I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Gần đây, một số bảo tàng đã đưa ra những giải pháp tích hợp, ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa trải nghiệm của người tham quan. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 đã triển khai thử nghiệm dự án “Bảo tàng tương tác thông minh 3D/360” phục vụ khách tham quan từ xa. Năm 2022, đưa vào thử nghiệm mô hình Robot Sanbot ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) với các tính năng như trình chiếu hình ảnh, video giới thiệu về bảo tàng, hiện vật, các phòng trưng bày... để hướng dẫn khách tham quan. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã nghiên cứu và cho ra mắt hàng loạt chuyên đề trưng bày trực tuyến 3D. Trong đó, nổi bật là Bảo tàng ảo 3D với chuyên đề “Bảo vật quốc gia”, tích hợp trên website của bảo tàng. Du khách tham quan được lựa chọn để tìm hiểu, tương tác cùng 20 bảo vật quốc gia, được chiêm ngưỡng đa chiều, chi tiết từng hiện vật trưng bày. Những thông tin quan trọng được đánh số ngay trên mô hình 3D. Đặc biệt, thông tin về di sản được phân loại theo từng cấp độ từ cơ bản đến chuyên sâu nhằm đáp ứng linh hoạt với nhu cầu tìm hiểu của công chúng.

Tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ, máy Hologram đã được tích hợp và thử nghiệm trong không gian trưng bày. Trong đó, hình ảnh hiện vật và các nhân vật lịch sử được thể hiện 3D, kết hợp với phần mềm tương tác và công nghệ thực tế ảo (VR) giúp khách tham quan có thể cảm nhận hiện vật như không gian thực với nhiều góc độ khác nhau.
Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh cũng tái hiện 5 nhà tù lớn ở miền Nam Việt Nam thời kì kháng chiến tại một container mô phỏng đặt ngoài trời. Bảo tàng ứng dụng các công nghệ 3D, kết hợp cùng với công nghệ âm thanh, ánh sáng, nhiệt độ,... để thể hiện rõ tính chân thật và khốc liệt của nhà tù xưa.
Đến nay đã có khoảng 200 bảo tàng tại Việt Nam đang dần chuyển sang số hóa. Không chỉ các bảo tàng Trung ương mà các bảo tàng của tỉnh và tư nhân cũng đã thay đổi tư duy về tầm quan trọng của số hóa; ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong việc tối ưu trải nghiệm người tham quan, từ đó cung cấp những kiến thức về di sản văn hóa cho khách tham quan trong nước và quốc tế.”
“Gần đây, một số bảo tàng đã đưa ra những giải pháp tích hợp, ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa trải nghiệm của người tham quan. Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 đã triển khai thử nghiệm dự án “Bảo tàng tương tác thông minh 3D/360” phục vụ khách tham quan từ xa. Năm 2022, đưa vào thử nghiệm mô hình Robot Sanbot ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) với các tính năng như trình chiếu hình ảnh, video giới thiệu về bảo tàng, hiện vật, các phòng trưng bày... để hướng dẫn khách tham quan. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã nghiên cứu và cho ra mắt hàng loạt chuyên đề trưng bày trực tuyến 3D. Trong đó, nổi bật là Bảo tàng ảo 3D với chuyên đề “Bảo vật quốc gia”, tích hợp trên website của bảo tàng. Du khách tham quan được lựa chọn để tìm hiểu, tương tác cùng 20 bảo vật quốc gia, được chiêm ngưỡng đa chiều, chi tiết từng hiện vật trưng bày. Những thông tin quan trọng được đánh số ngay trên mô hình 3D. Đặc biệt, thông tin về di sản được phân loại theo từng cấp độ từ cơ bản đến chuyên sâu nhằm đáp ứng linh hoạt với nhu cầu tìm hiểu của công chúng.

Hình ảnh chuyên đề trưng bày trực tuyến 3D của Bảo tàng lịch sử Việt Nam
Một số bảo tàng khác tại Việt Nam cũng đã tạo ra các tour du lịch 3D trên website, tổ chức các buổi trình diễn trực tuyến và cung cấp thuyết minh bằng âm thanh cho du khách. Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ đã và đang số hóa các bộ sưu tập để tiếp cận được nhiều đối tượng hơn; từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện vật và các chương trình tương tác với khách du lịch trong và ngoài nước. Tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ, máy Hologram đã được tích hợp và thử nghiệm trong không gian trưng bày. Trong đó, hình ảnh hiện vật và các nhân vật lịch sử được thể hiện 3D, kết hợp với phần mềm tương tác và công nghệ thực tế ảo (VR) giúp khách tham quan có thể cảm nhận hiện vật như không gian thực với nhiều góc độ khác nhau.
Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh cũng tái hiện 5 nhà tù lớn ở miền Nam Việt Nam thời kì kháng chiến tại một container mô phỏng đặt ngoài trời. Bảo tàng ứng dụng các công nghệ 3D, kết hợp cùng với công nghệ âm thanh, ánh sáng, nhiệt độ,... để thể hiện rõ tính chân thật và khốc liệt của nhà tù xưa.
Đến nay đã có khoảng 200 bảo tàng tại Việt Nam đang dần chuyển sang số hóa. Không chỉ các bảo tàng Trung ương mà các bảo tàng của tỉnh và tư nhân cũng đã thay đổi tư duy về tầm quan trọng của số hóa; ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong việc tối ưu trải nghiệm người tham quan, từ đó cung cấp những kiến thức về di sản văn hóa cho khách tham quan trong nước và quốc tế.”
(Trích Xu hướng truyền thông của các bảo tàng trên thế giới và những gợi mở đối với Việt Nam - Vũ Tuấn Anh, theo tuyengiao.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [704846]: Đoạn trích viết về vấn đề gì?
Đoạn trích viết về việc ứng dụng công nghệ kĩ thuật số ở một số bảo tàng.
Câu 2 [704847]: Theo đoạn trích, đâu là bằng chứng để người viết chứng minh một số bảo tàng tại Việt Nam đã đưa ra những giải pháp tích hợp, ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa trải nghiệm của người tham quan?
Để minh chứng cho thực tế một số bảo tàng tại Việt Nam đã đưa ra những giải pháp tích hợp, ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu hóa trải nghiệm của người tham quan, đoạn trích đã nêu các bằng chứng:
- Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh triển khai thử nghiệm dự án “Bảo tàng tương tác thông minh 3D/360” phục vụ khách tham quan từ xa; thử nghiệm mô hình Robot Sanbot ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
- Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho ra mắt hàng loạt chuyên đề trưng bày trực tuyến 3D, trong đó, nổi bật là Bảo tàng ảo 3D với chuyên đề “Bảo vật quốc gia”, tích hợp trên website của bảo tàng.
- Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ cũng đang số hóa từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện vật và các chương trình tương tác với khách du lịch.
- Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ tích hợp và thử nghiệm máy Hologram.
- Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tái hiện 5 nhà tù lớn ở miền Nam Việt Nam thời kì kháng chiến tại một container mô phỏng đặt ngoài trời.
- Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh triển khai thử nghiệm dự án “Bảo tàng tương tác thông minh 3D/360” phục vụ khách tham quan từ xa; thử nghiệm mô hình Robot Sanbot ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
- Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho ra mắt hàng loạt chuyên đề trưng bày trực tuyến 3D, trong đó, nổi bật là Bảo tàng ảo 3D với chuyên đề “Bảo vật quốc gia”, tích hợp trên website của bảo tàng.
- Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ cũng đang số hóa từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện vật và các chương trình tương tác với khách du lịch.
- Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ tích hợp và thử nghiệm máy Hologram.
- Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tái hiện 5 nhà tù lớn ở miền Nam Việt Nam thời kì kháng chiến tại một container mô phỏng đặt ngoài trời.
Câu 3 [704848]: Hình ảnh minh hoạ được đưa vào đoạn trích có ý nghĩa gì?
Hình ảnh minh hoạ được đưa vào đoạn trích là hình ảnh chuyên đề trưng bày trực tuyến 3D của Bảo tàng lịch sử Việt Nam. Việc đưa vào đoạn trích/ văn bản hình ảnh này có ý nghĩa:
- Minh chứng (bằng hình ảnh) cho vấn đề đang được giới thiệu (việc ứng dụng công nghệ kĩ thuật số ở các bảo tàng hiện nay).
- Giúp người đọc có hình ảnh trực quan, từ đó hình dung phần nào về việc ứng dụng công nghệ kĩ thuật số ở một số bảo tàng hiện nay.
- Minh chứng (bằng hình ảnh) cho vấn đề đang được giới thiệu (việc ứng dụng công nghệ kĩ thuật số ở các bảo tàng hiện nay).
- Giúp người đọc có hình ảnh trực quan, từ đó hình dung phần nào về việc ứng dụng công nghệ kĩ thuật số ở một số bảo tàng hiện nay.
Câu 4 [704849]: Không chỉ các bảo tàng Trung ương mà các bảo tàng của tỉnh và tư nhân cũng đã thay đổi tư duy về tầm quan trọng của số hóa; ứng dụng công nghệ kĩ thuật số trong việc tối ưu trải nghiệm người tham quan, từ đó cung cấp những kiến thức về di sản văn hóa cho khách tham quan trong nước và quốc tế.
Chi tiết trên giúp người đọc có thêm hiểu biết nào về các bảo tàng ngày nay?
Chi tiết trên giúp người đọc có thêm hiểu biết nào về các bảo tàng ngày nay?
Không chỉ các bảo tàng Trung ương mà các bảo tàng của tỉnh và tư nhân cũng đã thay đổi tư duy về tầm quan trọng của số hóa; ứng dụng công nghệ kĩ thuật số trong việc tối ưu trải nghiệm người tham quan, từ đó cung cấp những kiến thức về di sản văn hóa cho khách tham quan trong nước và quốc tế.
Chi tiết trên:
- Phản ánh tư duy nhạy bén, linh hoạt cũng như nỗ lực không ngừng của các bảo tàng trong việc ứng dụng thành tựu kĩ thuật số nhằm tối ưu hoá trải nghiệm của khách tham quan.
- Làm thay đổi nhận thức về bảo tàng khi không ít người lâu nay vẫn mặc định cho rằng bảo tàng là nơi lưu giữ những hiện vật cổ, những bằng chứng của những thời kì, giai đoạn,... lịch sử quan trọng; theo đó, nhắc đến bảo tàng là nhắc đến không gian xưa cổ. Việc ứng dụng thành tựu kĩ thuật số ở các bảo tàng cho thấy sự tương tác, tương trợ giữa truyền thống và hiện đại, quá khứ và thực tại,...
Chi tiết trên:
- Phản ánh tư duy nhạy bén, linh hoạt cũng như nỗ lực không ngừng của các bảo tàng trong việc ứng dụng thành tựu kĩ thuật số nhằm tối ưu hoá trải nghiệm của khách tham quan.
- Làm thay đổi nhận thức về bảo tàng khi không ít người lâu nay vẫn mặc định cho rằng bảo tàng là nơi lưu giữ những hiện vật cổ, những bằng chứng của những thời kì, giai đoạn,... lịch sử quan trọng; theo đó, nhắc đến bảo tàng là nhắc đến không gian xưa cổ. Việc ứng dụng thành tựu kĩ thuật số ở các bảo tàng cho thấy sự tương tác, tương trợ giữa truyền thống và hiện đại, quá khứ và thực tại,...
Câu 5 [704850]: Anh/ Chị có đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng không? Vì sao?
Anh/Chị có đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng không? Vì sao?
Thí sinh bày tỏ quan điểm đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng song cần nêu rõ lí do. Chẳng hạn:
- Tôi đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng vì công nghệ này góp phần mang lại nhiều trải nghiệm hơn cho người tham quan, như: tham quan tại chỗ qua các tour du lịch 3D trên website; có cảm nhận rõ hơn về hiện vật ở trong bối cảnh thực tế ảo;...
Hoặc:
- Tôi không đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng vì dù hiện đại, tiện lợi và mang lại nhiều trải nghiệm thú vị bao nhiêu đi chăng nữa thì công nghệ này cũng không thể thay thế những cảm nhận trực quan của khách tham quan khi được trực tiếp trông nhìn, tiếp xúc với hiện vật trong các bảo tàng.
Hoặc:
- Tôi vừa đồng tình vừa không đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng.
- Thí sinh kết hợp lí do ở hai gợi ý trên để lí giải.
Thí sinh bày tỏ quan điểm đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng song cần nêu rõ lí do. Chẳng hạn:
- Tôi đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng vì công nghệ này góp phần mang lại nhiều trải nghiệm hơn cho người tham quan, như: tham quan tại chỗ qua các tour du lịch 3D trên website; có cảm nhận rõ hơn về hiện vật ở trong bối cảnh thực tế ảo;...
Hoặc:
- Tôi không đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng vì dù hiện đại, tiện lợi và mang lại nhiều trải nghiệm thú vị bao nhiêu đi chăng nữa thì công nghệ này cũng không thể thay thế những cảm nhận trực quan của khách tham quan khi được trực tiếp trông nhìn, tiếp xúc với hiện vật trong các bảo tàng.
Hoặc:
- Tôi vừa đồng tình vừa không đồng tình với việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo ở các bảo tàng.
- Thí sinh kết hợp lí do ở hai gợi ý trên để lí giải.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [704851]: (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về những tác động tích cực từ công nghệ hiện đại tới đời sống con người.
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về những tác động tích cực từ công nghệ hiện đại tới đời sống con người.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về những tác động tích cực từ công nghệ hiện đại tới đời sống con người có thể được triển khai theo hướng:
- Nói đến công nghệ hiện đại là nói đến công nghệ mới nhất, tiên tiên tiến nhất được sử dụng trong các lĩnh vực. Ở thời đại chúng ta, công nghệ hiện đại gắn liền với những thành tựu tuyệt vời từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu. Sự phát triển của một số công nghệ mang tính đột phá trong cuộc cách mạng này như công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ mạng 5G, công nghệ sinh học,... đã và đang tác động mạnh mẽ tới đời sống con người. Có thể nhận thấy ở đây nhiều tác động tích cực:
+ Đến đời sống vật chất: công nghệ hiện đại góp phần giải phóng sức lao động của con người (nhiều máy móc, rô-bốt có thể làm thay con người những công việc nặng nhọc, những công việc trong môi trường độc hại hoặc những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày như rửa bát, hút bụi,...); mang đến con người nhiều tiện ích, nâng cao chất lượng cuộc sống (các lĩnh vực y tế, giáo dục, giải trí,... đều được hưởng lợi từ sự phát triển của công nghệ hiện đại, chẳng hạn kĩ thuật in 3D được ứng dụng trong việc tạo nên các khớp xương trong lĩnh vực y học, việc khai thác tài liệu học tập từ kho học liệu số trong lĩnh vực giáo dục, kĩ thuật xử lí âm thanh trong âm nhạc,...); tạo nhiều cơ hội việc làm mới, đặc biệt là các công việc liên quan đến sự tương tác giữa con người và máy móc (như kĩ sư phần cứng thông minh, nhân viên vận hành và bảo trì hệ thống thị giác công nghiệp, kĩ sư mạch tích hợp, nhân viên tư vấn bán hàng trực tuyến, giảng viên trực tuyến,...);...
+ Đến đời sống tinh thần: kết nối giữa người với người không bị giới hạn bởi không gian, thời gian; mang đến cho con người những trải nghiệm mới mẻ, thú vị (đơn giản như đọc sách, xem phim, nghe nhạc, tham quan,... trực tuyến);...
- Đi liền với những tác động tích cực là nhiều hệ luỵ. Con người trong xã hội hiện đại cần biết khai thác các tác động tích cực và né tránh, hạn chế những tác động tiêu cực từ công nghệ hiện đại.
- Nói đến công nghệ hiện đại là nói đến công nghệ mới nhất, tiên tiên tiến nhất được sử dụng trong các lĩnh vực. Ở thời đại chúng ta, công nghệ hiện đại gắn liền với những thành tựu tuyệt vời từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu. Sự phát triển của một số công nghệ mang tính đột phá trong cuộc cách mạng này như công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ mạng 5G, công nghệ sinh học,... đã và đang tác động mạnh mẽ tới đời sống con người. Có thể nhận thấy ở đây nhiều tác động tích cực:
+ Đến đời sống vật chất: công nghệ hiện đại góp phần giải phóng sức lao động của con người (nhiều máy móc, rô-bốt có thể làm thay con người những công việc nặng nhọc, những công việc trong môi trường độc hại hoặc những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày như rửa bát, hút bụi,...); mang đến con người nhiều tiện ích, nâng cao chất lượng cuộc sống (các lĩnh vực y tế, giáo dục, giải trí,... đều được hưởng lợi từ sự phát triển của công nghệ hiện đại, chẳng hạn kĩ thuật in 3D được ứng dụng trong việc tạo nên các khớp xương trong lĩnh vực y học, việc khai thác tài liệu học tập từ kho học liệu số trong lĩnh vực giáo dục, kĩ thuật xử lí âm thanh trong âm nhạc,...); tạo nhiều cơ hội việc làm mới, đặc biệt là các công việc liên quan đến sự tương tác giữa con người và máy móc (như kĩ sư phần cứng thông minh, nhân viên vận hành và bảo trì hệ thống thị giác công nghiệp, kĩ sư mạch tích hợp, nhân viên tư vấn bán hàng trực tuyến, giảng viên trực tuyến,...);...
+ Đến đời sống tinh thần: kết nối giữa người với người không bị giới hạn bởi không gian, thời gian; mang đến cho con người những trải nghiệm mới mẻ, thú vị (đơn giản như đọc sách, xem phim, nghe nhạc, tham quan,... trực tuyến);...
- Đi liền với những tác động tích cực là nhiều hệ luỵ. Con người trong xã hội hiện đại cần biết khai thác các tác động tích cực và né tránh, hạn chế những tác động tiêu cực từ công nghệ hiện đại.
Câu 7 [1103096]: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Nhà chọc trời bóng đổ, sông oằn mình trôi như thể đã lâu rồi trời
với sông không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Những hàng cây lá đỏ trong gió lạnh chơi vơi, như thể đã lâu rồi
gió với cây không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Một cánh chim không tổ trên lớp lớp sóng người, như thể đã lâu rồi
người với chim không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Những mặt người khốn khổ chen chúc dưới mặt trời, như thể đã đến
thời người với người không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao lên cao
LÊN CAO LÊN CAO
(Trương Đăng Dung)
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Nhà chọc trời bóng đổ, sông oằn mình trôi như thể đã lâu rồi trời
với sông không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Những hàng cây lá đỏ trong gió lạnh chơi vơi, như thể đã lâu rồi
gió với cây không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Một cánh chim không tổ trên lớp lớp sóng người, như thể đã lâu rồi
người với chim không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?
Những mặt người khốn khổ chen chúc dưới mặt trời, như thể đã đến
thời người với người không muốn nhìn nhau nữa.
Lên cao lên cao lên cao
(Theo tapchisonghuong.com.vn)
Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ Lên cao lên cao (Trương Đăng Dung) có thể triển khai theo nhiều cách, song cần bảo đảm các ý:
*Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm:
- Tác giả Trương Đăng Dung:
+ Là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại.
+ Ông rất đa tài, thử sức ở nhiều lĩnh vực: dịch thuật, nghiên cứu khoa học, sáng tác.
- Bài thơ Lên cao lên cao:
+ Thể thơ tự do
+ NVTT: tôi
+ Chủ đề: Bài thơ là sự nhìn nhận của NVTT tôi về cuộc sống hiện đại với những hệ luỵ đáng sợ, từ đó gióng lên hồi chuông cảnh báo với con người.
*Phân tích bài thơ Lên cao lên cao:
- NVTT tôi lựa chọn điểm nhìn từ phía trên thành phố:
+ Điểm nhìn trên cao giúp người quan sát có thể trông nhìn mọi việc đang xảy ra phía dưới → giúp tôi nhận ra bản chất ẩn sau vẻ ngoài hào nhoáng của đô thị.
- Những điều mà tôi đã trông thấy:
+ Những điều mà tôi trông thấy là nguyên nhân và kết quả của cuộc sống với quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá tự phát, không theo quá trình phù hợp.
• Sự chia rẽ trong chính thế giới tự nhiên:
o nhà chọc trời: Đây là một hình ảnh quen thuộc, là gương mặt của một cuộc sống hiện đại, tiện nghi (nguyên nhân).
o sông oằn mình trôi: Sông vốn là thực thể của tự nhiên, đáng lẽ phải gắn liền với dòng chảy dịu dàng, mềm mại, gợi cảm giác hài hoà, dễ chịu. Vậy mà giờ đây, đã bị những toà nhà chọc trời che lấp, phải oằn mình trôi. Cụm từ oằn mình chỉ một trạng thái gắng gượng, chống chọi.
o Ở khổ thơ thứ hai, chúng ta tiếp tục trông thấy một cảnh tượng đau lòng mà bây lâu nay chúng ta không hề nhận ra: Những hàng cây lá đỏ trong gió lạnh chơi vơi.
Sắc đỏ gợi cảm nhận về sự tàn phai, héo úa, thiếu sức sống xuất hiện trong không gian gió lạnh chơi vơi khiến ta suy nghĩ sự sống tự nhiên liệu có đang mỏng manh, bị tổn thương bởi cuộc sống thị thành hay không?
→ Những hình ảnh đáng buồn trên khiến thiên nhiên vốn là một chỉnh thể thống nhất vậy mà hiện tại dường như lại trời với sông, gió với cây không muốn nhìn nhau nữa. Đây chính là một trong những hệ luỵ gây ra bởi cuộc sống hiện đại.
• Sự tách rời khỏi thế giới tự nhiên của con người:
o Hình ảnh cánh chim không tổ (quả), bay trên lớp lớp sóng người (nhân) thể hiện cảm nhận về sự lạc lõng, cô đơn, bơ vơ của thiên nhiên trong không gian đô thị.
o Và con người đang làm gì? Chúng ta đang sống chen chúc, lấn át thiên nhiên, muốn tồn tại độc lập, tách rời khỏi mẹ thiên nhiên.
→Mối quan hệ người – tự nhiên dần trở nên xa lạ, lạnh lẽo (người với chim không muốn nhìn nhau nữa).
• Sự phân rã trong chính thế giới của con người:
o Những mặt người khốn khổ chen chúc dưới mặt trời: gợi cuộc sống đông đúc, chật chội.
o Đáng lẽ, sống gần nhau như vậy, con người phải thấu hiểu, đồng cảm với nhau. Thế nhưng, tác giả tiếp tục cho ta thấy một thực trạng đáng buồn: Người với người không muốn nhìn nhau nữa.
→ Con người không chỉ tách rời thiên nhiên với thiên nhiên, bản thân mình với thiên nhiên, thậm chí còn trở nên xa lạ với chính đồng loại của mình.
<*> Liên hệ: Trong bối cảnh ấy, hai câu thơ của Tố Hữu:“Có gì đẹp trên đời hơn thế/ Người yêu người sống để yêu nhau” (Bài ca mùa xuân 1961) vang lên như một chuẩn mực nhân văn giản dị mà sâu xa. Đó không chỉ là lời ca ngợi tình yêu thương, mà còn là lời nhắc nhở: giá trị cao nhất của đời sống không nằm ở những gì vươn lên cao về vật chất, mà ở khả năng con người biết hướng về nhau, sống vì nhau. Khi tình yêu thương bị đánh mất, sự chia rẽ sẽ trở thành bi kịch lớn nhất của con người trong thời đại hiện đại.
Như vậy, hình ảnh mà tôi trông thấy là một cuộc sống đô thị không còn vẻ hào nhoáng, tươi đẹp như trong tưởng tưởng mà thực chất thật cô đơn, thật xấu xí. Tác giả qua đó cũng đưa ra lời cảnh tỉnh về những tác động tiêu cực đó.
+ Phép nhân hoá (trời với sông không muốn nhìn nhau nữa, gió với cây không muốn nhìn nhau nữa, người với chim không muốn nhìn nhau nữa) tô đậm, khắc sâu những tác động tiêu cực, cay đắng của thế giới thành thị.
- Câu hỏi tu từ “Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?” xuất hiện trở đi trở lại như một lời tự vấn của con người có lương tri, nhận thức về bản thân, về thời đại của chính mình. Trong cuộc sống, mấy ai có ý thức nhìn lại như nhân vật tôi trong bài thơ?
*Đánh giá chung:
- Bài thơ với thể thơ tự do, hình thức trình bày độc đáo, phép điệp cấu trúc, cùng những hình ảnh thực tế, sinh động là sự phơi bày bản chất của một thế giới giả tạo, đang làm tổn thương thiên nhiên. Qua đó, tác giả mong muốn chúng ta – những con người đang ở trong thế giới đó hãy thức tỉnh, hãy hành động nếu không cuộc sống sẽ càng tệ hại hơn.
*Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm:
- Tác giả Trương Đăng Dung:
+ Là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại.
+ Ông rất đa tài, thử sức ở nhiều lĩnh vực: dịch thuật, nghiên cứu khoa học, sáng tác.
- Bài thơ Lên cao lên cao:
+ Thể thơ tự do
+ NVTT: tôi
+ Chủ đề: Bài thơ là sự nhìn nhận của NVTT tôi về cuộc sống hiện đại với những hệ luỵ đáng sợ, từ đó gióng lên hồi chuông cảnh báo với con người.
*Phân tích bài thơ Lên cao lên cao:
- NVTT tôi lựa chọn điểm nhìn từ phía trên thành phố:
+ Điểm nhìn trên cao giúp người quan sát có thể trông nhìn mọi việc đang xảy ra phía dưới → giúp tôi nhận ra bản chất ẩn sau vẻ ngoài hào nhoáng của đô thị.
- Những điều mà tôi đã trông thấy:
+ Những điều mà tôi trông thấy là nguyên nhân và kết quả của cuộc sống với quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá tự phát, không theo quá trình phù hợp.
• Sự chia rẽ trong chính thế giới tự nhiên:
o nhà chọc trời: Đây là một hình ảnh quen thuộc, là gương mặt của một cuộc sống hiện đại, tiện nghi (nguyên nhân).
o sông oằn mình trôi: Sông vốn là thực thể của tự nhiên, đáng lẽ phải gắn liền với dòng chảy dịu dàng, mềm mại, gợi cảm giác hài hoà, dễ chịu. Vậy mà giờ đây, đã bị những toà nhà chọc trời che lấp, phải oằn mình trôi. Cụm từ oằn mình chỉ một trạng thái gắng gượng, chống chọi.
o Ở khổ thơ thứ hai, chúng ta tiếp tục trông thấy một cảnh tượng đau lòng mà bây lâu nay chúng ta không hề nhận ra: Những hàng cây lá đỏ trong gió lạnh chơi vơi.
Sắc đỏ gợi cảm nhận về sự tàn phai, héo úa, thiếu sức sống xuất hiện trong không gian gió lạnh chơi vơi khiến ta suy nghĩ sự sống tự nhiên liệu có đang mỏng manh, bị tổn thương bởi cuộc sống thị thành hay không?
→ Những hình ảnh đáng buồn trên khiến thiên nhiên vốn là một chỉnh thể thống nhất vậy mà hiện tại dường như lại trời với sông, gió với cây không muốn nhìn nhau nữa. Đây chính là một trong những hệ luỵ gây ra bởi cuộc sống hiện đại.
• Sự tách rời khỏi thế giới tự nhiên của con người:
o Hình ảnh cánh chim không tổ (quả), bay trên lớp lớp sóng người (nhân) thể hiện cảm nhận về sự lạc lõng, cô đơn, bơ vơ của thiên nhiên trong không gian đô thị.
o Và con người đang làm gì? Chúng ta đang sống chen chúc, lấn át thiên nhiên, muốn tồn tại độc lập, tách rời khỏi mẹ thiên nhiên.
→Mối quan hệ người – tự nhiên dần trở nên xa lạ, lạnh lẽo (người với chim không muốn nhìn nhau nữa).
• Sự phân rã trong chính thế giới của con người:
o Những mặt người khốn khổ chen chúc dưới mặt trời: gợi cuộc sống đông đúc, chật chội.
o Đáng lẽ, sống gần nhau như vậy, con người phải thấu hiểu, đồng cảm với nhau. Thế nhưng, tác giả tiếp tục cho ta thấy một thực trạng đáng buồn: Người với người không muốn nhìn nhau nữa.
→ Con người không chỉ tách rời thiên nhiên với thiên nhiên, bản thân mình với thiên nhiên, thậm chí còn trở nên xa lạ với chính đồng loại của mình.
<*> Liên hệ: Trong bối cảnh ấy, hai câu thơ của Tố Hữu:“Có gì đẹp trên đời hơn thế/ Người yêu người sống để yêu nhau” (Bài ca mùa xuân 1961) vang lên như một chuẩn mực nhân văn giản dị mà sâu xa. Đó không chỉ là lời ca ngợi tình yêu thương, mà còn là lời nhắc nhở: giá trị cao nhất của đời sống không nằm ở những gì vươn lên cao về vật chất, mà ở khả năng con người biết hướng về nhau, sống vì nhau. Khi tình yêu thương bị đánh mất, sự chia rẽ sẽ trở thành bi kịch lớn nhất của con người trong thời đại hiện đại.
Như vậy, hình ảnh mà tôi trông thấy là một cuộc sống đô thị không còn vẻ hào nhoáng, tươi đẹp như trong tưởng tưởng mà thực chất thật cô đơn, thật xấu xí. Tác giả qua đó cũng đưa ra lời cảnh tỉnh về những tác động tiêu cực đó.
+ Phép nhân hoá (trời với sông không muốn nhìn nhau nữa, gió với cây không muốn nhìn nhau nữa, người với chim không muốn nhìn nhau nữa) tô đậm, khắc sâu những tác động tiêu cực, cay đắng của thế giới thành thị.
- Câu hỏi tu từ “Lên cao lên cao, tôi nhìn thấy gì từ phía trên thành phố?” xuất hiện trở đi trở lại như một lời tự vấn của con người có lương tri, nhận thức về bản thân, về thời đại của chính mình. Trong cuộc sống, mấy ai có ý thức nhìn lại như nhân vật tôi trong bài thơ?
*Đánh giá chung:
- Bài thơ với thể thơ tự do, hình thức trình bày độc đáo, phép điệp cấu trúc, cùng những hình ảnh thực tế, sinh động là sự phơi bày bản chất của một thế giới giả tạo, đang làm tổn thương thiên nhiên. Qua đó, tác giả mong muốn chúng ta – những con người đang ở trong thế giới đó hãy thức tỉnh, hãy hành động nếu không cuộc sống sẽ càng tệ hại hơn.