cuộc sống như xưa.
- Ý nghĩa:
• Đối với nhân vật: Góp phần khắc hoạ hình tượng nhân vật (thể hiện sự thay đổi trong Trương Ba sau khi nhập vào xác anh hàng thịt; tô đậm mâu thuẫn xung đột trong chính bản thân Trương Ba và giữa Trương Ba với người thân trong gia đình).
• Đối với tác phẩm: Góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm cùng những triết lí sâu sắc mà tác giả gửi gắm.
• Đối với tác giả: Thể hiện tài năng cùng tấm lòng trăn trở, lo âu của tác giả trước sự xuống cấp đạo đức, sự tha hóa nhân cách trong xã hội của Lưu Quang Vũ.
<*> Lưu ý: Có thể mở rộng, làm rõ tính bi kịch trong một số nhân vật ở những tác phẩm kịch khác, như Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng), Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Sếch-xpia),…