I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Ở Quảng Ninh có nhiều trò chơi dân gian như nhảy sạp, đi cà kheo, cừ cáy, cừ pộc hay đánh đu... với sắc màu đa dạng của đồng bào dân tộc thiểu số, các trò chơi dân gian cũng mang đậm dấu ấn văn hóa các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu và Sán Chay. Độc đáo nhất có thể kể đến trò chơi đánh con quay. Trò chơi đánh con quay của đồng bào Tày, đồng bào Sán Chỉ không chỉ thể hiện sức mạnh của người đàn ông trong lao động sản xuất mà còn là ngày hội để bà con dân bản được giao lưu gặp gỡ cùng cầu chúc mọi điều tốt lành, sức khỏe, bình an và sung túc.
Khi xưa chưa có máy móc hỗ trợ, việc làm con quay rất vất vả và mất nhiều thời gian để chọn gỗ, xẻ nhỏ rồi gọt, giũa, mài nhẵn đều là dùng dao tỉa tót từng chút một. Gỗ làm con quay từ cây dẻ đá có chất gỗ cứng, dẻo và bền chắc. Tiện con quay phải tạo ra độ thăng bằng thì khi đánh, con quay mới đi xa và tạo thời gian quay lâu, bền trên tấm ván...
Ngoài ra bộ đánh quay còn có dây đánh quay dài từ 6 - 8m (làm bằng dây dù có độ bền, chắc và trơn, được nối với một đoạn păng (hay còn gọi là gậy păng) làm bằng trúc rừng hoặc cây tre mai hay còn gọi là tre gai. Mỗi con quay hoàn chỉnh sẽ có trọng lượng từ 3 - 4kg, đường kính từ 20 - 24cm, độ dày 6cm.
Luật chơi đánh quay rất đơn giản, người chơi thường quấn theo chiều tay thuận của mình để có thể đánh con quay mạnh và lật đổ đối phương. Mỗi lần con quay được văng ra thể hiện sức mạnh của người đàn ông trong bản. Nếu con quay của đội nào quay càng lâu trên miếng ván làm bằng gỗ rừng ít nhất từ 10 - 15 phút thì đội đó sẽ là người chiến thắng.
Không chỉ tổ chức ở các lễ hội, trò chơi dân gian còn diễn ra ở nhiều nhà văn hoá, khu bảo tồn văn hoá cộng đồng các dân tộc thiểu số. Nhiều nhà văn hoá xã được đầu tư xây dựng quy mô như: Khu bảo tồn văn hoá người Dao ở xã Bằng Cả (Thành phố Hạ Long), Nhà văn hoá người Sán Chỉ xã Đại Dực, khu bảo tồn văn hoá dân tộc Tày ở thôn Đồng Đình, xã Phong Dụ (huyện Tiên Yên), Nhà văn hoá xã Lục Hồn (huyện Bình Liêu), Nhà văn hoá dân tộc Sán Dìu, xã Bình Dân (huyện Vân Đồn).
Trò chơi dân gian của các dân tộc Quảng Ninh có giá trị lịch sử văn hóa được lưu truyền qua các thế hệ đã có nhiều biến thể để phù hợp hơn với đời sống xã hội. Đây là một phần không thể thiếu trong kí ức tuổi thơ của rất nhiều thế hệ tạo sợi dây gắn kết giữa các thế hệ trong cộng đồng làng bản. Trước bối cảnh bùng nổ nhiều loại hình giải trí hiện đại, trò chơi dân gian của đồng bào các dân tộc Quảng Ninh vẫn luôn có sức hấp dẫn riêng, là nét đẹp văn hóa trong các lễ hội truyền thống, nhằm góp phần nâng cao thể chất, giáo dục ý thức gìn giữ bản sắc, truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ.”
(Trích Trò chơi dân gian trong các lễ hội văn hoá vùng cao - Huỳnh Đăng, theo baoquangninh.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [704867]: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là gì? Chỉ ra bố cục của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là thuyết minh.
- Bố cục của đoạn trích:
+ Phần thứ nhất (từ đầu đến tốt lành, sức khỏe, bình an và sung túc): giới thiệu các trò chơi dân gian ở Quảng Ninh.
+ Phần thứ hai (tiếp đến người chiến thắng): giới thiệu trò chơi đánh quay.
+ Phần thứ ba (tiếp đến xã Bình Dân (huyện Vân Đồn)): mức độ phổ biến của các trò chơi dân gian ở tỉnh Quảng Ninh.
+ Phần thứ tư (còn lại): khẳng định ý nghĩa, giá trị của các trò chơi dân gian của các dân tộc tỉnh Quảng Ninh trong xã hội hiện đại.
Câu 2 [704868]: Không chỉ tổ chức ở các lễ hội, trò chơi dân gian còn diễn ra ở nhiều nhà văn hoá, khu bảo tồn văn hoá cộng đồng các dân tộc thiểu số. Nhiều nhà văn hoá xã được đầu tư xây dựng quy mô như: Khu bảo tồn văn hoá người Dao ở xã Bằng Cả (Thành phố Hạ Long), Nhà văn hoá người Sán Chỉ xã Đại Dực, khu bảo tồn văn hoá dân tộc Tày ở thôn Đồng Đình, xã Phong Dụ (huyện Tiên Yên), Nhà văn hoá xã Lục Hồn (huyện Bình Liêu), Nhà văn hoá dân tộc Sán Dìu, xã Bình Dân (huyện Vân Đồn).
Chỉ ra bằng chứng được trình bày trong đoạn văn trên.
Bằng chứng trong đoạn văn: Khu bảo tồn văn hoá người Dao ở xã Bằng Cả (Thành phố Hạ Long), Nhà văn hoá người Sán Chỉ xã Đại Dực, khu bảo tồn văn hoá dân tộc Tày ở thôn Đồng Đình, xã Phong Dụ (huyện Tiên Yên), Nhà văn hoá xã Lục Hồn (huyện Bình Liêu), Nhà văn hoá dân tộc Sán Dìu, xã Bình Dân (huyện Vân Đồn).
(Bằng chứng minh chứng cho lí lẽ nhiều nhà văn hoá, khu bảo tồn văn hoá cộng đồng các dân tộc thiểu số được xây dựng quy mô.)
Câu 3 [704869]: Phân tích tác dụng của phép liệt kê được sử dụng trong câu văn: Ở Quảng Ninh có nhiều trò chơi dân gian như nhảy sạp, đi cà kheo, cừ cáy, cừ pộc hay đánh đu... với sắc màu đa dạng của đồng bào dân tộc thiểu số, các trò chơi dân gian cũng mang đậm dấu ấn văn hóa các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu và Sán Chay.
Ở Quảng Ninh có nhiều trò chơi dân gian như nhảy sạp, đi cà kheo, cừ cáy, cừ pộc hay đánh đu... với sắc màu đa dạng của đồng bào dân tộc thiểu số, các trò chơi dân gian cũng mang đậm dấu ấn văn hóa các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu và Sán Chay.
- Liệt kê: nhảy sạp, đi cà kheo, cừ cáy, cừ pộc hay đánh đu...; các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu và Sán Chay.
- Tác dụng của phép liệt kê:
+ Góp phần tạo nên vẻ sinh động, hấp dẫn cho đoạn trích.
+ Minh hoạ, làm rõ cho các trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh.
+ Khẳng định sự phong phú, đa dạng của các trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh.
+ Thể hiện hiểu biết của người viết trong việc tìm hiểu về đối tượng thuyết minh (các trò chơi dân gian gắn liền với đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh).
Câu 4 [704870]: Chỉ ra nội dung chính của đoạn văn cuối cùng trong đoạn trích.
Nội dung chính của đoạn văn cuối cùng trong đoạn trích: Khẳng định giá trị, sức sống của các trò chơi dân gian của các dân tộc ở Quảng Ninh.
Câu 5 [704871]: Anh/ Chị có đồng tình với ý kiến cho rằng sự bùng nổ nhiều loại hình giải trí hiện đại là trở lực của việc bảo tồn các trò chơi dân gian không? Vì sao?
Thí sinh bày tỏ quan điểm đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần với ý kiến cho rằng sự bùng nổ nhiều loại hình giải trí hiện đại là trở lực của việc bảo tồn các trò chơi dân gian; đồng thời lí giải hợp lí, thuyết phục nguyên do. Chẳng hạn:
- Tôi đồng tình với ý kiến, vì thực tế cho thấy các loại hình giải trí hiện đại như trò chơi điện tử, âm nhạc hiện đại (rock, rap,...), mạng xã hội,... có sức hấp dẫn đặc biệt đối với nhiều người, khiến họ lãng quên hay mất kết nối với các trò chơi dân gian.
Hoặc:
- Tôi không đồng tình với ý kiến, vì các trò chơi dân gian vẫn có giá trị, sức hấp dẫn đối với những con người hiện nay; thêm nữa, các địa phương đã, đang nỗ lực không ngừng để khôi phục các trò chơi dân gian nhằm giữ gìn những nét đẹp của văn hoá dân gian trong đời sống hiện đại.
Hoặc:
- Tôi vừa đồng tình vừa không đồng tình với ý kiến trên.
- Thí sinh kết hợp lí do ở hai gợi ý trên để trả lời.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [704872]: (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về sự cần thiết của việc bảo tồn các giá trị văn hoá dân gian trong xã hội hiện đại.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ sự cần thiết của việc bảo tồn các giá trị văn hoá dân gian trong xã hội hiện đại có thể được triển khai theo hướng:
- Văn hóa dân gian là văn hóa gốc của dân tộc, sinh ra cùng với đời sống lao động của quần chúng nhân dân. Trải qua hàng ngàn năm, ông cha ta đã để lại một kho tàng đồ sộ các giá trị văn hóa nghệ thuật phong phú như ca dao, hò vè, các tín ngưỡng dân gian, các lễ hội, các loại hình diễn xướng như múa rối, ca trù, trống quân, hát xẩm,... và rất nhiều nghề thủ công truyền thống.
- Cần bảo tồn các giá trị văn hoá dân gian trong xã hội hiện đại:
+ Vì văn hoá dân gian là một phần hồn cốt của dân tộc, phản chiếu diện mạo tinh thần của dân tộc; nhiều giá trị văn hoá dân gian (như trang phục, kiến trúc, lối sống, văn hoá ứng xử, ngôn ngữ,...) đang bị mai một, thậm chí biến mất hoặc/và có nguy cơ bị thương mại hoá hoặc bị cạnh bởi sự lên ngôi của các loại hình giải trí hiện đại (VD: nhiều trò chơi dân gian, nhiều loại hình diễn xướng, nhiều nghề thủ công,... trước đây giờ không được lưu truyền);...
+ Để góp phần giữ gìn gốc gác, hồn cốt dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế (hoà nhập nhưng không hoà tan); để góp phần kết nối đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ xưa - nay;...
Câu 7 [1103097]: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình tượng Hà Nội trong bài thơ sau:
HÀ NỘI MỘT THỜI
(Trương Nam Hương)
Một thời Hà Nội lung liêng
Sương cong mái phố, khói nghiêng mặt hồ
Một thời Hà Nội mộng mơ
Đắm mê hoa sữa đến giờ chưa tan
Một thời Hà Nội hiên ngang
Giữa bom rơi. Hứng quả bàng chín rơi
Một thời Hà Nội cùng tôi
Mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường
Một thời Hà Nội thảo thương
Sẻ chia lát đậu, thìa đường, mớ rau...
Một thời Hà Nội buốt đau
Khâm Thiên trắng xót mái đầu khăn tang
Một thời Hà Nội lo toan
Gạo ngô thì thiếu, hoa xoan lại thừa
Một thời. Ôi, một - thời - xưa
Áo phong phanh gió bốn mùa buồn vui


Tạ ơn Hà Nội trọn đời
Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo...
(Theo ct.qdnd.vn)
Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình ảnh Hà Nội trong bài thơ Hà Nội một thời (Trương Nam Hương) có thể được triển khai theo hướng:
* Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm
- Trương Nam Hương:
+ Vị trí: Một trong những gương mặt ấn tượng của thơ ca Việt Nam đương đại.
+ Đặc điểm sáng tác: Thơ Trương Nam Hương man mác nỗi tha hương và tình yêu dành cho những người thân yêu ruột thịt. Diễn đạt tình cảm một cách trong sáng, chân thành, tự nhiên... là cách trau chuốt của thơ anh.
- Hà Nội một thời:
+ Đề tài: Hà Nội - đề tài quen thuộc, xuất hiện nhiều trong văn chương nói chung và thơ ca nói riêng (thơ Nguyễn Đình Thi, Vân Long,...; kí của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Đỗ Phấn, Nguyễn Trương Quý,...; truyện ngắn của Bảo Ninh, Đỗ Bích Thuý, Phong Điệp,...)
+ Chủ đề: Vẻ đẹp của Hà Nội trong quá khứ - những ngày tháng đất nước đánh Mỹ.
+ Nhan đề Hà Nội một thời gợi kí ức, cảm giác hoài niệm.
+ Nhân vật trữ tình: tác giả - người từng có tuổi thơ gắn bó với Hà Nội.
+ Mạch cảm xúc đi từ hồi tưởng, hoài niệm rưng rưng đến biết ơn, trân trọng.
+ Cảm hứng chủ đạo: yêu thương, biết ơn một Hà Nội luôn bao dung, rộng lượng với con người.
+ Thể thơ: lục bát - thể thơ truyền thống với âm điệu dìu dặt - rất phù hợp để diễn tả, bộc bạch tình cảm yêu mến, nhớ thương, hoài niệm.
+ Bố cục: hai phần
• Phần thứ nhất (đoạn thứ nhất): Hồi ức về Hà Nội một thời - thời xa xưa.
• Phần thứ hai (còn lại): Tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình dành cho Hà Nội.
* Phân tích hình ảnh Hà Nội trong bài thơ Hà Nội một thời (Trương Nam Hương)
- Hà Nội trong quá khứ gắn liền với tuổi thơ đi học của nhân vật trữ tình trong những năm tháng đất nước có chiến tranh:
+ Điệp khúc Hà Nội một thời trở đi trở lại suốt dọc bài thơ vừa gắn hình tượng Hà Nội với quá khứ vừa tô đậm ấn tượng về những trải nghiệm với Hà Nội nay đã trở thành kí ức, hoài của nhân vật trữ tình.
+ Hai dòng thơ Một thời Hà Nội cùng tôi/ Mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường xác lập hình tượng nhân vật trữ tình “tôi” trong quá khứ và hiện tại. “Tôi” trong quá khứ là cậu học trò nhỏ; “tôi” trong hiện tại hẳn là người đã trưởng thành, giờ ngoái nhìn quá khứ, hồi tưởng, lắng nhận vẻ đẹp của Hà Nội xưa...
- Qua lăng kính của nhân vật trữ tình ở thời điểm hiện tại, Hà Nội trong quá khứ hiện lên như một sinh thể có đời sống, có tâm hồn, nhân cách:
+ Một Hà Nội với bao cảnh sắc, cảnh trí đặc trưng: vừa huyền ảo, cổ kính (Hà Nội lung liêng, sương cong mái phố, khói nghiêng mặt hồ) vừa lãng mạn, nên thơ (Hà Nội mộng mơ, hoa sữa nồng nàn từng con phố).
+ Một Hà Nội đau thương, buốt đau (Khâm Thiên trắng xót mái đầu khăn tang - Cuối tháng 12 năm 1972, với dã tâm đưa Hà Nội trở về thời kì đồ đá, đế quốc Mỹ rải bom B52 san phẳng phố Khâm Thiên.) mà oai hùng, hiên ngang (Giữa bom rơi. Hứng quả bàng chín rơi) trong những ngày đánh Mĩ.
+ Một Hà Nội với những lo toan đời thường trong cuộc sống còn nhiều gieo neo, khốn khó (gạo ngô thì thiếu) nhưng vẫn dịu dàng, lãng mạn mỗi độ xuân về với hoa xoan tím ngát, vẫn thảo thương, hào phóng sẻ chia lát đậu, thìa đường, mớ rau...
→ Các biện pháp tu từ liệt kê, đối lập, phép điệp cấu trúc cùng nghệ thuật nhân cách hoá khiến Hà Nội hiện lên hữu hình như một sinh mệnh, một cuộc đời với muôn vẻ đẹp (từ sắc diện bề ngoài đến tâm hồn, nhân cách bên trong), bất chấp gian khó, bom đạn chiến tranh.
- Hà Nội - ân nhân suốt đời của “tôi”:
+ Trương Nam Hương sinh năm ở Hải Phòng, quê cha ở Huế, quê mẹ ở Bắc Ninh, tuổi thơ gắn bó với Hà Nội. Những năm tháng tuổi thơ ngắn ngủi đi qua không làm ông lãng quên Hà Nội trong quá khứ tuổi thơ. Ngược lại, kí ức vẹn nguyên về Hà Nội ở đoạn thơ thứ nhât cho thấy một nghĩa tình sâu sắc nhà thơ dành cho miền đất đã ấp iu tuổi thơ ông.
+ Hai dòng thơ cuối cùng khiến người đọc hình dung Hà Nội như một ân nhân trọn đời của nhân vật trữ tình. Cụm từ nuôi tôi thương khó đã bao trọn nghĩa tình sâu nặng, tình cảm bao dung mà Hà Nội đã dành cho “tôi” suốt những năm tháng tuổi thơ xa xưa. Bởi thế, một lần nữa, Hà Nội lại hiện lên như một sinh thể với tấm lòng độ lượng vô chừng.
* Đánh giá chung
- Hà Nội một thời đã khắc hoạ thành công hình tượng Hà Nội qua lăng kính của nhân vật trữ tình - một cậu bé có tuổi thơ gắn liền với Hà Nội yêu dấu. Góc nhìn, dòng hoài niệm của nhân vật trữ tình ở thời điểm hiện tại đã đưa người đọc trở về với một Hà Nội của những năm tháng đất nước đánh Mỹ vất vả, đau thương nhưng oai hùng, bình dị, thanh lịch, mộng mơ,...
- Có thể nói có bao nhiêu cây bút viết về Hà Nội là có bấy nhiêu rung cảm riêng biệt về nơi này. Bởi Hà Nội rất đẹp và luôn đẹp trong mỗi góc nhìn. Thế nên Hà Nội một thời của Trương Nam Hương dẫu ra đời khi có trăm ngàn thi phẩm, nhạc phẩm,... về Hà Nội, thì bài thơ vẫn là một màu sắc riêng, thật riêng về “trái tim của cả nước”.