I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Ấy là hôm hăm chín, ngày cuối năm.
Nửa đêm, sau khi nghe trên đền nổ ba chiếc lõi sắt báo giờ giao thừa, làng bỗng dậy ran tiếng pháo. Đám nhà giàu, mà trận bão vừa qua không làm thiệt hại, ầm ĩ đón mừng năm mới.
Tiếng huyên náo sục vào những nhà dân chài. Niềm bi thống chợt thức dậy càng bóp lòng những mụ nhà quê. Họ ngờ ngạc lắng nghe tiếng mừng xôn xao của thiên hạ.
Lát sau một đám người tụ họp trước miếu thờ dựng cạnh ngả đường ra cửa lạch. Họ vào miếu sì sụp khấn vái và hi vọng. Nhưng khi trở ra, khi tiếp xúc với bóng đêm lạnh và nghe rõ tiếng bể rền rĩ, ai nấy lại đều tấm tức muốn khóc. Họ đứng tần ngần, không muốn lìa nhau. Mối lo buồn chung đã ràng buộc họ.
Phía trước mặt, cửa lạch in hình tam giác mờ mờ trắng. Sóng bể u trầm tha thiết. Giữa cái huyên náo đặc đen và bao la ngoài kia, chồng con họ hiện ở chỗ nào? Trong tiếng sóng, phải chăng có chen lời than vãn của những kẻ đáng thương chết không mồ mả, thân thể bị nước mặn hung hăng nhồi lắc, ray rứt đến rã rời từng mẩu thịt sũng mềm?
Một mụ nói: “Về ta!”. Nhưng không ai nhúc nhích. Khoảng trắng mờ tam giác như thu hết linh hồn mọi người: trí não giãn căng, họ như mong đợi một sự xuất phàm. Và họ đã được chứng kiến một cảnh tượng kì lạ.
Có phải mọi người đều hoa mắt, vì đã nhìn lâu trong bóng tối? Sự chấn động gây bởi những ngày chờ đợi vô vọng đã đánh loạn thị giác họ chăng? Nhưng mãi ngày nay, tuy việc đã lùi xa theo thời gian, những người trong cuộc đều đoán chắc đã thấy rõ ràng và kể lại được tách bạch từng tiểu tiết.
Họ thấy giữa khoảng bể đen mờ mọc lên một điểm ánh sáng xanh, tiếp sau đó mọc thêm hai điểm nữa cũng màu xanh biếc y hệt. Trông giống ba vì sao vừa ngoi ở nước lên, gióng thẳng hàng như buộc lấy nhau bằng một sợi dây. Những điểm ánh sáng ấy bay tới phía cửa lạch, to dần thành những ngọn đèn le lói chiếu mờ mờ ra chung quanh, làm nổi những bóng đen lớn thon dài. Người ta nhận ra được hình chiếc thuyền. Buồm không thấy căng lên; không nghe chèo khuấy nước. Nhưng ba chiếc thuyền tiến vào rất nhanh. Ba ngọn đèn vuông tỏa ánh sáng xanh mờ bí mật, không soi rõ những bóng người lố nhố trên thuyền. Thuyền đi rất êm, như cách lướt trong bóng tối, không chạm mặt nước. Những hình người không động và im lìm. Chợt một bóng người ở thuyền đầu tách ra tiến đến phía mũi và nói bằng một giọng nghe xa xôi: “Được rồi đó. Thôi quay trở lại, anh em!”.
Mụ Can Túc tưởng nhận ra tiếng chồng, hồi hộp hỏi ra: “Bố thằng Can đó phải không?”. Người kia giơ đèn lên ngang mặt, nhìn vào bờ hỏi lại: “Tiếng ai như tiếng mẹ thằng Can?”.
Nhờ ánh đèn, mọi người đều nhận rõ mặt bác Can Túc. Bác cười lặng lẽ miệng dệch đến mang tai. Hai mắt lóng lánh một vẻ tinh quái, như giấu một sự bí mật gì.
Bác dệch miệng cười rất lâu, rồi nói lớn: “Anh gửi lời chào bà con cả. Anh em ở xa ghé về thăm nhà một tí, giờ đi đây”. Chưa ai kịp đáp gì, cũng chưa ai kịp hiểu những sự vừa xảy ra, thì ba chiếc thuyền đã đồng thời quay mũi. Người ta tưởng thấy bóng người cử động như đang chèo, nhưng không hề nghe tiếng nước xao động. Ba chiếc thuyền ma lặng lờ quay ra biển, trở về chốn vô cùng.
Mọi người sững sờ nhìn theo. Đột nhiên ba điểm ánh sáng xanh cùng một lúc vụt chìm xuống đáy biển, như những tia hi vọng mong manh chẳng còn bao giờ trở lại.
Ngày hôm sau, bốn chiếc thuyền nữa lần về được lạch nhà. Một chiếc thứ năm đã bị giạt xuống ngang cửa Nhật Lệ. Thuyền ụp, nhưng may bạn chài đều sống sót, họ lần lên Đồng Hới, tìm được đến nhà thầy mẹ tôi. Họ xin một bữa rượu, “uống để giải cái rét”. Cơm rượu no say, mỗi người được biếu một cái nón, bộ quần áo, một xuất tiền xe trở về làng.
Duy ba chiếc thuyền cuối cùng bặt tin tức. Bác Can Túc chỉ còn lưu lại trong kí ức mọi người hình ảnh nét cười lặng lẽ dếch đến tận mang tai, cái cười mang một vẻ vừa bí hiểm vừa tinh nghịch, hầu như vui vẻ nữa, cứ như thể bác đã tìm ra được cái bí quyết vượt qua mọi gian nguy khổ cực trên đời và tới được nơi an ổn vĩnh viễn. Mỗi khi nhắc chuyện bác, người ta nói: “Mồ ma bác Can...”
“Ấy là hôm hăm chín, ngày cuối năm.
Nửa đêm, sau khi nghe trên đền nổ ba chiếc lõi sắt báo giờ giao thừa, làng bỗng dậy ran tiếng pháo. Đám nhà giàu, mà trận bão vừa qua không làm thiệt hại, ầm ĩ đón mừng năm mới.
Tiếng huyên náo sục vào những nhà dân chài. Niềm bi thống chợt thức dậy càng bóp lòng những mụ nhà quê. Họ ngờ ngạc lắng nghe tiếng mừng xôn xao của thiên hạ.
Lát sau một đám người tụ họp trước miếu thờ dựng cạnh ngả đường ra cửa lạch. Họ vào miếu sì sụp khấn vái và hi vọng. Nhưng khi trở ra, khi tiếp xúc với bóng đêm lạnh và nghe rõ tiếng bể rền rĩ, ai nấy lại đều tấm tức muốn khóc. Họ đứng tần ngần, không muốn lìa nhau. Mối lo buồn chung đã ràng buộc họ.
Phía trước mặt, cửa lạch in hình tam giác mờ mờ trắng. Sóng bể u trầm tha thiết. Giữa cái huyên náo đặc đen và bao la ngoài kia, chồng con họ hiện ở chỗ nào? Trong tiếng sóng, phải chăng có chen lời than vãn của những kẻ đáng thương chết không mồ mả, thân thể bị nước mặn hung hăng nhồi lắc, ray rứt đến rã rời từng mẩu thịt sũng mềm?
Một mụ nói: “Về ta!”. Nhưng không ai nhúc nhích. Khoảng trắng mờ tam giác như thu hết linh hồn mọi người: trí não giãn căng, họ như mong đợi một sự xuất phàm. Và họ đã được chứng kiến một cảnh tượng kì lạ.
Có phải mọi người đều hoa mắt, vì đã nhìn lâu trong bóng tối? Sự chấn động gây bởi những ngày chờ đợi vô vọng đã đánh loạn thị giác họ chăng? Nhưng mãi ngày nay, tuy việc đã lùi xa theo thời gian, những người trong cuộc đều đoán chắc đã thấy rõ ràng và kể lại được tách bạch từng tiểu tiết.
Họ thấy giữa khoảng bể đen mờ mọc lên một điểm ánh sáng xanh, tiếp sau đó mọc thêm hai điểm nữa cũng màu xanh biếc y hệt. Trông giống ba vì sao vừa ngoi ở nước lên, gióng thẳng hàng như buộc lấy nhau bằng một sợi dây. Những điểm ánh sáng ấy bay tới phía cửa lạch, to dần thành những ngọn đèn le lói chiếu mờ mờ ra chung quanh, làm nổi những bóng đen lớn thon dài. Người ta nhận ra được hình chiếc thuyền. Buồm không thấy căng lên; không nghe chèo khuấy nước. Nhưng ba chiếc thuyền tiến vào rất nhanh. Ba ngọn đèn vuông tỏa ánh sáng xanh mờ bí mật, không soi rõ những bóng người lố nhố trên thuyền. Thuyền đi rất êm, như cách lướt trong bóng tối, không chạm mặt nước. Những hình người không động và im lìm. Chợt một bóng người ở thuyền đầu tách ra tiến đến phía mũi và nói bằng một giọng nghe xa xôi: “Được rồi đó. Thôi quay trở lại, anh em!”.
Mụ Can Túc tưởng nhận ra tiếng chồng, hồi hộp hỏi ra: “Bố thằng Can đó phải không?”. Người kia giơ đèn lên ngang mặt, nhìn vào bờ hỏi lại: “Tiếng ai như tiếng mẹ thằng Can?”.
Nhờ ánh đèn, mọi người đều nhận rõ mặt bác Can Túc. Bác cười lặng lẽ miệng dệch đến mang tai. Hai mắt lóng lánh một vẻ tinh quái, như giấu một sự bí mật gì.
Bác dệch miệng cười rất lâu, rồi nói lớn: “Anh gửi lời chào bà con cả. Anh em ở xa ghé về thăm nhà một tí, giờ đi đây”. Chưa ai kịp đáp gì, cũng chưa ai kịp hiểu những sự vừa xảy ra, thì ba chiếc thuyền đã đồng thời quay mũi. Người ta tưởng thấy bóng người cử động như đang chèo, nhưng không hề nghe tiếng nước xao động. Ba chiếc thuyền ma lặng lờ quay ra biển, trở về chốn vô cùng.
Mọi người sững sờ nhìn theo. Đột nhiên ba điểm ánh sáng xanh cùng một lúc vụt chìm xuống đáy biển, như những tia hi vọng mong manh chẳng còn bao giờ trở lại.
Ngày hôm sau, bốn chiếc thuyền nữa lần về được lạch nhà. Một chiếc thứ năm đã bị giạt xuống ngang cửa Nhật Lệ. Thuyền ụp, nhưng may bạn chài đều sống sót, họ lần lên Đồng Hới, tìm được đến nhà thầy mẹ tôi. Họ xin một bữa rượu, “uống để giải cái rét”. Cơm rượu no say, mỗi người được biếu một cái nón, bộ quần áo, một xuất tiền xe trở về làng.
Duy ba chiếc thuyền cuối cùng bặt tin tức. Bác Can Túc chỉ còn lưu lại trong kí ức mọi người hình ảnh nét cười lặng lẽ dếch đến tận mang tai, cái cười mang một vẻ vừa bí hiểm vừa tinh nghịch, hầu như vui vẻ nữa, cứ như thể bác đã tìm ra được cái bí quyết vượt qua mọi gian nguy khổ cực trên đời và tới được nơi an ổn vĩnh viễn. Mỗi khi nhắc chuyện bác, người ta nói: “Mồ ma bác Can...”
(Trích Một trận bão cuối năm - Bùi Hiển, theo vnexpress.net)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [706733]: Xác định đề tài của đoạn trích.
Đề tài của đoạn trích: đời sống của những cư dân nghèo ở một làng chài miền Trung.
Câu 2 [706734]: Chỉ ra bối cảnh của các sự việc trong đoạn trích.
Bối cảnh của các sự việc trong đoạn trích:
- Thời gian: nửa đêm hôm hăm chín, ngày cuối năm, thời khắc kề cận giao thừa.
- Không gian: làng chài ven biển.
Câu 3 [706735]: Chi tiết khi tiếp xúc với bóng đêm lạnh và nghe rõ tiếng bể rền rĩ, ai nấy lại đều tấm tức muốn khóc khắc hoạ tâm trạng nào ở những người có người thân đi biển vẫn bặt vô âm tín trong trận bão?
Chi tiết khi tiếp xúc với bóng đêm lạnh và nghe rõ tiếng bể rền rĩ, ai nấy lại đều tấm tức muốn khóc khắc hoạ tâm trạng đau đớn, xót xa, đầy thương cảm trong những người dân chài có người thân đi biển mà vẫn bặt vô âm tín sau trận bão. Trong tiếng khóc tấm tức, người ta cũng cảm nhận được cả nỗi tủi thân trong tâm trạng của những con người khốn khổ này bởi ngoài kia, giao thừa đang đến, đám nhà giàu vẫn đốt pháo dậy ran, ầm ĩ đón mừng năm mới.
Câu 4 [706736]: Nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.
- Yếu tố kì ảo xuất hiện dày đặc trong nửa sau của đoạn trích:
+ Gắn với hình ảnh con thuyền: giữa khoảng bể đen mờ mọc lên một điểm ánh sáng xanh, tiếp sau đó mọc thêm hai điểm nữa cũng màu xanh biếc; Những điểm ánh sáng ấy bay tới phía cửa lạch, to dần thành những ngọn đèn le lói chiếu mờ mờ ra chung quanh; Buồm không thấy căng lên; không nghe chèo khuấy nước. Nhưng ba chiếc thuyền tiến vào rất nhanh.; Ba ngọn đèn vuông tỏa ánh sáng xanh mờ bí mật; Thuyền đi rất êm, như cách lướt trong bóng tối, không chạm mặt nước.; Người ta tưởng thấy bóng người cử động như đang chèo, nhưng không hề nghe tiếng nước xao động. Ba chiếc thuyền ma lặng lờ quay ra biển, trở về chốn vô cùng.; Đột nhiên ba điểm ánh sáng xanh cùng một lúc vụt chìm xuống đáy biển.
+ Gắn với hình ảnh của những người xấu số đã tử nạn trong cơn bão: Những hình người không động và im lìm; bóng người ở thuyền đầu (bác Can Túc) tách ra tiến đến phía mũi và nói bằng một giọng nghe xa xôi; Bác cười lặng lẽ miệng dệch đến mang tai. Hai mắt lóng lánh một vẻ tinh quái, như giấu một sự bí mật gì.
- Tác dụng của yếu tố kì ảo trong đoạn trích:
+ Đối với cốt truyện, yếu tố kì ảo góp phần phát triển cốt truyện, tạo nên sự kiện đặc biệt trong mạch truyện; mang lại sự sinh động, hấp dẫn cho nội dung được kể trong đoạn trích.
+ Đối với nội dung tư tưởng của truyện:
• Góp phần mang lại cho câu chuyện giá trị/ nội dung hiện thực: Sự trở về của ba con thuyền ma thực chất chính là ảnh chiếu phản chiếu công cuộc mưu sinh vô cùng khốn khó, gieo neo của những người dân nghèo làm nghề chài lưới. Những người dân làng chài một khi đã gắn bó cuộc đời với biển khơi, họ sẽ luôn phải đối diện với những bất trắc bất kì lúc nào cũng có thể xảy đến.
• Góp phần mang lại giá trị nhân văn, nhân đạo cho câu chuyện:
o Sự trở về của ba con thuyền trong chốc lát như là một niềm an ủi những mất mát đau thương mà những vợ, người mẹ, những đứa con có người thân đi biển và đắm thuyền trong cơn bão biển.
o Những người đàn ông đã chết trong trận bão biển nhưng sự sống của họ không kết thúc, họ chỉ từ biệt cõi sống này để sang một cõi khác - một chốn vô cùng. Tiếp cận theo cách này, tính chất bi thương, bi thống sẽ giảm đi đáng kể và sự trở về của ba con thuyền như là một lời động viên, khích lệ người thân của họ tiếp tục sự sống dù đó vẫn là sự sống đầy những bất trắc, gieo neo.
Câu 5 [706737]: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết hình ảnh nét cười lặng lẽ dếch đến tận mang tai, cái cười mang một vẻ vừa bí hiểm vừa tinh nghịch, hầu như vui vẻ của bác Can Túc.
Chi tiết hình ảnh nét cười lặng lẽ dếch đến tận mang tai, cái cười mang một vẻ vừa bí hiểm vừa tinh nghịch, hầu như vui vẻ của bác Can Túc:
- Thể hiện thái độ bình thản, an nhiên của bác Can Túc trước cái chết (không khóc lóc, đau khổ, day dứt, tiếc nuối, phẫn nộ, hoảng loạn, sợ hãi,... - sắc thái tiêu cực).
- Thể hiện thái độ sống tích cực (cười, tinh nghịch, vui vẻ) của những người dân chài trước cuộc sống vốn đầy bất trắc, gieo neo của họ; họ luôn đối diện với những bất trắc, thậm chí là cái chết một cách rất nhẹ nhàng.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [706738]: (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ), cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện ở phần Đọc hiểu.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ), cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện ở phần Đọc hiểu.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện ở trích đoạn Một trận bão cuối năm (Bùi Hiển) có thể được triển khai theo hướng:
- Bùi Hiển là một trong những gương mặt xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông là một người dấn thân, bám sát đời sống, gần gũi thực tiễn, để sống và viết. Điều đó đem đến cho ông những sáng tác thắm đượm hơi thở thời đại.
- Một trận bão cuối năm là một trong những sáng tác tiêu biểu của đời văn Bùi Hiển. Thông qua tác phẩm, đặc biệt qua đoạn trích ở phần Đọc hiểu, nhà văn đã chia sẻ một cách chân thành với bạn đọc triết lí nhân sinh của mình:
+ “Triết lí nhân sinh”: quan niệm của nhà văn về con người, về cuộc đời, về sự vận động phát triển của xã hội. Trong tác phẩm văn học, triết lí nhân sinh có thể được thể hiện một cách trực tiếp qua lời của người kể chuyện hoặc gián tiếp qua bối cảnh, nhân vật, tình huống truyện, chi tiết, sự việc,... trong câu chuyện.
+ Triết lí nhân sinh trong đoạn trích từ Một trận bão cuối năm:
• Không được thể hiện trực tiếp qua lời của người kể chuyện mà gián tiếp hiện lên qua sự việc trở về của ba chiếc thuyền ma.
• Sự trở về trong thoáng chốc của ba chiếc thuyền ma trong thời khắc giao thừa không chỉ là một niềm an ủi đối với những gia đình có người thân đi biển bị tử nạn trong trận bão mà còn thể hiện quan niệm của Bùi Hiển về sự sống, về con người: Chết không phải là sự kết thúc, chết chỉ là sự bắt đầu cho một hành trình khác, hành trình tiếp theo của mỗi người để đi về chốn vô cùng - một nơi chốn có lẽ có nhiều bí mật, bí ẩn lí thú, đáng để khám phá. Phải vậy chăng mà bác Can Túc, khi cùng anh em trên ba con thuyền đắm biển trong trận bão, đã dếch miệng cười, nụ cười bí hiểm, tinh nghịch, vui vẻ?
- Triết lí nhân sinh thể hiện cái nhìn nhẹ nhàng về sự sống - còn, về lẽ sinh - tử. Hơn hết, đó là một quan niệm đầy tính nhân văn và cũng rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm về sự tồn tại của con người trong vũ trụ đầy bí mật.
Câu 7 [706739]: (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói sau đây:
Đừng so sánh mình với bất kì ai, nếu làm vậy tức là bạn đang tự xúc phạm bản thân mình. (Bill Gates)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói sau đây:
Đừng so sánh mình với bất kì ai, nếu làm vậy tức là bạn đang tự xúc phạm bản thân mình. (Bill Gates)
1. Mở bài (gián tiếp)
- Dẫn dắt vấn đề
- Nêu vấn đề
Ví dụ: Trong câu chuyện cổ tích Bạch Tuyết, mụ hoàng hậu độc ác ngày ngày đứng trước gương và hỏi:
“Gương thần ngự ở trên tường,
Thế gian ai đẹp được dường như ta?”
Thói quen luôn đặt mình lên bàn cân với người khác đã khiến mụ hoàng hậu dần trở nên ganh ghét, ích kỉ và cuối cùng tự đẩy mình vào bi kịch. Câu chuyện tưởng như đơn giản ấy lại gửi gắm một bài học sâu sắc về cách con người nhận thức và đánh giá giá trị của chính mình. Trong xã hội hiện đại, khi thành công của người khác dễ dàng được nhìn thấy qua nhiều phương tiện, việc so sánh bản thân với người khác lại càng trở nên phổ biến hơn. Vì thế, lời nhắn nhủ của Bill Gates: “Đừng so sánh mình với bất kì ai, nếu làm vậy tức là bạn đang tự xúc phạm bản thân mình” đã trở thành một thông điệp có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi người.
2. Thân bài
- Giải thích ngắn gọn câu nói:
+ Vế 1: Khuyên mỗi người không nên đặt bản thân mình lên bàn cân với người khác về mọi mặt.
+ Vế 2: Khi so sánh mình với người khác, đặc biệt là theo hướng thua kém, bạn dễ coi thường chính mình, cảm thấy tự ti hoặc thất vọng về bản thân.
→ Câu nói của Bill Gates là lời khuyên con người hãy yêu thương bản thân, trân trọng giá trị cá nhân.
- Bàn luận về câu nói của Bill Gates:
+ Bài học mà Bill Gates đề cập rất xác đáng, bởi:
• Mỗi người là một bông hoa trong vườn hoa cuộc sống. Có người lựa chọn trở thành đóa hoa hướng dương rực rỡ, có người mong muốn sống như một đóa hồng kiêu sa, diễm lệ... Không bông hoa nào là giống nhau. Con người cũng vậy, không ai giống ai hoàn toàn. Sự khác biệt chính là thứ tạo nên vẻ đẹp và sự đa dạng cho xã hội.
• "Nhân vô thập toàn", không ai là hoàn hảo. Mỗi cá nhân đều có những điểm mạnh và khiếm khuyết riêng; không nên vì người khác có điểm mạnh này/hơn mình ở lĩnh vực nào đó mà buồn bã, chán nản, tuyệt vọng. So sánh khập khiễng chỉ dẫn đến sự đố kỵ độc hại.
• Khi bạn yêu mình đủ, thế giới cũng yêu bạn. Sự tự tin và thái độ trân trọng chính mình tạo ra năng lượng tích cực, khiến mọi người xung quanh cũng nhìn nhận và tôn trọng giá trị của bạn.
+ Giá trị bài học:
• Trân trọng, yêu thương bản thân giúp con người có động lực để phát triển bản thân theo lộ trình riêng; tránh những cảm xúc tiêu cực như mặc cảm, ghen tị.
• Yêu bản thân là tiền đề, cơ sở cho những tình cảm lớn lao, vĩ đại hơn. Chỉ khi biết quý trọng giá trị của mình, ta mới biết trân trọng sự khác biệt của người khác, từ đó nảy sinh tình yêu gia đình, thiên nhiên và quê hương đất nước.
• Cá nhân biết yêu bản thân sẽ lan tỏa tư duy tích cực đến cộng đồng, tạo nên một xã hội tràn ngập tình yêu, sự thấu hiểu và giảm bớt những áp lực vô hình từ sự cạnh tranh tiêu cực.
- Mở rộng, nâng cao:
+ So sánh bản thân với người khác không phải để trách cứ, tuyệt vọng về bản thân mà để học hỏi, lấy đó làm tấm gương động lực để phát triển bản thân. Mục tiêu cuối cùng không phải là trở thành "bản sao" của một ai đó giỏi hơn, mà là trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình ngày hôm qua.
+ Cũng đừng chê bai, khinh thường người khác khi họ kém hơn mình ở một phương diện nào đó.
3. Kết bài
Rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Hành trình sống của mỗi người là khác nhau. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, không thỏa đáng.
- Việc con người cần làm là cố gắng, nỗ lực hết mình trên hành trình đó.
- Dẫn dắt vấn đề
- Nêu vấn đề
Ví dụ: Trong câu chuyện cổ tích Bạch Tuyết, mụ hoàng hậu độc ác ngày ngày đứng trước gương và hỏi:
“Gương thần ngự ở trên tường,
Thế gian ai đẹp được dường như ta?”
Thói quen luôn đặt mình lên bàn cân với người khác đã khiến mụ hoàng hậu dần trở nên ganh ghét, ích kỉ và cuối cùng tự đẩy mình vào bi kịch. Câu chuyện tưởng như đơn giản ấy lại gửi gắm một bài học sâu sắc về cách con người nhận thức và đánh giá giá trị của chính mình. Trong xã hội hiện đại, khi thành công của người khác dễ dàng được nhìn thấy qua nhiều phương tiện, việc so sánh bản thân với người khác lại càng trở nên phổ biến hơn. Vì thế, lời nhắn nhủ của Bill Gates: “Đừng so sánh mình với bất kì ai, nếu làm vậy tức là bạn đang tự xúc phạm bản thân mình” đã trở thành một thông điệp có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi người.
2. Thân bài
- Giải thích ngắn gọn câu nói:
+ Vế 1: Khuyên mỗi người không nên đặt bản thân mình lên bàn cân với người khác về mọi mặt.
+ Vế 2: Khi so sánh mình với người khác, đặc biệt là theo hướng thua kém, bạn dễ coi thường chính mình, cảm thấy tự ti hoặc thất vọng về bản thân.
→ Câu nói của Bill Gates là lời khuyên con người hãy yêu thương bản thân, trân trọng giá trị cá nhân.
- Bàn luận về câu nói của Bill Gates:
+ Bài học mà Bill Gates đề cập rất xác đáng, bởi:
• Mỗi người là một bông hoa trong vườn hoa cuộc sống. Có người lựa chọn trở thành đóa hoa hướng dương rực rỡ, có người mong muốn sống như một đóa hồng kiêu sa, diễm lệ... Không bông hoa nào là giống nhau. Con người cũng vậy, không ai giống ai hoàn toàn. Sự khác biệt chính là thứ tạo nên vẻ đẹp và sự đa dạng cho xã hội.
• "Nhân vô thập toàn", không ai là hoàn hảo. Mỗi cá nhân đều có những điểm mạnh và khiếm khuyết riêng; không nên vì người khác có điểm mạnh này/hơn mình ở lĩnh vực nào đó mà buồn bã, chán nản, tuyệt vọng. So sánh khập khiễng chỉ dẫn đến sự đố kỵ độc hại.
• Khi bạn yêu mình đủ, thế giới cũng yêu bạn. Sự tự tin và thái độ trân trọng chính mình tạo ra năng lượng tích cực, khiến mọi người xung quanh cũng nhìn nhận và tôn trọng giá trị của bạn.
+ Giá trị bài học:
• Trân trọng, yêu thương bản thân giúp con người có động lực để phát triển bản thân theo lộ trình riêng; tránh những cảm xúc tiêu cực như mặc cảm, ghen tị.
• Yêu bản thân là tiền đề, cơ sở cho những tình cảm lớn lao, vĩ đại hơn. Chỉ khi biết quý trọng giá trị của mình, ta mới biết trân trọng sự khác biệt của người khác, từ đó nảy sinh tình yêu gia đình, thiên nhiên và quê hương đất nước.
• Cá nhân biết yêu bản thân sẽ lan tỏa tư duy tích cực đến cộng đồng, tạo nên một xã hội tràn ngập tình yêu, sự thấu hiểu và giảm bớt những áp lực vô hình từ sự cạnh tranh tiêu cực.
- Mở rộng, nâng cao:
+ So sánh bản thân với người khác không phải để trách cứ, tuyệt vọng về bản thân mà để học hỏi, lấy đó làm tấm gương động lực để phát triển bản thân. Mục tiêu cuối cùng không phải là trở thành "bản sao" của một ai đó giỏi hơn, mà là trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình ngày hôm qua.
+ Cũng đừng chê bai, khinh thường người khác khi họ kém hơn mình ở một phương diện nào đó.
3. Kết bài
Rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Hành trình sống của mỗi người là khác nhau. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, không thỏa đáng.
- Việc con người cần làm là cố gắng, nỗ lực hết mình trên hành trình đó.