I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Tôi nhớ lúc đó là một chiều đông. Cha đón hai chị em tôi về nhà. Trên xe, chúng tôi bật đĩa rock của nhóm Gạt Tàn Đầy. Đến bài “Đám cưới chuột” cả ba chúng tôi đều hát theo. Đột nhiên cha tấp xe vào lề đường, bật volume hết cỡ rung cả sàn chiếc xe còi, ba cha con vỗ nhịp vào vô lăng, vào thành xe, ầm ĩ: “Ai mang cá đến cho con mèo hoang tàn ác, ai mang cá đến cho con mèo hoang say mềm”...
Mẹ tôi bình luận, lại “sáng kiến ngoại trình” rồi! Mẹ chỉ chế giễu một cách hài hước thế thôi. Cha tôi có “lập trình” với “lên kế hoạch” gì đâu, mà cũng chẳng là sáng kiến, chỉ là “ngoại trình” thôi. Nói như bà ngoại có vẻ đúng hơn: Bố tụi nhỏ phồng phồng tẹt tẹt, vui buồn cũng chuyển hướng bất ngờ, như chuyển động Brown!
Sáng kiến ngoại trình phải là những gì nảy sinh bất ngờ, vượt khỏi sự lập trình có sẵn. Như chuyện khoa học giả tưởng người ta tạo ra con rô bốt thông minh, nhưng không ngờ nó có thể... biết yêu chẳng hạn, và gây khó xử cho người tạo ra nó!
Như ông Kim Ngọc, khi đang là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú chẳng hạn. Trong một đường ray được lập trình sẵn của nền kinh tế bao cấp, ruộng đất đương nhiên là phải tập thể hóa. Ông lại nảy ra “sáng kiến ngoại trình” là khoán hộ, khởi đầu cho sự đổi mới phù hợp với quy luật khách quan, mang lại hạnh phúc cho đất nước thời kỳ đổi mới sau này.
[...]
Tất nhiên sẽ là khó khăn gian khổ. Là bao nhiêu hệ lụy phải trả giá. Nhưng, lịch sử luôn ghi nhận những trí tuệ và trái tim cao thượng. Bí thư Kim Ngọc ngày xưa bị kỷ luật vì dám nói khác làm khác, thì ngày nay nhiều ngôi trường mang tên ông, và sẽ có thêm nhiều đường phố mang tên ông. Nếu cuộc sống cứ ao tù phẳng lặng, con người cứ đồng phục tư duy, thì đất nước sẽ không người nối người đi lên như ngày nay.
Khoan nói đến những sáng kiến ngoại trình, chỉ là một chút “ngoại trình” không “sáng kiến”, chỉ là một phút ngẫu hứng của cha tôi thôi, mà chiều đông hôm ấy cũng dường như ấm áp hơn, gần gũi và yêu thương hơn.
Các bạn bây giờ hay nói là phải refresh bản thân thường xuyên, phải làm mới mình mỗi ngày. Cuộc sống đang mong chờ những đột phá và sáng tạo để làm ăn với thiên hạ, để ra biển lớn. Cá tính đang được khích lệ. Những phút ngẫu hứng tự nhiên có thể sẽ là “refresh” để đi xa hơn. Nhưng cũng cần phải biết phân biệt cá tính và quái tính, như câu chuyện con cua thường bò ngang. Một hôm có nàng cua trông thấy một con cua bò dọc. Nàng thấy chàng ta “độc đáo” quá, “cá tính” quá, bèn đem lòng yêu. Hôm sau không thấy chàng ta bò dọc nữa, hỏi thì chàng ta trả lời tỉnh rụi: Có phải hôm nào tui cũng say rượu như thế đâu!”
“Tôi nhớ lúc đó là một chiều đông. Cha đón hai chị em tôi về nhà. Trên xe, chúng tôi bật đĩa rock của nhóm Gạt Tàn Đầy. Đến bài “Đám cưới chuột” cả ba chúng tôi đều hát theo. Đột nhiên cha tấp xe vào lề đường, bật volume hết cỡ rung cả sàn chiếc xe còi, ba cha con vỗ nhịp vào vô lăng, vào thành xe, ầm ĩ: “Ai mang cá đến cho con mèo hoang tàn ác, ai mang cá đến cho con mèo hoang say mềm”...
Mẹ tôi bình luận, lại “sáng kiến ngoại trình” rồi! Mẹ chỉ chế giễu một cách hài hước thế thôi. Cha tôi có “lập trình” với “lên kế hoạch” gì đâu, mà cũng chẳng là sáng kiến, chỉ là “ngoại trình” thôi. Nói như bà ngoại có vẻ đúng hơn: Bố tụi nhỏ phồng phồng tẹt tẹt, vui buồn cũng chuyển hướng bất ngờ, như chuyển động Brown!
Sáng kiến ngoại trình phải là những gì nảy sinh bất ngờ, vượt khỏi sự lập trình có sẵn. Như chuyện khoa học giả tưởng người ta tạo ra con rô bốt thông minh, nhưng không ngờ nó có thể... biết yêu chẳng hạn, và gây khó xử cho người tạo ra nó!
Như ông Kim Ngọc, khi đang là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú chẳng hạn. Trong một đường ray được lập trình sẵn của nền kinh tế bao cấp, ruộng đất đương nhiên là phải tập thể hóa. Ông lại nảy ra “sáng kiến ngoại trình” là khoán hộ, khởi đầu cho sự đổi mới phù hợp với quy luật khách quan, mang lại hạnh phúc cho đất nước thời kỳ đổi mới sau này.
[...]
Tất nhiên sẽ là khó khăn gian khổ. Là bao nhiêu hệ lụy phải trả giá. Nhưng, lịch sử luôn ghi nhận những trí tuệ và trái tim cao thượng. Bí thư Kim Ngọc ngày xưa bị kỷ luật vì dám nói khác làm khác, thì ngày nay nhiều ngôi trường mang tên ông, và sẽ có thêm nhiều đường phố mang tên ông. Nếu cuộc sống cứ ao tù phẳng lặng, con người cứ đồng phục tư duy, thì đất nước sẽ không người nối người đi lên như ngày nay.
Khoan nói đến những sáng kiến ngoại trình, chỉ là một chút “ngoại trình” không “sáng kiến”, chỉ là một phút ngẫu hứng của cha tôi thôi, mà chiều đông hôm ấy cũng dường như ấm áp hơn, gần gũi và yêu thương hơn.
Các bạn bây giờ hay nói là phải refresh bản thân thường xuyên, phải làm mới mình mỗi ngày. Cuộc sống đang mong chờ những đột phá và sáng tạo để làm ăn với thiên hạ, để ra biển lớn. Cá tính đang được khích lệ. Những phút ngẫu hứng tự nhiên có thể sẽ là “refresh” để đi xa hơn. Nhưng cũng cần phải biết phân biệt cá tính và quái tính, như câu chuyện con cua thường bò ngang. Một hôm có nàng cua trông thấy một con cua bò dọc. Nàng thấy chàng ta “độc đáo” quá, “cá tính” quá, bèn đem lòng yêu. Hôm sau không thấy chàng ta bò dọc nữa, hỏi thì chàng ta trả lời tỉnh rụi: Có phải hôm nào tui cũng say rượu như thế đâu!”
(Trích Sáng kiến ngoại trình, theo Một chú bé và một người cha,
Đoàn Công Lê Huy, NXB Kim Đồng, 2016, tr. 97-101)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [1105920]: Người viết đã lí giải thế nào là “sáng kiến ngoại trình”?
- Người viết lí giải: Sáng kiến ngoại trình phải là những gì nảy sinh bất ngờ, vượt khỏi sự lập trình có sẵn. Như chuyện khoa học giả tưởng người ta tạo ra con rô bốt thông minh, nhưng không ngờ nó có thể... biết yêu chẳng hạn, và gây khó xử cho người tạo ra nó!
Câu 2 [1105921]: Theo đoạn trích, sáng kiến của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc là gì?
- Theo đoạn trích, sáng kiến của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc là khoán hộ, khởi đầu cho sự đổi mới phù hợp với quy luật khách quan, mang lại hạnh phúc cho đất nước thời kỳ đổi mới sau này.
Câu 3 [1105922]: Anh/Chị hãy phân biệt “cá tính” với “quái tính”.
- Cá tính là nét riêng phân biệt người này với người khác; là sự đột phá, sáng tạo; giúp con người có thể đi xa hơn trong cuộc sống nên được khích lệ.
- Quái tính là sự khác biệt, kì lạ, và không phải lúc nào cũng tích cực.
- Quái tính là sự khác biệt, kì lạ, và không phải lúc nào cũng tích cực.
Câu 4 [1105923]: Từ đoạn trích trên, anh/chị hãy rút ra bài học về cách viết bài văn nghị luận sao cho thuyết phục.
- Trong quá trình làm bài văn nghị luận, muốn thuyết phục người đọc/ người nghe, chúng ta cần có sự sáng tạo, mới lạ, như:
+ Biết cách kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài (nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm).
+ Lấy dẫn chứng tiêu biểu, độc đáo để minh họa. + ...
+ Biết cách kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài (nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm).
+ Lấy dẫn chứng tiêu biểu, độc đáo để minh họa. + ...
Câu 5 [1105924]: Chỉ ra một thông điệp từ đoạn trích.
- Thông điệp: Con người cần biết làm mới bản thân thường xuyên để khám phá những tiềm năng của chính mình; làm cuộc sống thêm thú vị với những màu sắc, thanh âm,... tươi tắn, tích cực.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [704916]: (2,0 điểm)
Từ đoạn trích thuộc phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ), trình bày suynghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy sáng tạo trong học tập cũng nhưtrong cuộc sống.
Từ đoạn trích thuộc phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ), trình bày suynghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy sáng tạo trong học tập cũng nhưtrong cuộc sống.
- Sáng tạo: tạo nên điều mới, chưa từng có/ tạo ra điều khác biệt dựa trên những điều đã có.
- Tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy sáng tạo trong học tập cũng như trong cuộc sống:
+ Giúp mỗi người khẳng định được bản thân mình, ghi dấu sự tồn tại độc lập và giá trị của bản thân trong cuộc đời; tạo nên nhiều giá trị độc đáo đóng góp cho xã hội, từ đó được cộng đồng xã hội yêu mến, trân trọng;...
+ Góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú cho cuộc sống, làm cuộc sống trở nên tươi đẹp, nhiều màu sắc hơn; góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội;...
+ Thực tế cho thấy nhiều người chưa nhận thức đầy đủ vai trò của tư duy sáng tạo, dẫn đến lối học tập và làm việc máy móc, rập khuôn, thiếu linh hoạt. Điều đó khiến con người trở nên thụ động, khó thích nghi với sự thay đổi của xã hội và hạn chế cơ hội phát triển bản thân.
- Tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy sáng tạo trong học tập cũng như trong cuộc sống:
+ Giúp mỗi người khẳng định được bản thân mình, ghi dấu sự tồn tại độc lập và giá trị của bản thân trong cuộc đời; tạo nên nhiều giá trị độc đáo đóng góp cho xã hội, từ đó được cộng đồng xã hội yêu mến, trân trọng;...
+ Góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú cho cuộc sống, làm cuộc sống trở nên tươi đẹp, nhiều màu sắc hơn; góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội;...
+ Thực tế cho thấy nhiều người chưa nhận thức đầy đủ vai trò của tư duy sáng tạo, dẫn đến lối học tập và làm việc máy móc, rập khuôn, thiếu linh hoạt. Điều đó khiến con người trở nên thụ động, khó thích nghi với sự thay đổi của xã hội và hạn chế cơ hội phát triển bản thân.
Câu 7 [704917]: (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ), so sánh hai bài thơ sau:
(1)
(2)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ), so sánh hai bài thơ sau:
(1)
MẸ
(Nguyễn Ngọc Oánh)
Cành bàng thả lá heo may
Mẹ gầy, cái dáng khô gầy cành tre
Gót chai nứt nẻ đông hè
Ruộng sâu bấm mãi đã tòe ngón chân
Mẹ ngồi vá áo trước sân
Vá bao mong ước tay, sần mũi kim
Bát canh đắng lá chân chim
Lẫn vài con tép mẹ tìm dành con
Co ro một mảnh chăn mòn
Tàn đêm, giấc ngủ vẫn còn ngoài chăn
Mẹ gom giẻ rách, giấy manh
Mặc đôi quang thủng, giữ lành tiếng rao
Áo nâu phơi vẹo bờ rào
Cái phận đã bạc còn cào phải gai
Quả cà cõng mấy củ khoai
Con thút thít, mẹ nghẹn hai ba lần
Tối về đến lớp bình dân
I tờ nhặt được đôi vần lại rơi
Cha con trời gọi về trời
Chái nhà mưa dột, ướt lời ru thương
Tiễn con ra chốn chiến trường
Gạt thầm nước mắt, mong đường con khô
Hai tay hết sẻ lại cho
Còn phần mẹ - một thân cò qua sông.
1994
(Theo Tuyển tập Thơ Việt Nam 1975 - 2000, tập 2, NXB Hội Nhà văn, 2001)
(2)
BỜ SÔNG VẪN GIÓ
(Trúc Thông)
Chị em con kính dâng hương hồn mẹ
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối... một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một đời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha
Cây cau cũ, giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.
(Theo baovannghe.vn)
Bài văn so sánh hai bài thơ Mẹ (Nguyễn Ngọc Oánh), Bờ sông vẫn gió (Trúc Thông) có thể được triển khai theo nhiều cách, song cần bảo đảm các ý:
* Giới thiệu các tác giả, các tác phẩm
- Nguyễn Ngọc Oánh:
+ Xuất thân là một nhà làm kinh tế, song ông lại “bén duyên” với văn chương. Tuy nhiên, không như một số tác giả sau một thời gian chuyển hẳn sang lĩnh vực hoạt động văn học, Nguyễn Ngọc Oánh là một trong số các tác giả vẫn trụ lại ở lĩnh vực chuyên môn của mình, vừa làm khoa học, làm quản lí, vừa làm thơ. Ông tâm sự về điều này trong cuốn Nhà văn Việt Nam Hiện đại (NXB Hội Nhà văn, 2007): “Tôi làm nghề ngân hàng, một nghề đòi hỏi phải nhạy cảm, quyết đoán và giàu ước mơ... Hằng ngày sống với những con số, những tư duy chính xác, có bản lĩnh trong quản lí và kinh doanh, càng cần đến thơ... Thơ như của nhặt được, nhiều khi tự dưng mà có...”.
+ Thơ ông không cầu kì khó hiểu mà vẫn sâu đậm chất triết lí dân dã trong trẻo, chất tình tứ của hội làng; đằm thắm nét truyền thống và bộn bề cốt cách hiện đại. Nhiều bài đạt đến độ toàn bích, có nhiều câu, đoạn gây xúc động, tạo được cái vỡ òa về cảm xúc và thẩm mỹ đối với người đọc...
+ Bài thơ Mẹ của ông được bình chọn là một trong 100 bài thơ hay của thế kỉ XX...
- Trúc Thông:
+ Làm thơ từ rất sớm nhưng ông nổi tiếng khá muộn so với lớp nhà thơ cùng trang lứa. Thơ ca đối với Trúc Thông là nghiệp, đồng thời cũng là nghề nên thi sĩ chỉ có một con đường duy nhất: Sống, chết với thơ.
+ Vì sống, chết với thơ nên ngoài yếu tố “trời cho” (rất ít ỏi), còn lại ở Trúc Thông là sự khổ công rèn luyện, một lòng một dạ với thơ, chuyên nghiệp hóa ở tầng nấc cao. Thơ với ông vừa trong sáng vừa thấm đẫm lao động cực nhọc. Nó đòi hỏi kỉ luật nghiêm túc, lúc nào cũng nghĩ, lúc nào cũng viết. Tự nuôi dưỡng niềm thi hứng bằng sự miệt mài nỗ lực.
+ Bờ sông vẫn gió cũng được bình chọn là một trong 100 bài thơ hay của thế kỉ XX...
* So sánh, đánh giá hai bài thơ
- Cơ sở so sánh: Hai bài thơ cùng đề tài (người mẹ), cảm hứng chủ đạo (thương nhớ, kính yêu mẹ).
- Mục đích so sánh: làm rõ điểm tương đồng, khác biệt giữa hai bài thơ
- Nội dung so sánh:
+ So sánh hai bài thơ:
• Tương đồng:
o Cả hai bài thơ đều khắc hoạ hình tượng người mẹ qua cảm xúc đong đầy thương kính của người con.
◼️ Người mẹ trong bài thơ Mẹ của Nguyễn Ngọc Oánh hiện lên qua các chi tiết: gợi tả dáng vẻ bề ngoài vất vả, lam lũ, tảo tần (cái dáng khô gầy cành tre, gót chai nứt nẻ, ngón chân toè vì bấm ruộng sâu, mẹ ngồi vá áo, áo nâu phơi vẹo bờ rào,...); luôn chắt chiu, dành dụm cho con (Bát canh đắng lá chân chim/ Lẫn vài con tép mẹ tìm dành con, Mẹ gom giẻ rách, giấy manh, Hai tay hết sẻ lại cho,...); luôn mong những điều bình yên, tốt đẹp đến với con (Gạt thầm nước mắt, mong đường con khô). ⟶ Hình tượng người mẹ hiện lên khá đầy đặn qua nỗi nhớ, sự khắc ghi sâu sắc của người con.
◼️ Người mẹ trong bài thơ Bờ sông vẫn gió của Trúc Thông hiện lên gắn liền với không gian bờ sông quê nhà - không gian quen thuộc mà ngày còn trẻ, thời tóc xanh, mẹ hay ra đó.
o Cả hai nhà thơ đều lựa chọn thể thơ lục bát; ngôn ngữ, hình ảnh mộc mạc, giản dị, gần gũi, đời thường (lá bàng, gió heo may, cành tre, gót chân nứt nẻ, ruộng sâu, áo vá, canh rau đắng, con tép, giẻ rách, giấy manh, đôi quang thủng, áo nâu, bờ rào, quả cà, củ khoai,...; lá ngô, bờ sông, bến sông, phần mộ, cây cau, hiên nhà;...)
• Khác biệt
o Nguyễn Ngọc Oánh chủ yếu khắc hoạ hình tượng người mẹ thôn quê nghèo khó, lam lũ; cả đời hi sinh vì chồng con trong những năm tháng gian lao của đất nước bằng bút pháp tả thực. Những nét riêng ở người mẹ cũng được tô đậm qua các dòng thơ: Mặc đôi quang thủng, giữ lành tiếng rao, Tối về lớp học bình dân/ I tờ nhặt được đôi vần lại rơi; Tiễn con ra chốn chiến trường/ Gạt thầm nước mắt, mong đường con khô.
o Trúc Thông chủ yếu phác tạc hình tượng người mẹ bằng bút pháp gợi tả, qua một vài chi tiết về mẹ thời con gái (Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh), mẹ khi đã khuất (Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha), trong những không gian quen thuộc (Cây cau cũ, giại hiên nhà, gió thổi sông xa). Từ đó, bài thơ bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình một cách rõ nét.
+ Đánh giá
• Sự tương đồng giữa hai nhà thơ góp phần tô đậm cho đề tài; thể hiện sự đồng điệu trong cảm xúc của các nhà thơ khi viết về mẹ.
• Sự khác biệt khẳng định vẻ riêng trong cách tiếp cận và thể hiện của mỗi nhà thơ về mẹ; góp phần làm phong phú thêm cho đề tài người mẹ trong thơ ca.
+ Lí giải:
• Sự tương đồng bắt nguồn từ tình cảm căn bản của con người - tình mẫu tử; từ nhận thức về sự phù hợp của thể thơ lục bát với việc truyền tải cảm hứng chủ đạo của lời thơ.
• Sự khác biệt bắt nguồn từ ý thức về cá tính sáng tạo của mỗi người cầm bút.
* Đánh giá chung
Cả hai bài thơ đều là những thi phẩm đặc sắc trong đề tài người mẹ, có sức lan thấm, bồi đắp tình mẫu tử thiêng liêng trong mỗi con người.
<*> Tham khảo bài viết:
Mở đầu bài thơ là chân dung giản dị, chân thực của một bà mẹ nghèo, “quê kiểng”: “Mẹ gầy, cái dáng khô gầy cành tre/ Gót chai nứt nẻ đông hè/ Ruộng sâu bấm mãi đã tòe ngón chân”. Với cái dáng “khô gầy cành tre”, gót chân chai cứng nứt nẻ tứ mùa và những ngón chân “tòe ngón”, mẹ hiện lên gần gũi, quen thuộc, sống động, như ta đã gặp đâu đó ngoài đời. Chỉ bằng vài chi tiết, hình ảnh, nhà thơ đã khắc họa thành công chân dung người mẹ nông dân lam lũ, cơ cực, quanh năm vất vả với công việc đồng áng. Cuộc sống của mẹ nghèo, tưởng không gì có thể nghèo hơn: “Co ro một mảnh chăn mòn”, vậy mà “Tàn đêm, giấc ngủ vẫn còn ngoài chăn”. Câu thơ dường như diễn tả nỗi lo lắng luôn thường trực trong mẹ, ám ảnh giấc ngủ của mẹ hằng đêm chăng? Không chỉ thế, người mẹ trong bài thơ chẳng nề hà bất cứ công việc gì, miễn là việc ấy có ích: “Mẹ gom giẻ rách, giấy manh/ Mặc đôi quang thủng giữ lành tiếng rao”. Vì gia cảnh nghèo khó, mẹ phải đi gom nhặt giẻ rách, giấy manh... bằng đôi quang thủng, nhưng mẹ vẫn “giữ lành tiếng rao”, sống trong sạch, giản dị, bằng chính sức lao động của mình.
Những lúc nông nhàn, mẹ lại làm cái công việc quen thuộc “vá áo”, đến nỗi ngón tay cầm kim đã “sần”. Ở câu thơ này, tác giả dùng từ ngữ rất tinh tế diễn tả tình mẹ: “vá bao mong ước”... Mỗi đường kim mũi chỉ của mẹ, không chỉ chứa đựng tình cảm, mà còn gửi vào đó bao mong ước tốt đẹp cho con, cho cuộc đời này. Mẹ chăm chút cho con từ tấm áo đến miếng ăn, giấc ngủ. Nhường nhịn là bản chất của người phụ nữ Việt Nam: “Miếng nạc thì để phần chồng/ Miếng xương phần mẹ miếng lòng phần con” (ca dao). Mẹ cũng vậy: “Bát canh đắng lá chân chim/ Lẫn vài con tép mẹ tìm dành con” và “Quả cà cõng mấy củ khoai/ Con thút thít, mẹ nghẹn hai ba lần”. Tấm lòng người mẹ thật lớn lao, mẹ luôn nhận về mình phần thiếu khó, dành cho con tất cả.
Thấu hiểu phận nghèo cùng nỗi vất vả, cơ cực của mẹ, người thơ xót xa “Áo nâu phơi vẹo bờ rào/ Cái phận đã bạc còn cào phải gai”, câu thơ được hiểu theo nghĩa bóng, làm cho nỗi cơ cực càng cơ cực hơn. Dù vậy, mẹ không hề than thân, trách phận, mẹ vẫn dành thời gian để học chữ, dẫu đây là một việc đầy khó khăn: “Tối về đến lớp bình dân/ I tờ nhặt được đôi vần lại rơi”, phải chăng mẹ cố gắng học chữ cho bằng người và để làm gương cho các con?
Mẹ là thế, bình dị nhưng vô cùng vĩ đại. Khi đất nước có chiến tranh, cũng như bao bà mẹ Việt Nam khác, mẹ gạt thầm nước mắt, tiễn con ra chiến trường, mong ngày chiến thắng, con bình an trở về. Câu thơ “Hai tay hết sẻ lại cho” đã khái quát chân thực phẩm chất cao đẹp của mẹ: nhân hậu, vị tha, suốt đời hy sinh (cho con, cho gia đình, cho đất nước). Hình ảnh ẩn dụ “một thân cò qua sông” càng làm sáng đẹp hơn cuộc đời tần tảo, thầm lặng hy sinh của mẹ.
Bài thơ “Mẹ” của Nguyễn Ngọc Oánh đã phác họa sinh động bức chân dung vật chất và tinh thần của mẹ bằng những từ ngữ, thi ảnh gần gũi, giản dị, lay động trái tim độc giả. Cảm hứng nổi bật của bài thơ là tình mẹ, là lòng biết ơn, kính phục và tự hào của con đối với mẹ. Mẹ là nguồn mạch của sự sống và tình yêu. Có mẹ là con có cả một bầu trời yêu thương rộng lớn.
Nhan đề “Bờ sông vẫn gió” khơi gợi về một không gian thoáng, rộng nhưng cũng thật buồn. “Bờ sông” đây tác giả nói đến đoạn bờ sông Sắt, sông Liêm Phong, là những chi nhánh của sông Đáy, sông Châu Giang thuộc hệ thống sông Hồng ở vùng quê hương Bình Lục - Hà Nam, nơi mẹ tác giả quanh năm đi về để lo sinh kế cho con cái và gia đình. Hiện tại cảnh “bờ sông” vẫn như xưa nhưng chẳng còn thấy mẹ đâu? Bao nhiêu đớn đau, thương tiếc, xót xa...
Trúc Thông (1940 - 2021) là nhà thơ lớn từng đoạt nhiều giải thưởng của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam và Hà Nội, được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2016. Ông là một trong số ít các thi nhân luôn trăn trở với những tìm tòi, đổi mới trong biểu đạt thơ. Quan điểm đổi mới thi ca của ông rất gần gũi với nhà thơ Thanh Thảo và có ảnh hưởng rõ nét tới sáng tác những cây bút trẻ. Nhiều cây bút coi ông là thần tượng. Bài thơ này là một ví dụ tiêu biểu, tuy nhà thơ dùng thể lục bát truyền thống - thể thơ được coi là “xương sống của nền thi ca Việt” - nhưng có sự cách tân rõ rệt ở nhiều phương diện để giãi bày những tình cảm chân thành mà rất đỗi thiêng liêng về mẹ. Với tấm lòng hiếu thảo và nhớ thương mẹ khôn nguôi, chủ thể trữ tình về quê thăm mẹ, đi chầm chậm trên con đường mẹ thường xuyên qua trước đây như để tìm lại bóng dáng người mẹ thân thương.
Những câu thơ mở đầu phác họa sự tương phản giữa cảnh vật và con người. Thơ lục bát thường ngắt nhịp chẵn. Dấu hiệu đổi mới trước tiên ở đây là nhà thơ ngắt nhịp lẻ ở câu lục thành 3/3 rất khác thường “Lá ngô lay ở bờ sông”. Đáng chú ý hơn nữa về sự cách tân là: ở câu bát tác giả ngắt thành hai dòng thơ: “Bờ sông vẫn gió/ Người không thấy về”. Điều này nếu là thơ đương đại ngày nay là lối thơ lục bát ngắt dòng khá quen thuộc, nhưng đặt trong hoàn cảnh lịch sử bài thơ ra đời cách nay đã hơn 40 năm, đó là rất mới, rất sáng tạo. Nhờ đó, câu thơ như tiếng nấc nghẹn lại trước cảnh cũ người đâu?... Sự đối lập giữa thiên nhiên vô tư “lá ngô lay”, “Bờ sông vẫn gió” và con người đầy tâm trạng bởi cảnh vẫn còn đây nhưng người đâu chẳng thấy... Nỗi xót đau như trùm lên cả không gian, vạn vật.
Tuy đã biết mẹ về cõi vĩnh hằng là quy luật nhưng lòng tác giả không muốn chấp nhận điều đó, vẫn cầu xin một lần mẹ trở về: “Xin người hãy trở về quê/ Một lần cuối... một lần về cuối thôi”. Lại lần thứ ba trong bài câu thơ tiếp theo ngắt nhịp lẻ 3/5 cùng các điệp từ “một lần” và điệp ngữ “một lần cuối” tạo sự chú ý của người đọc. Điểm thứ tư đáng chú ý là việc sử dụng sáng tạo thanh điệu: chữ “một” trong vế câu “... một lần về cuối thôi” là âm tiết thứ tư trong câu bát. Theo luật B - T (bằng - trắc) lẽ ra phải là thanh bằng nhưng ở đây nhà thơ lại dùng thanh trắc, kết hợp với dấu chấm lửng giữa dòng thơ đã nhấn mạnh nỗi nhớ mẹ đến ngẩn ngơ, niềm mong mỏi đau đáu mẹ hãy về, để con được gặp mẹ kính yêu thêm một lần cuối. Hơn nữa, mẹ: “Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh”. Từ “về” điệp tới năm lần, phải chăng nhà thơ nói đến quy luật ở đời sống gửi, thác về? Nghệ thuật nhân hoá rất đắt giá ở những câu thơ trên khiến cảnh vật thiên nhiên bờ sông, bến nước cũng nặng tình buồn đau, tiếc nhớ. Nhà thơ thương mẹ vất vả suốt thời tuổi trẻ phải lặn ngụp giữa bao nhiêu dâu bể của cuộc đời nhưng chủ thể trữ tình cố nén lại: “Lệ xin giọt cuối để dành”. Hàng loạt từ “thương, buồn, lệ” xuất hiện ở đầu những câu thơ liên tiếp nhau càng khơi gợi nỗi buồn thương khiến người đọc rưng rưng nước mắt. Việc sinh tử ở đời chẳng ai tránh được? Thi nhân tự an ủi: nếu mẹ về với thế giới bên kia sẽ được bên cha, có cha ra phần mộ chờ đón, mẹ sẽ không lẻ loi: “Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha”. Mấy câu thơ tiếp gợi tả hình ảnh cây cối, đồ dùng thân thuộc trong ngôi nhà mẹ. Cây cau và giại hiên nhà, tấm bình phong đan bằng tre để chắn gió mưa, một vật dụng rất quen thuộc với những ngôi nhà ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, cũng trào dâng nỗi niềm nhớ thương mẹ khi gió từ sông xa thổi về. Hai câu kết bài thực sự là cao trào cảm xúc, những hình ảnh đó neo lại đậm nhất trong lòng người đọc. “Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi”. Đây lại là sự ngắt nhịp 3/5 rất ấn tượng buộc người đọc phải chú ý. Phải chăng người con tự nguyện muốn rút ngắn lại “đường gần” cuộc đời hữu hạn của mình để được thấy mẹ về thêm một lần nữa, sống thọ hơn nữa. Tấm lòng thương yêu và hiếu kính với mẹ thật tha thiết, sâu nặng biết bao.
Trên thế giới này, không có tấm ân tình nào dành cho ta lớn hơn ân tình của cha mẹ. Vì thế, tấm chân tình của người con Trúc Thông dâng lên hương hồn mẹ kính yêu đã nói hộ tấm lòng của biết bao đứa con, nói hộ lòng chúng ta với các đấng sinh thành. Bài thơ đã chạm đến trái tim người đọc, làm rung ngân và cộng hưởng những cảm xúc thẩm mĩ khiến tâm hồn chúng ta như được thanh lọc để ngày càng yêu thương nhiều hơn, sáng trong và cao đẹp hơn...
* Giới thiệu các tác giả, các tác phẩm
- Nguyễn Ngọc Oánh:
+ Xuất thân là một nhà làm kinh tế, song ông lại “bén duyên” với văn chương. Tuy nhiên, không như một số tác giả sau một thời gian chuyển hẳn sang lĩnh vực hoạt động văn học, Nguyễn Ngọc Oánh là một trong số các tác giả vẫn trụ lại ở lĩnh vực chuyên môn của mình, vừa làm khoa học, làm quản lí, vừa làm thơ. Ông tâm sự về điều này trong cuốn Nhà văn Việt Nam Hiện đại (NXB Hội Nhà văn, 2007): “Tôi làm nghề ngân hàng, một nghề đòi hỏi phải nhạy cảm, quyết đoán và giàu ước mơ... Hằng ngày sống với những con số, những tư duy chính xác, có bản lĩnh trong quản lí và kinh doanh, càng cần đến thơ... Thơ như của nhặt được, nhiều khi tự dưng mà có...”.
+ Thơ ông không cầu kì khó hiểu mà vẫn sâu đậm chất triết lí dân dã trong trẻo, chất tình tứ của hội làng; đằm thắm nét truyền thống và bộn bề cốt cách hiện đại. Nhiều bài đạt đến độ toàn bích, có nhiều câu, đoạn gây xúc động, tạo được cái vỡ òa về cảm xúc và thẩm mỹ đối với người đọc...
+ Bài thơ Mẹ của ông được bình chọn là một trong 100 bài thơ hay của thế kỉ XX...
- Trúc Thông:
+ Làm thơ từ rất sớm nhưng ông nổi tiếng khá muộn so với lớp nhà thơ cùng trang lứa. Thơ ca đối với Trúc Thông là nghiệp, đồng thời cũng là nghề nên thi sĩ chỉ có một con đường duy nhất: Sống, chết với thơ.
+ Vì sống, chết với thơ nên ngoài yếu tố “trời cho” (rất ít ỏi), còn lại ở Trúc Thông là sự khổ công rèn luyện, một lòng một dạ với thơ, chuyên nghiệp hóa ở tầng nấc cao. Thơ với ông vừa trong sáng vừa thấm đẫm lao động cực nhọc. Nó đòi hỏi kỉ luật nghiêm túc, lúc nào cũng nghĩ, lúc nào cũng viết. Tự nuôi dưỡng niềm thi hứng bằng sự miệt mài nỗ lực.
+ Bờ sông vẫn gió cũng được bình chọn là một trong 100 bài thơ hay của thế kỉ XX...
* So sánh, đánh giá hai bài thơ
- Cơ sở so sánh: Hai bài thơ cùng đề tài (người mẹ), cảm hứng chủ đạo (thương nhớ, kính yêu mẹ).
- Mục đích so sánh: làm rõ điểm tương đồng, khác biệt giữa hai bài thơ
- Nội dung so sánh:
+ So sánh hai bài thơ:
• Tương đồng:
o Cả hai bài thơ đều khắc hoạ hình tượng người mẹ qua cảm xúc đong đầy thương kính của người con.
◼️ Người mẹ trong bài thơ Mẹ của Nguyễn Ngọc Oánh hiện lên qua các chi tiết: gợi tả dáng vẻ bề ngoài vất vả, lam lũ, tảo tần (cái dáng khô gầy cành tre, gót chai nứt nẻ, ngón chân toè vì bấm ruộng sâu, mẹ ngồi vá áo, áo nâu phơi vẹo bờ rào,...); luôn chắt chiu, dành dụm cho con (Bát canh đắng lá chân chim/ Lẫn vài con tép mẹ tìm dành con, Mẹ gom giẻ rách, giấy manh, Hai tay hết sẻ lại cho,...); luôn mong những điều bình yên, tốt đẹp đến với con (Gạt thầm nước mắt, mong đường con khô). ⟶ Hình tượng người mẹ hiện lên khá đầy đặn qua nỗi nhớ, sự khắc ghi sâu sắc của người con.
◼️ Người mẹ trong bài thơ Bờ sông vẫn gió của Trúc Thông hiện lên gắn liền với không gian bờ sông quê nhà - không gian quen thuộc mà ngày còn trẻ, thời tóc xanh, mẹ hay ra đó.
o Cả hai nhà thơ đều lựa chọn thể thơ lục bát; ngôn ngữ, hình ảnh mộc mạc, giản dị, gần gũi, đời thường (lá bàng, gió heo may, cành tre, gót chân nứt nẻ, ruộng sâu, áo vá, canh rau đắng, con tép, giẻ rách, giấy manh, đôi quang thủng, áo nâu, bờ rào, quả cà, củ khoai,...; lá ngô, bờ sông, bến sông, phần mộ, cây cau, hiên nhà;...)
• Khác biệt
o Nguyễn Ngọc Oánh chủ yếu khắc hoạ hình tượng người mẹ thôn quê nghèo khó, lam lũ; cả đời hi sinh vì chồng con trong những năm tháng gian lao của đất nước bằng bút pháp tả thực. Những nét riêng ở người mẹ cũng được tô đậm qua các dòng thơ: Mặc đôi quang thủng, giữ lành tiếng rao, Tối về lớp học bình dân/ I tờ nhặt được đôi vần lại rơi; Tiễn con ra chốn chiến trường/ Gạt thầm nước mắt, mong đường con khô.
o Trúc Thông chủ yếu phác tạc hình tượng người mẹ bằng bút pháp gợi tả, qua một vài chi tiết về mẹ thời con gái (Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh), mẹ khi đã khuất (Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha), trong những không gian quen thuộc (Cây cau cũ, giại hiên nhà, gió thổi sông xa). Từ đó, bài thơ bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình một cách rõ nét.
+ Đánh giá
• Sự tương đồng giữa hai nhà thơ góp phần tô đậm cho đề tài; thể hiện sự đồng điệu trong cảm xúc của các nhà thơ khi viết về mẹ.
• Sự khác biệt khẳng định vẻ riêng trong cách tiếp cận và thể hiện của mỗi nhà thơ về mẹ; góp phần làm phong phú thêm cho đề tài người mẹ trong thơ ca.
+ Lí giải:
• Sự tương đồng bắt nguồn từ tình cảm căn bản của con người - tình mẫu tử; từ nhận thức về sự phù hợp của thể thơ lục bát với việc truyền tải cảm hứng chủ đạo của lời thơ.
• Sự khác biệt bắt nguồn từ ý thức về cá tính sáng tạo của mỗi người cầm bút.
* Đánh giá chung
Cả hai bài thơ đều là những thi phẩm đặc sắc trong đề tài người mẹ, có sức lan thấm, bồi đắp tình mẫu tử thiêng liêng trong mỗi con người.
<*> Tham khảo bài viết:
VỀ BÀI THƠ “MẸ” (NGUYỄN NGỌC OÁNH)
Từ xưa tới nay và mãi mãi về sau, mẹ luôn là cảm hứng bất tận cho các loại hình sáng tác nghệ thuật. Mẹ là ngôn từ đẹp nhất trong mọi ngôn từ, là cảm hứng tạo nên những bài thơ hay nhất, bản nhạc đẹp nhất. Không ai có thể thống kê hết có bao nhiêu bài thơ hay viết về mẹ, chỉ biết rằng những bài thơ ấy đều được viết lên bằng sự rung cảm chân thành của con tim. Bài “Mẹ” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Oánh là một trong những bài thơ như thế.Mở đầu bài thơ là chân dung giản dị, chân thực của một bà mẹ nghèo, “quê kiểng”: “Mẹ gầy, cái dáng khô gầy cành tre/ Gót chai nứt nẻ đông hè/ Ruộng sâu bấm mãi đã tòe ngón chân”. Với cái dáng “khô gầy cành tre”, gót chân chai cứng nứt nẻ tứ mùa và những ngón chân “tòe ngón”, mẹ hiện lên gần gũi, quen thuộc, sống động, như ta đã gặp đâu đó ngoài đời. Chỉ bằng vài chi tiết, hình ảnh, nhà thơ đã khắc họa thành công chân dung người mẹ nông dân lam lũ, cơ cực, quanh năm vất vả với công việc đồng áng. Cuộc sống của mẹ nghèo, tưởng không gì có thể nghèo hơn: “Co ro một mảnh chăn mòn”, vậy mà “Tàn đêm, giấc ngủ vẫn còn ngoài chăn”. Câu thơ dường như diễn tả nỗi lo lắng luôn thường trực trong mẹ, ám ảnh giấc ngủ của mẹ hằng đêm chăng? Không chỉ thế, người mẹ trong bài thơ chẳng nề hà bất cứ công việc gì, miễn là việc ấy có ích: “Mẹ gom giẻ rách, giấy manh/ Mặc đôi quang thủng giữ lành tiếng rao”. Vì gia cảnh nghèo khó, mẹ phải đi gom nhặt giẻ rách, giấy manh... bằng đôi quang thủng, nhưng mẹ vẫn “giữ lành tiếng rao”, sống trong sạch, giản dị, bằng chính sức lao động của mình.
Những lúc nông nhàn, mẹ lại làm cái công việc quen thuộc “vá áo”, đến nỗi ngón tay cầm kim đã “sần”. Ở câu thơ này, tác giả dùng từ ngữ rất tinh tế diễn tả tình mẹ: “vá bao mong ước”... Mỗi đường kim mũi chỉ của mẹ, không chỉ chứa đựng tình cảm, mà còn gửi vào đó bao mong ước tốt đẹp cho con, cho cuộc đời này. Mẹ chăm chút cho con từ tấm áo đến miếng ăn, giấc ngủ. Nhường nhịn là bản chất của người phụ nữ Việt Nam: “Miếng nạc thì để phần chồng/ Miếng xương phần mẹ miếng lòng phần con” (ca dao). Mẹ cũng vậy: “Bát canh đắng lá chân chim/ Lẫn vài con tép mẹ tìm dành con” và “Quả cà cõng mấy củ khoai/ Con thút thít, mẹ nghẹn hai ba lần”. Tấm lòng người mẹ thật lớn lao, mẹ luôn nhận về mình phần thiếu khó, dành cho con tất cả.
Thấu hiểu phận nghèo cùng nỗi vất vả, cơ cực của mẹ, người thơ xót xa “Áo nâu phơi vẹo bờ rào/ Cái phận đã bạc còn cào phải gai”, câu thơ được hiểu theo nghĩa bóng, làm cho nỗi cơ cực càng cơ cực hơn. Dù vậy, mẹ không hề than thân, trách phận, mẹ vẫn dành thời gian để học chữ, dẫu đây là một việc đầy khó khăn: “Tối về đến lớp bình dân/ I tờ nhặt được đôi vần lại rơi”, phải chăng mẹ cố gắng học chữ cho bằng người và để làm gương cho các con?
Mẹ là thế, bình dị nhưng vô cùng vĩ đại. Khi đất nước có chiến tranh, cũng như bao bà mẹ Việt Nam khác, mẹ gạt thầm nước mắt, tiễn con ra chiến trường, mong ngày chiến thắng, con bình an trở về. Câu thơ “Hai tay hết sẻ lại cho” đã khái quát chân thực phẩm chất cao đẹp của mẹ: nhân hậu, vị tha, suốt đời hy sinh (cho con, cho gia đình, cho đất nước). Hình ảnh ẩn dụ “một thân cò qua sông” càng làm sáng đẹp hơn cuộc đời tần tảo, thầm lặng hy sinh của mẹ.
Bài thơ “Mẹ” của Nguyễn Ngọc Oánh đã phác họa sinh động bức chân dung vật chất và tinh thần của mẹ bằng những từ ngữ, thi ảnh gần gũi, giản dị, lay động trái tim độc giả. Cảm hứng nổi bật của bài thơ là tình mẹ, là lòng biết ơn, kính phục và tự hào của con đối với mẹ. Mẹ là nguồn mạch của sự sống và tình yêu. Có mẹ là con có cả một bầu trời yêu thương rộng lớn.
(Theo Nguyễn Thị Bình, baohaiduong.vn)
VỀ BÀI THƠ “BỜ SÔNG VẪN GIÓ” (TRÚC THÔNG)
Trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, nếu kể các bài thơ hay nhất về mẹ, không thể không nói đến “Bờ sông vẫn gió” của nhà thơ Trúc Thông. Mới nghe, tưởng như bài thơ là tiếng khóc của đứa con trước hương hồn của mẹ. Thực ra thi phẩm ra đời năm 1983, trong lần thi nhân về quê thăm mẹ, một năm sau đó mẹ tác giả mới mất. Thi phẩm là tiếng nói từ trái tim nặng sâu tình mẫu tử của người con tưởng tượng cảnh mẹ về với miền mây trắng, ẩn trong đó là tình cảm yêu thương, nhớ tiếc và tấm lòng biết ơn vô hạn công lao của đấng sinh thành.Nhan đề “Bờ sông vẫn gió” khơi gợi về một không gian thoáng, rộng nhưng cũng thật buồn. “Bờ sông” đây tác giả nói đến đoạn bờ sông Sắt, sông Liêm Phong, là những chi nhánh của sông Đáy, sông Châu Giang thuộc hệ thống sông Hồng ở vùng quê hương Bình Lục - Hà Nam, nơi mẹ tác giả quanh năm đi về để lo sinh kế cho con cái và gia đình. Hiện tại cảnh “bờ sông” vẫn như xưa nhưng chẳng còn thấy mẹ đâu? Bao nhiêu đớn đau, thương tiếc, xót xa...
Trúc Thông (1940 - 2021) là nhà thơ lớn từng đoạt nhiều giải thưởng của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam và Hà Nội, được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2016. Ông là một trong số ít các thi nhân luôn trăn trở với những tìm tòi, đổi mới trong biểu đạt thơ. Quan điểm đổi mới thi ca của ông rất gần gũi với nhà thơ Thanh Thảo và có ảnh hưởng rõ nét tới sáng tác những cây bút trẻ. Nhiều cây bút coi ông là thần tượng. Bài thơ này là một ví dụ tiêu biểu, tuy nhà thơ dùng thể lục bát truyền thống - thể thơ được coi là “xương sống của nền thi ca Việt” - nhưng có sự cách tân rõ rệt ở nhiều phương diện để giãi bày những tình cảm chân thành mà rất đỗi thiêng liêng về mẹ. Với tấm lòng hiếu thảo và nhớ thương mẹ khôn nguôi, chủ thể trữ tình về quê thăm mẹ, đi chầm chậm trên con đường mẹ thường xuyên qua trước đây như để tìm lại bóng dáng người mẹ thân thương.
Những câu thơ mở đầu phác họa sự tương phản giữa cảnh vật và con người. Thơ lục bát thường ngắt nhịp chẵn. Dấu hiệu đổi mới trước tiên ở đây là nhà thơ ngắt nhịp lẻ ở câu lục thành 3/3 rất khác thường “Lá ngô lay ở bờ sông”. Đáng chú ý hơn nữa về sự cách tân là: ở câu bát tác giả ngắt thành hai dòng thơ: “Bờ sông vẫn gió/ Người không thấy về”. Điều này nếu là thơ đương đại ngày nay là lối thơ lục bát ngắt dòng khá quen thuộc, nhưng đặt trong hoàn cảnh lịch sử bài thơ ra đời cách nay đã hơn 40 năm, đó là rất mới, rất sáng tạo. Nhờ đó, câu thơ như tiếng nấc nghẹn lại trước cảnh cũ người đâu?... Sự đối lập giữa thiên nhiên vô tư “lá ngô lay”, “Bờ sông vẫn gió” và con người đầy tâm trạng bởi cảnh vẫn còn đây nhưng người đâu chẳng thấy... Nỗi xót đau như trùm lên cả không gian, vạn vật.
Tuy đã biết mẹ về cõi vĩnh hằng là quy luật nhưng lòng tác giả không muốn chấp nhận điều đó, vẫn cầu xin một lần mẹ trở về: “Xin người hãy trở về quê/ Một lần cuối... một lần về cuối thôi”. Lại lần thứ ba trong bài câu thơ tiếp theo ngắt nhịp lẻ 3/5 cùng các điệp từ “một lần” và điệp ngữ “một lần cuối” tạo sự chú ý của người đọc. Điểm thứ tư đáng chú ý là việc sử dụng sáng tạo thanh điệu: chữ “một” trong vế câu “... một lần về cuối thôi” là âm tiết thứ tư trong câu bát. Theo luật B - T (bằng - trắc) lẽ ra phải là thanh bằng nhưng ở đây nhà thơ lại dùng thanh trắc, kết hợp với dấu chấm lửng giữa dòng thơ đã nhấn mạnh nỗi nhớ mẹ đến ngẩn ngơ, niềm mong mỏi đau đáu mẹ hãy về, để con được gặp mẹ kính yêu thêm một lần cuối. Hơn nữa, mẹ: “Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh”. Từ “về” điệp tới năm lần, phải chăng nhà thơ nói đến quy luật ở đời sống gửi, thác về? Nghệ thuật nhân hoá rất đắt giá ở những câu thơ trên khiến cảnh vật thiên nhiên bờ sông, bến nước cũng nặng tình buồn đau, tiếc nhớ. Nhà thơ thương mẹ vất vả suốt thời tuổi trẻ phải lặn ngụp giữa bao nhiêu dâu bể của cuộc đời nhưng chủ thể trữ tình cố nén lại: “Lệ xin giọt cuối để dành”. Hàng loạt từ “thương, buồn, lệ” xuất hiện ở đầu những câu thơ liên tiếp nhau càng khơi gợi nỗi buồn thương khiến người đọc rưng rưng nước mắt. Việc sinh tử ở đời chẳng ai tránh được? Thi nhân tự an ủi: nếu mẹ về với thế giới bên kia sẽ được bên cha, có cha ra phần mộ chờ đón, mẹ sẽ không lẻ loi: “Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha”. Mấy câu thơ tiếp gợi tả hình ảnh cây cối, đồ dùng thân thuộc trong ngôi nhà mẹ. Cây cau và giại hiên nhà, tấm bình phong đan bằng tre để chắn gió mưa, một vật dụng rất quen thuộc với những ngôi nhà ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, cũng trào dâng nỗi niềm nhớ thương mẹ khi gió từ sông xa thổi về. Hai câu kết bài thực sự là cao trào cảm xúc, những hình ảnh đó neo lại đậm nhất trong lòng người đọc. “Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi”. Đây lại là sự ngắt nhịp 3/5 rất ấn tượng buộc người đọc phải chú ý. Phải chăng người con tự nguyện muốn rút ngắn lại “đường gần” cuộc đời hữu hạn của mình để được thấy mẹ về thêm một lần nữa, sống thọ hơn nữa. Tấm lòng thương yêu và hiếu kính với mẹ thật tha thiết, sâu nặng biết bao.
Trên thế giới này, không có tấm ân tình nào dành cho ta lớn hơn ân tình của cha mẹ. Vì thế, tấm chân tình của người con Trúc Thông dâng lên hương hồn mẹ kính yêu đã nói hộ tấm lòng của biết bao đứa con, nói hộ lòng chúng ta với các đấng sinh thành. Bài thơ đã chạm đến trái tim người đọc, làm rung ngân và cộng hưởng những cảm xúc thẩm mĩ khiến tâm hồn chúng ta như được thanh lọc để ngày càng yêu thương nhiều hơn, sáng trong và cao đẹp hơn...
(Theo Nguyễn Thị Thiện, baovannghe.vn)