I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo, là tác phẩm nghệ thuật tạo hình của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí, tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới.
HANG ĐẦU GỖ
Hang Đầu Gỗ rộng khoảng 5.000m2, cửa hang rộng 17m và cao 12m nằm ở độ cao 27m so với mực nước biển. Hang Đầu Gỗ như tập trung được một quần thể kiến trúc cổ xưa toát lên một vẻ đẹp cổ kính, hoang sơ và tĩnh mịch.
Theo truyền tụng của người dân địa phương thì hang Đầu Gỗ có tên là hang Giấu Gỗ (sau gọi chệch thành Đầu Gỗ) vì nó gắn liền với câu chuyện lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỉ 13 của vua tôi nhà Trần, quân sĩ nhà Trần thường cất giấu những chiếc cọc gỗ tại nơi đây trước khi đem xuống cắm dưới lòng sông Bạch Đằng (Yên Hưng) để xây dựng trận địa cọc tiêu diệt binh thuyền giặc. Hang Đầu Gỗ là một vùng kín gió, nên ngư dân thường tụ về đây trong những ngày giông bão, hoặc sau một thời gian đánh bắt, họ thả neo sinh sống đông đúc và sửa chữa đóng lại thuyền bè tại đây. Do hang nằm trên dãy đảo mà trông xa có dáng tựa một cây gỗ khổng lồ nên căn cứ vào hình dáng của đảo người ta đặt cho hang là Đầu Gỗ.
ĐỘNG THIÊN CUNG
Động Thiên Cung gắn liền với truyền thuyết về vua Rồng xưa. Truyện kể rằng sau khi vua Rồng giúp dân ta đánh tan giặc giã, vua Rồng trở về động của mình an tọa. Động nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long cách bến tàu du lịch 4km, trên đảo Đầu Gỗ. Đứng giữa vòm động cao vút, màu thạch nhũ xanh như dát ngọc ta ngỡ như đang đứng trong tiên cảnh bồng lai. Tới ngăn động cuối cùng, những luồng ánh sáng trắng, xanh, đỏ xen lẫn phối màu tạo nên khung cảnh hoa lệ, một vòi nước tự nhiên bốn mùa tuôn chảy róc rách, theo truyền thuyết nơi đây nàng Mây thường tắm cho 100 người con của mình và nuôi họ khôn lớn trưởng thành.
Một con đường dẫn ra phía ngoài quanh co uốn khúc, đó chính là con đường mà nàng Mây cùng 50 người con của mình ra đi để khai phá vùng đất mới, 50 người con còn lại ở cùng với cha xây dựng quê hương, di vật mà người mẹ để lại là bầu vú tiên tràn trề sức sống.
HANG SỬNG SỐT
Tại khu vực trung tâm của Di sản Thế giới Vịnh Hạ Long, hang Sửng Sốt nằm trong quần thể đảo Bồ Hòn, đây là một hang rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long và cũng là nơi tập trung nhiều đảo đá có hình dáng đặc sắc không nơi nào có được. Từ bến tàu leo lên khoảng 50 bậc đá dựng đứng rồi lại đi xuống chừng mươi bậc đá nữa là đến cửa hang với chiều cao khoảng 25m. Động rộng khoảng 10.000m2 với hàng ngàn măng đá, nhũ đá. Trong hang động có một hệ thống đường đi lát đá dọc từ cửa hang vào đến lối ra dài hơn 500m. Hai bên lối đi là những cột đèn đường thấp vừa là cột giới chỉ đường vừa là vật trang trí, chiếu sáng. Hệ thống đèn chiếu sáng với những kiểu đèn trang nhã, ánh sáng dịu mắt càng tôn thêm vẻ đẹp huyền bí của hang.
Hang được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn đầu như một nhà hát lớn rộng thênh thang. Trần hang được phủ bằng một lớp “thảm nhung” óng mượt, vô số những “chùm đèn” treo bằng nhũ đá rực sáng long lanh. Chưa hết ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần kỳ ở ngăn đầu, ta bước vào ngăn thứ hai bằng một con đường nhỏ. Một luồng ánh sáng ùa vào rực rỡ, hang mở ra một khung cảnh mới hoàn toàn khác lạ, ngăn hang rộng mênh mông có thể chứa được hàng ngàn người. Đi vào trong cảnh trí còn lắm điều kỳ lạ, như cây đa cổ thụ tán lá xum xuê, chú gấu biển, khủng long…”
“Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo, là tác phẩm nghệ thuật tạo hình của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí, tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới.
HANG ĐẦU GỖ
Hang Đầu Gỗ rộng khoảng 5.000m2, cửa hang rộng 17m và cao 12m nằm ở độ cao 27m so với mực nước biển. Hang Đầu Gỗ như tập trung được một quần thể kiến trúc cổ xưa toát lên một vẻ đẹp cổ kính, hoang sơ và tĩnh mịch.
Theo truyền tụng của người dân địa phương thì hang Đầu Gỗ có tên là hang Giấu Gỗ (sau gọi chệch thành Đầu Gỗ) vì nó gắn liền với câu chuyện lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỉ 13 của vua tôi nhà Trần, quân sĩ nhà Trần thường cất giấu những chiếc cọc gỗ tại nơi đây trước khi đem xuống cắm dưới lòng sông Bạch Đằng (Yên Hưng) để xây dựng trận địa cọc tiêu diệt binh thuyền giặc. Hang Đầu Gỗ là một vùng kín gió, nên ngư dân thường tụ về đây trong những ngày giông bão, hoặc sau một thời gian đánh bắt, họ thả neo sinh sống đông đúc và sửa chữa đóng lại thuyền bè tại đây. Do hang nằm trên dãy đảo mà trông xa có dáng tựa một cây gỗ khổng lồ nên căn cứ vào hình dáng của đảo người ta đặt cho hang là Đầu Gỗ.
ĐỘNG THIÊN CUNG
Động Thiên Cung gắn liền với truyền thuyết về vua Rồng xưa. Truyện kể rằng sau khi vua Rồng giúp dân ta đánh tan giặc giã, vua Rồng trở về động của mình an tọa. Động nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long cách bến tàu du lịch 4km, trên đảo Đầu Gỗ. Đứng giữa vòm động cao vút, màu thạch nhũ xanh như dát ngọc ta ngỡ như đang đứng trong tiên cảnh bồng lai. Tới ngăn động cuối cùng, những luồng ánh sáng trắng, xanh, đỏ xen lẫn phối màu tạo nên khung cảnh hoa lệ, một vòi nước tự nhiên bốn mùa tuôn chảy róc rách, theo truyền thuyết nơi đây nàng Mây thường tắm cho 100 người con của mình và nuôi họ khôn lớn trưởng thành.
Một con đường dẫn ra phía ngoài quanh co uốn khúc, đó chính là con đường mà nàng Mây cùng 50 người con của mình ra đi để khai phá vùng đất mới, 50 người con còn lại ở cùng với cha xây dựng quê hương, di vật mà người mẹ để lại là bầu vú tiên tràn trề sức sống.
HANG SỬNG SỐT
Tại khu vực trung tâm của Di sản Thế giới Vịnh Hạ Long, hang Sửng Sốt nằm trong quần thể đảo Bồ Hòn, đây là một hang rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long và cũng là nơi tập trung nhiều đảo đá có hình dáng đặc sắc không nơi nào có được. Từ bến tàu leo lên khoảng 50 bậc đá dựng đứng rồi lại đi xuống chừng mươi bậc đá nữa là đến cửa hang với chiều cao khoảng 25m. Động rộng khoảng 10.000m2 với hàng ngàn măng đá, nhũ đá. Trong hang động có một hệ thống đường đi lát đá dọc từ cửa hang vào đến lối ra dài hơn 500m. Hai bên lối đi là những cột đèn đường thấp vừa là cột giới chỉ đường vừa là vật trang trí, chiếu sáng. Hệ thống đèn chiếu sáng với những kiểu đèn trang nhã, ánh sáng dịu mắt càng tôn thêm vẻ đẹp huyền bí của hang.
Hang được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn đầu như một nhà hát lớn rộng thênh thang. Trần hang được phủ bằng một lớp “thảm nhung” óng mượt, vô số những “chùm đèn” treo bằng nhũ đá rực sáng long lanh. Chưa hết ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần kỳ ở ngăn đầu, ta bước vào ngăn thứ hai bằng một con đường nhỏ. Một luồng ánh sáng ùa vào rực rỡ, hang mở ra một khung cảnh mới hoàn toàn khác lạ, ngăn hang rộng mênh mông có thể chứa được hàng ngàn người. Đi vào trong cảnh trí còn lắm điều kỳ lạ, như cây đa cổ thụ tán lá xum xuê, chú gấu biển, khủng long…”
(Trích Hạ Long: lung linh huyền bí, theo Giáo dục và Thời đại chủ nhật, số 48, 2014, tr. 22-23)
Câu 1 [1100829]: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức
biểu đạt chính của văn bản trên là thuyết minh.
Câu 2 [1100830]: Tìm các từ ngữ miêu tả vẻ đẹp của hang Đầu Gỗ.
- Các từ ngữ miêu tả vẻ
đẹp của hang Đầu Gỗ: “cổ kính”, “hoang sơ” và “tĩnh mịch”.
Câu 3 [1100831]: Chỉ ra tác dụng của phương thức tự sự trong đoạn văn giới thiệu Động Thiên Cung.
- Dấu hiệu phương thức tự sự trong văn bản: Gắn địa danh với truyền thuyết dân gian, kể lại câu chuyện về vua Rồng và nàng Mây.
- Tác dụng:
+ Tăng sức hấp dẫn và cuốn hút cho bài giới thiệu.
+ Làm nổi bật vẻ đẹp kỳ ảo, linh thiêng của hang động; lí giải nguồn gốc, ý nghĩa củanhững hình ảnh trong động (vòi nước - bầu vú tiên, con đường uốn khúc…) một cách sinh động, giàu cảm xúc.
+ Khơi gợi niềm tự hào và tình yêu quê hương bởi cảnh đẹp thiên nhiên được gắn liền với truyền thuyết về nguồn cội, sự khai phá và xây dựng đất nước.
- Tác dụng:
+ Tăng sức hấp dẫn và cuốn hút cho bài giới thiệu.
+ Làm nổi bật vẻ đẹp kỳ ảo, linh thiêng của hang động; lí giải nguồn gốc, ý nghĩa củanhững hình ảnh trong động (vòi nước - bầu vú tiên, con đường uốn khúc…) một cách sinh động, giàu cảm xúc.
+ Khơi gợi niềm tự hào và tình yêu quê hương bởi cảnh đẹp thiên nhiên được gắn liền với truyền thuyết về nguồn cội, sự khai phá và xây dựng đất nước.
Câu 4 [1100832]: Người viết đã bày tỏ tình cảm, thái độ nào khi viết về hang Sửng Sốt?
Người viết bộc lộ niềm say mê, ngỡ ngàng và tự hào trước vẻ đẹp kỳ vĩ, huyền bí của hang Sửng Sốt – Vịnh Hạ Long:
+ Sự trân trọng và ngợi ca: khẳng định đây là “một hang rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long”.
+ Thái độ thích thú, choáng ngợp thể hiện qua các từ ngữ: “ngỡ ngàng” (cảm xúc); “thần kỳ”, “huyền bí”, “rực rỡ”, “long lanh”, ... (các tính từ miêu tả cảnh vật).
+ Niềm tự hào về di sản thiên nhiên, khi miêu tả tỉ mỉ, nâng niu từng chi tiết cảnh sắc trong hang.
+ Sự trân trọng và ngợi ca: khẳng định đây là “một hang rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long”.
+ Thái độ thích thú, choáng ngợp thể hiện qua các từ ngữ: “ngỡ ngàng” (cảm xúc); “thần kỳ”, “huyền bí”, “rực rỡ”, “long lanh”, ... (các tính từ miêu tả cảnh vật).
+ Niềm tự hào về di sản thiên nhiên, khi miêu tả tỉ mỉ, nâng niu từng chi tiết cảnh sắc trong hang.
Câu 5 [1100833]: Nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của Vịnh Hạ Long qua đoạn trích trên (trình bày khoảng 5-7 dòng).
- Khái quát vẻ đẹp của Vịnh Hạ Long – một di sản thiên nhiên độc đáo, kiệt tác của tạo hóa:
+ Vẻ đẹp kỳ vĩ, tráng lệ qua hàng nghìn đảo đá, hang động rộng lớn, muôn hình vạn trạng.
+ Vẻ đẹp huyền bí, lung linh của các hang động (Đầu Gỗ, Thiên Cung, Sửng Sốt) với thạch nhũ, ánh sáng, không gian như chốn tiên cảnh.
+ Giá trị văn hóa – lịch sử được bồi đắp qua truyền thuyết dân gian, dấu ấn chống giặc, đời sống ngư dân.
- Cảm xúc choáng ngợp, say mê và niềm tự hào về Vịnh Hạ Long – di sản quý giá của đất nước.
+ Vẻ đẹp kỳ vĩ, tráng lệ qua hàng nghìn đảo đá, hang động rộng lớn, muôn hình vạn trạng.
+ Vẻ đẹp huyền bí, lung linh của các hang động (Đầu Gỗ, Thiên Cung, Sửng Sốt) với thạch nhũ, ánh sáng, không gian như chốn tiên cảnh.
+ Giá trị văn hóa – lịch sử được bồi đắp qua truyền thuyết dân gian, dấu ấn chống giặc, đời sống ngư dân.
- Cảm xúc choáng ngợp, say mê và niềm tự hào về Vịnh Hạ Long – di sản quý giá của đất nước.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [701556]: (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về đóng góp của những người trẻ hôm nay trong việc giảm thiểu các đại dịch trên toàn cầu.
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về đóng góp của những người trẻ hôm nay trong việc giảm thiểu các đại dịch trên toàn cầu.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về đóng góp của những người trẻ hôm nay trong việc giảm thiểu các đại dịch trên toàn cầu có thể được triển khai theo theo hướng:
- Thế giới đã, đang và sẽ phải đối mặt với các dịch bệnh có sức lây lan trên phạm vi toàn cầu và sự nguy hại ở mọi cấp độ như sởi, cúm mùa, đậu mùa, tả, dịch hạch, Covid-19,... Việc chung tay góp sức để đẩy lùi các đại dịch là trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là người trẻ.
- Đóng góp của những người trẻ hôm nay trong việc giảm thiểu các đại dịch trên toàn cầu:
+ Nhận thức: hiểu biết đúng đắn, đầy đủ về bản chất, mức độ nguy hại của các dịch bệnh; nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc tiêm chủng vác-xin phòng ngừa các dịch bệnh; nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng việc tuân thủ các yêu cầu phòng chống dịch bệnh của các cơ quan y tế, cơ quan chức năng;... (dẫn chứng: Trong đại dịch Covid-19, nhiều người từ chối tiêm vác-xin, nhiều người không tuân thủ các quy tắc phòng bệnh,...).
+ Hành động: chủ động nâng cao sức khoẻ để tăng đề kháng của cơ thể bằng việc vận động thể dục thể thao, ăn uống sinh hoạt lành mạnh; tuân thủ nghiêm việc phòng chống dịch bệnh; tuyên truyền tới mọi người ý thức phòng chống dịch bệnh;... (dẫn chứng: nhiều người trẻ yêu thích và thường xuyên duy trì các hoạt động thể thao lành mạnh như chơi cầu lông, bóng bàn, bơi lội,...; tuân thủ giờ giấc học tập, sinh hoạt; bắt đầu từ những hành vi nhỏ như đeo khẩu trang khi tham gia giao thông, trong môi trường khói bụi, rửa tay thường xuyên,...).
- Thế giới đã, đang và sẽ phải đối mặt với các dịch bệnh có sức lây lan trên phạm vi toàn cầu và sự nguy hại ở mọi cấp độ như sởi, cúm mùa, đậu mùa, tả, dịch hạch, Covid-19,... Việc chung tay góp sức để đẩy lùi các đại dịch là trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là người trẻ.
- Đóng góp của những người trẻ hôm nay trong việc giảm thiểu các đại dịch trên toàn cầu:
+ Nhận thức: hiểu biết đúng đắn, đầy đủ về bản chất, mức độ nguy hại của các dịch bệnh; nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc tiêm chủng vác-xin phòng ngừa các dịch bệnh; nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng việc tuân thủ các yêu cầu phòng chống dịch bệnh của các cơ quan y tế, cơ quan chức năng;... (dẫn chứng: Trong đại dịch Covid-19, nhiều người từ chối tiêm vác-xin, nhiều người không tuân thủ các quy tắc phòng bệnh,...).
+ Hành động: chủ động nâng cao sức khoẻ để tăng đề kháng của cơ thể bằng việc vận động thể dục thể thao, ăn uống sinh hoạt lành mạnh; tuân thủ nghiêm việc phòng chống dịch bệnh; tuyên truyền tới mọi người ý thức phòng chống dịch bệnh;... (dẫn chứng: nhiều người trẻ yêu thích và thường xuyên duy trì các hoạt động thể thao lành mạnh như chơi cầu lông, bóng bàn, bơi lội,...; tuân thủ giờ giấc học tập, sinh hoạt; bắt đầu từ những hành vi nhỏ như đeo khẩu trang khi tham gia giao thông, trong môi trường khói bụi, rửa tay thường xuyên,...).
Câu 7 [701557]: (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ), phân tích bài thơ sau:
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...
Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kì
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...
Hoà bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
- Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...
Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ), phân tích bài thơ sau:
QUÊ HƯƠNG
(Giang Nam)
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trườngYêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...
Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kì
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...
Hoà bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
- Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...
Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
1960
(Theo Thơ tình người lính, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1995)
Bài văn phân tích sự kết hợp của yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bài thơ “Quê hương” (Giang Nam) có thể triển khai theo nhiều cách, song cần bảo đảm các ý chính:
* Giới thiệu khái quát về nhà thơ Giang Nam, bài thơ “Quê hương”
- Nhà thơ Giang Nam là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
- Bài thơ “Quê hương”:
+ Vị trí: Thi phẩm đặc sắc nhất đời thơ Giang Nam, góp phần đính ghim tên tuổi nhà thơ trong tâm trí bạn đọc.
+ Hoàn cảnh sáng tác: Ra đời năm 1960, khi ông hay tin vợ và con gái mình bị giặc bắt và giết hại. Thật may, đó chỉ là một thông tin nhầm lẫn. Sau đó hai năm (năm 1962), Giang Nam biết tin vợ con ông còn sống nhưng phải đến tận năm 1973 ông mới được đoàn tụ với vợ con.
+ Đề tài: quê hương đất nước (đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975: “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây” - Quang Dũng, “Đồng chí” - Chính Hữu, “Nhớ” - Hồng Nguyên, “Việt Bắc” - Tố Hữu, “Đất nước” - Nguyễn Đình Thi, “Mặt đường khát vọng” - Nguyễn Khoa Điềm,...)
+ Thể thơ: tự do, rất phù hợp để nhân vật trữ tình bộc lộc tình cảm, cảm xúc một cách phóng khoáng.
+ Nhân vật trong bài thơ: Hình ảnh “cô bé nhà bên” trong bài thơ có nguyên mẫu từ chính người vợ của Giang Nam nhưng cũng là ảnh chiếu của biết bao nữ du kịch mà ông đã gặp trong đời hoạt động cách mạng của mình.
* Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bài thơ
- Yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bài thơ
+ Yếu tố tự sự: “Quê hương” kể cho người đọc một câu chuyện chan chứa yêu thương nhưng thấm đượm nỗi buồn đau mất mát
• Nhân vật: Bài thơ là câu chuyện tình yêu giữa “tôi” và “cô bé nhà bên”
• Chuỗi sự việc: Diễn biến câu chuyện giữa “tôi” và “em” xoay quanh các sự việc, sự kiện được trần thuật theo mạch thời gian:
o Thuở còn thơ, “tôi” là một cậu bé ham chơi, tinh nghịch ngợm nhưng cũng rất sợ đòn: những ngày trốn học/ đuổi bướm bị mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc. Mỗi lần như thế, “em” - “cô bé nhà bên” luôn hồn nhiên cười khúc khích.
o Khi cách mạng bùng lên, “tôi” đi kháng chiến, “em” cũng vào du kích và thật tình cờ, hai người đã gặp nhau giữa cuộc hành quân.
o Hoà bình, “tôi” trở về quê nhà, gặp “em”, hỏi “em” chuyện chồng con, “em” vẫn cười khúc khích nhưng tay để yên trong tay tôi nóng bỏng.
o “Hôm nay”, “tôi” bất ngờ nhận được tin dữ: Giặc bắn em rồi quăng mất xác.
⟶ Cốt truyện bao gồm chuỗi sự việc, sự kiện và các chi tiết đặc sắc, hấp dẫn, có những chi tiết, sự việc được đẩy đến cao trào, lôi cuốn người đọc.
+ Yếu tố trữ tình: “Quê hương” là một bài thơ trữ tình thấm đượm tình cảm, cảm xúc của “tôi”
• Chủ đề: tình yêu quê hương đất nước quyện trong tình yêu đôi lứa.
• Nhân vật trữ tình: “tôi” - một người lính
• Cảm hứng chủ đạo: nỗi đau, nỗi xúc động cực đỉnh trong nhân vật trữ tình khi nghe tin người con gái yêu thương nơi quê nhà bị giặc giết hại
• Biểu hiện cụ thể của yếu tố trữ tình trong bài thơ:
o Mạch cảm xúc: yêu thương trong trẻo thuở còn thơ - niềm thương mến, luyến lưu khi bất ngờ gặp nhau trên chặng đường hành quân - yêu thương chớm nở trong ngày hoà bình gặp lại - nỗi đau khi nghe tin “em” bị giặc giết - nỗi thương nhớ thuỷ chung
o Giọng điệu: vui tươi, hồn nhiên, trong trẻo (khi kể lại kỉ niệm tuổi thơ); lưu luyến, bịn rịn (khi nhớ lại kỉ niệm gặp nhau trên đường hành quân); xao xuyến, bâng khuâng, đầy khao khát yêu thương (trong ngày “tôi” trở lại quê nhà và gặp “em”); đau đớn, xót xa cực đỉnh (khi nghe tin “em” bị giặc giết); man mác nhớ thương (trong hiện tại không còn em)
o Ngôn ngữ, hình ảnh: giàu sức gợi (yêu quê hương, tôi mơ màng, cười khúc khích, mắt đen tròn, lòng tôi ấm mãi, nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi, tay tôi nóng bỏng, Đau xé lòng anh, chết nửa con người!,...)
o Biện pháp tu từ: phép chêm xem ((có ai ngờ!), (thương thương quá đi thôi!), phép đối (Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi; Xưa yêu quê hương... - Nay yêu quê hương...);...
+ Sự đan xen giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự:
• Trữ tình và tự sự không tách biệt mà quyện hoà suốt dọc bài thơ.
• Tự sự trở thành cái cớ để nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm, cảm xúc, để khai triển, nâng đỡ mạch cảm xúc.
• Trữ tình nảy nở và neo đậu vào từng sự việc, sự kiện diễn ra trong mạch tự sự.
- Ý nghĩa sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bài thơ
+ Tự sự đóng vai trò dẫn dắt, khai triển các sự việc, tạo nên cơn cớ để nhân vật trữ tình trải lòng. Diễn biến của chuỗi tự sự xoay quanh những kỉ niệm giữa “tôi” và “em” từ thuở bé thơ đến khoảnh khắc hiện tại chứng tỏ tình cảm sâu nặng, thuỷ chung “tôi” dành cho “em”.
+ Trữ tình làm cho mạch tự sự không khô cứng, thuần tuý kể việc mà thấm đượm cảm xúc, giúp nhân vật trữ tình bộc bạch tâm tư, nỗi lòng một cách chân thực, tự nhiên, cảm động, lay động lòng người.
+ Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của bài thơ, tạo nên một câu chuyện tình yêu thời chiến tuy buồn thương nhưng lãng mạn, nên thơ. (Liên hệ: “Núi đôi” (Vũ Cao), “Đồi tím hoa sim” (Hữu Loan),...)
* Đánh giá chung
- “Quê hương” là thi phẩm đặc biệt thành công trong sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình.
- Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình trong bài thơ góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật thơ ca của Giang Nam; góp thêm một tiếng thơ độc đáo trong mảng đề tài quê hương đất nước.
<*> Tham khảo bài viết:
“Bài thơ “Quê hương” ra đời vào năm 1960, khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ ngày càng trở nên khốc liệt, trở thành một trong những biểu tượng đẹp đẽ về tình yêu cá nhân hòa trong tình yêu Tổ quốc. Những câu thơ đẹp giản dị và gần gũi ấy đã đánh thức những vùng kí ức bình yên, trong sáng trong tâm hồn người đọc, để rồi đưa người đọc đến với tình yêu đất nước rộng lớn hơn qua sự hi sinh của nữ chiến sĩ du kích: “Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm/ Có những ngày trốn học bị đòn roi/ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi”.
Nhà thơ Giang Nam, tên khai sinh là Nguyễn Sung, sinh ngày 2/2/1929, quê quán: xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 17 tuổi, bắt đầu làm công tác tuyên truyền, văn nghệ tại ban thông tin xã. Sau đó ông được điều về làm việc ở Ty Thông tin Khánh Hòa vì tổ chức nhận thấy ông có năng khiếu văn chương.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), hai miền chia cắt, ông xung phong ở lại miền nam chiến đấu. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông từng trải qua các vị trí: Phó Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Khánh Hòa, Phó Tổng Thư kí Hội Văn nghệ giải phóng, Tổng Biên tập báo Văn nghệ Giải phóng. Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Giang Nam trở thành Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa II, III; đại biểu Quốc hội khóa VI, Tổng Biên tập Tuần báo Văn nghệ (1978 - 1980). Năm 1984, ông được điều về công tác tại tỉnh Phú Khánh, trở thành Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh (1984 - 1989), rồi Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa (1989 - 1993) cho đến khi nghỉ hưu.
Cả sự nghiệp văn học của mình, ông viết nhiều thể loại: thơ, trường ca, truyện, truyện kí, hồi kí văn học..., nhưng nhiều nhất vẫn là thơ và trường ca với hơn mười tập, trong đó đặc sắc nhất là bài thơ “Quê hương”, sau này được lấy làm tên tập thơ xuất bản năm 1965. Đề tài của ông viết khá đa dạng, nhưng tập trung nhất vẫn là chiến tranh cách mạng và cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cả trong thời chiến và thời bình. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học danh giá ở cấp Trung ương và địa phương, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật đợt I (năm 2001) cho ba tập thơ “Quê hương”, “Hạnh phúc từ nay” và “Thành phố chưa dừng bước chân”.
[...]
Ông kể: “Đó là một buổi chiều năm 1960, đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy gọi tôi lên, hỏi thăm với thái độ đặc biệt ân cần khiến tôi linh cảm có chuyện bất thường. Quả nhiên sau đó anh thông báo, cơ sở cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt và đã bị chúng thủ tiêu. Trời như sập xuống đầu tôi. Tối hôm đó, dưới chân núi Hòn Dù, cách thành phố Nha Trang chừng bốn chục cây số, bên ngọn đèn dầu tù mù, trong vòng một tiếng, tôi viết xong bài thơ “Quê hương”, hầu như không gạch xóa, sửa chữa một chữ nào.
Những kỉ niệm cũ, tình yêu ban đầu e ấp vụng dại, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt, vợ và con tôi đều khóc... hiện ra trên đầu ngọn bút. Vừa viết, nước mắt tôi vừa trào ra. Về sau mới biết, tin vợ và con gái tôi bị thủ tiêu không chính xác. Vợ tôi bị bắt ở Biên Hòa, địch giam kín trong khám Chí Hòa, chúng giấu kĩ thông tin. Trong số tù chính trị, nhiều người bị thủ tiêu cho nên tổ chức mới nhầm vợ con tôi cũng đã bị giết hại. Năm 1962, do mình đấu tranh dữ quá, chúng buộc phải đem ra xử công khai. Đó là vụ án chính trị duy nhất ở Sài Gòn bấy giờ và lúc ấy tôi mới được biết”.
Trong văn học Việt Nam thời chiến tranh có hai bài thơ nổi tiếng, “Núi đôi” của Vũ Cao và “Quê hương” của Giang Nam viết về sự li biệt giữa người chồng bộ đội và vợ/ người yêu, một ở miền bắc, một ở miền nam. Cả hai bài thơ, nhân vật nữ đều là du kích bị kẻ thù giết hại. Nhưng “cô bé nhà bên” trong bài thơ Quê hương đã còn sống, vì tin bị địch thủ tiêu là do nhầm lẫn. Tuy nhiên, chiến tranh và tù đày đã chia cách nhà thơ Giang Nam với vợ và cô con gái, phải sau 15 năm ròng (1958 - 1973) gia đình ông mới được đoàn tụ.”
* Giới thiệu khái quát về nhà thơ Giang Nam, bài thơ “Quê hương”
- Nhà thơ Giang Nam là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
- Bài thơ “Quê hương”:
+ Vị trí: Thi phẩm đặc sắc nhất đời thơ Giang Nam, góp phần đính ghim tên tuổi nhà thơ trong tâm trí bạn đọc.
+ Hoàn cảnh sáng tác: Ra đời năm 1960, khi ông hay tin vợ và con gái mình bị giặc bắt và giết hại. Thật may, đó chỉ là một thông tin nhầm lẫn. Sau đó hai năm (năm 1962), Giang Nam biết tin vợ con ông còn sống nhưng phải đến tận năm 1973 ông mới được đoàn tụ với vợ con.
+ Đề tài: quê hương đất nước (đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975: “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây” - Quang Dũng, “Đồng chí” - Chính Hữu, “Nhớ” - Hồng Nguyên, “Việt Bắc” - Tố Hữu, “Đất nước” - Nguyễn Đình Thi, “Mặt đường khát vọng” - Nguyễn Khoa Điềm,...)
+ Thể thơ: tự do, rất phù hợp để nhân vật trữ tình bộc lộc tình cảm, cảm xúc một cách phóng khoáng.
+ Nhân vật trong bài thơ: Hình ảnh “cô bé nhà bên” trong bài thơ có nguyên mẫu từ chính người vợ của Giang Nam nhưng cũng là ảnh chiếu của biết bao nữ du kịch mà ông đã gặp trong đời hoạt động cách mạng của mình.
* Phân tích sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bài thơ
- Yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bài thơ
+ Yếu tố tự sự: “Quê hương” kể cho người đọc một câu chuyện chan chứa yêu thương nhưng thấm đượm nỗi buồn đau mất mát
• Nhân vật: Bài thơ là câu chuyện tình yêu giữa “tôi” và “cô bé nhà bên”
• Chuỗi sự việc: Diễn biến câu chuyện giữa “tôi” và “em” xoay quanh các sự việc, sự kiện được trần thuật theo mạch thời gian:
o Thuở còn thơ, “tôi” là một cậu bé ham chơi, tinh nghịch ngợm nhưng cũng rất sợ đòn: những ngày trốn học/ đuổi bướm bị mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc. Mỗi lần như thế, “em” - “cô bé nhà bên” luôn hồn nhiên cười khúc khích.
o Khi cách mạng bùng lên, “tôi” đi kháng chiến, “em” cũng vào du kích và thật tình cờ, hai người đã gặp nhau giữa cuộc hành quân.
o Hoà bình, “tôi” trở về quê nhà, gặp “em”, hỏi “em” chuyện chồng con, “em” vẫn cười khúc khích nhưng tay để yên trong tay tôi nóng bỏng.
o “Hôm nay”, “tôi” bất ngờ nhận được tin dữ: Giặc bắn em rồi quăng mất xác.
⟶ Cốt truyện bao gồm chuỗi sự việc, sự kiện và các chi tiết đặc sắc, hấp dẫn, có những chi tiết, sự việc được đẩy đến cao trào, lôi cuốn người đọc.
+ Yếu tố trữ tình: “Quê hương” là một bài thơ trữ tình thấm đượm tình cảm, cảm xúc của “tôi”
• Chủ đề: tình yêu quê hương đất nước quyện trong tình yêu đôi lứa.
• Nhân vật trữ tình: “tôi” - một người lính
• Cảm hứng chủ đạo: nỗi đau, nỗi xúc động cực đỉnh trong nhân vật trữ tình khi nghe tin người con gái yêu thương nơi quê nhà bị giặc giết hại
• Biểu hiện cụ thể của yếu tố trữ tình trong bài thơ:
o Mạch cảm xúc: yêu thương trong trẻo thuở còn thơ - niềm thương mến, luyến lưu khi bất ngờ gặp nhau trên chặng đường hành quân - yêu thương chớm nở trong ngày hoà bình gặp lại - nỗi đau khi nghe tin “em” bị giặc giết - nỗi thương nhớ thuỷ chung
o Giọng điệu: vui tươi, hồn nhiên, trong trẻo (khi kể lại kỉ niệm tuổi thơ); lưu luyến, bịn rịn (khi nhớ lại kỉ niệm gặp nhau trên đường hành quân); xao xuyến, bâng khuâng, đầy khao khát yêu thương (trong ngày “tôi” trở lại quê nhà và gặp “em”); đau đớn, xót xa cực đỉnh (khi nghe tin “em” bị giặc giết); man mác nhớ thương (trong hiện tại không còn em)
o Ngôn ngữ, hình ảnh: giàu sức gợi (yêu quê hương, tôi mơ màng, cười khúc khích, mắt đen tròn, lòng tôi ấm mãi, nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi, tay tôi nóng bỏng, Đau xé lòng anh, chết nửa con người!,...)
o Biện pháp tu từ: phép chêm xem ((có ai ngờ!), (thương thương quá đi thôi!), phép đối (Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi; Xưa yêu quê hương... - Nay yêu quê hương...);...
+ Sự đan xen giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự:
• Trữ tình và tự sự không tách biệt mà quyện hoà suốt dọc bài thơ.
• Tự sự trở thành cái cớ để nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm, cảm xúc, để khai triển, nâng đỡ mạch cảm xúc.
• Trữ tình nảy nở và neo đậu vào từng sự việc, sự kiện diễn ra trong mạch tự sự.
- Ý nghĩa sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự trong bài thơ
+ Tự sự đóng vai trò dẫn dắt, khai triển các sự việc, tạo nên cơn cớ để nhân vật trữ tình trải lòng. Diễn biến của chuỗi tự sự xoay quanh những kỉ niệm giữa “tôi” và “em” từ thuở bé thơ đến khoảnh khắc hiện tại chứng tỏ tình cảm sâu nặng, thuỷ chung “tôi” dành cho “em”.
+ Trữ tình làm cho mạch tự sự không khô cứng, thuần tuý kể việc mà thấm đượm cảm xúc, giúp nhân vật trữ tình bộc bạch tâm tư, nỗi lòng một cách chân thực, tự nhiên, cảm động, lay động lòng người.
+ Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của bài thơ, tạo nên một câu chuyện tình yêu thời chiến tuy buồn thương nhưng lãng mạn, nên thơ. (Liên hệ: “Núi đôi” (Vũ Cao), “Đồi tím hoa sim” (Hữu Loan),...)
* Đánh giá chung
- “Quê hương” là thi phẩm đặc biệt thành công trong sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình.
- Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình trong bài thơ góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật thơ ca của Giang Nam; góp thêm một tiếng thơ độc đáo trong mảng đề tài quê hương đất nước.
<*> Tham khảo bài viết:
“Bài thơ “Quê hương” ra đời vào năm 1960, khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ ngày càng trở nên khốc liệt, trở thành một trong những biểu tượng đẹp đẽ về tình yêu cá nhân hòa trong tình yêu Tổ quốc. Những câu thơ đẹp giản dị và gần gũi ấy đã đánh thức những vùng kí ức bình yên, trong sáng trong tâm hồn người đọc, để rồi đưa người đọc đến với tình yêu đất nước rộng lớn hơn qua sự hi sinh của nữ chiến sĩ du kích: “Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm/ Có những ngày trốn học bị đòn roi/ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi”.
Nhà thơ Giang Nam, tên khai sinh là Nguyễn Sung, sinh ngày 2/2/1929, quê quán: xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 17 tuổi, bắt đầu làm công tác tuyên truyền, văn nghệ tại ban thông tin xã. Sau đó ông được điều về làm việc ở Ty Thông tin Khánh Hòa vì tổ chức nhận thấy ông có năng khiếu văn chương.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), hai miền chia cắt, ông xung phong ở lại miền nam chiến đấu. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông từng trải qua các vị trí: Phó Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Khánh Hòa, Phó Tổng Thư kí Hội Văn nghệ giải phóng, Tổng Biên tập báo Văn nghệ Giải phóng. Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Giang Nam trở thành Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa II, III; đại biểu Quốc hội khóa VI, Tổng Biên tập Tuần báo Văn nghệ (1978 - 1980). Năm 1984, ông được điều về công tác tại tỉnh Phú Khánh, trở thành Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh (1984 - 1989), rồi Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa (1989 - 1993) cho đến khi nghỉ hưu.
Cả sự nghiệp văn học của mình, ông viết nhiều thể loại: thơ, trường ca, truyện, truyện kí, hồi kí văn học..., nhưng nhiều nhất vẫn là thơ và trường ca với hơn mười tập, trong đó đặc sắc nhất là bài thơ “Quê hương”, sau này được lấy làm tên tập thơ xuất bản năm 1965. Đề tài của ông viết khá đa dạng, nhưng tập trung nhất vẫn là chiến tranh cách mạng và cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cả trong thời chiến và thời bình. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học danh giá ở cấp Trung ương và địa phương, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật đợt I (năm 2001) cho ba tập thơ “Quê hương”, “Hạnh phúc từ nay” và “Thành phố chưa dừng bước chân”.
[...]
Ông kể: “Đó là một buổi chiều năm 1960, đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy gọi tôi lên, hỏi thăm với thái độ đặc biệt ân cần khiến tôi linh cảm có chuyện bất thường. Quả nhiên sau đó anh thông báo, cơ sở cho biết vợ và con gái tôi bị địch bắt và đã bị chúng thủ tiêu. Trời như sập xuống đầu tôi. Tối hôm đó, dưới chân núi Hòn Dù, cách thành phố Nha Trang chừng bốn chục cây số, bên ngọn đèn dầu tù mù, trong vòng một tiếng, tôi viết xong bài thơ “Quê hương”, hầu như không gạch xóa, sửa chữa một chữ nào.
Những kỉ niệm cũ, tình yêu ban đầu e ấp vụng dại, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt, vợ và con tôi đều khóc... hiện ra trên đầu ngọn bút. Vừa viết, nước mắt tôi vừa trào ra. Về sau mới biết, tin vợ và con gái tôi bị thủ tiêu không chính xác. Vợ tôi bị bắt ở Biên Hòa, địch giam kín trong khám Chí Hòa, chúng giấu kĩ thông tin. Trong số tù chính trị, nhiều người bị thủ tiêu cho nên tổ chức mới nhầm vợ con tôi cũng đã bị giết hại. Năm 1962, do mình đấu tranh dữ quá, chúng buộc phải đem ra xử công khai. Đó là vụ án chính trị duy nhất ở Sài Gòn bấy giờ và lúc ấy tôi mới được biết”.
Trong văn học Việt Nam thời chiến tranh có hai bài thơ nổi tiếng, “Núi đôi” của Vũ Cao và “Quê hương” của Giang Nam viết về sự li biệt giữa người chồng bộ đội và vợ/ người yêu, một ở miền bắc, một ở miền nam. Cả hai bài thơ, nhân vật nữ đều là du kích bị kẻ thù giết hại. Nhưng “cô bé nhà bên” trong bài thơ Quê hương đã còn sống, vì tin bị địch thủ tiêu là do nhầm lẫn. Tuy nhiên, chiến tranh và tù đày đã chia cách nhà thơ Giang Nam với vợ và cô con gái, phải sau 15 năm ròng (1958 - 1973) gia đình ông mới được đoàn tụ.”
(Trích Vĩnh biệt tác giả bài thơ Quê hương nổi tiếng - Hữu Việt, theo nhandan.vn)