I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
(2) Tôi mong mình sớm cao lớn, to khỏe. Tôi mong tay mình sớm “nổi chuột” nên ngày nào cũng kéo xà đơn. Tôi mong mình có ngày sẽ đủ mạnh mẽ để phụ ba vác từng bao lúa xếp lên giàn cao mỗi mùa lụt về. Tôi mong mình đủ sức bơi qua con sông quê nhà.
(3) Tôi mong mình lớn lên mỗi ngày. Tôi mong mình trở thành người lớn. Tha thiết mỗi ngày, như ba mẹ mong tôi sớm trưởng thành.
(4) Rồi cũng đến một ngày tôi cao vọt lên. Tôi cắp nách một bao tải lúa rồi sau đó thậm chí có thể cắp hai bên hai bao đi băng băng. Tôi kéo xà đơn hàng chục cái không thấy mệt. Thỉnh thoảng tôi gồng lên khoe “chuột” với đứa em trai nhỏ của mình.
(5) Lớn lên về thể chất là giấc mơ có thật của những thế hệ sinh ra trong rơm rạ đói nghèo, trong tiếng bơ cào xuống thùng sắt trữ gạo luôn với mỗi ngày giáp hạt. Nhưng khi lớn lên về thể chất cũng là khi tôi dần biết về một giấc mơ khác nữa. Giấc mơ con người sẽ trưởng thành về nhân cách và tâm hồn.
(6) Em có bao giờ nghĩ về cách rèn luyện cho bản thân vạm vỡ về tâm hồn bên cạnh những bài tập cơ bắp mong “nổi chuột” bắp tay?
(7) Em có bao giờ nghĩ những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người?
(8) Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Ta biết cho đi hơn là nhận lại. Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên. Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình.
(9) Thử thách của tuổi mới lớn có thể chỉ đơn giản là một cú vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn. Em hãy thử đi xa hơn, bước tới những thử thách rằng ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng. Ai truyền đi những năng lượng tích cực mạnh mẽ hơn. Ai biết sống vì người khác, vì bè bạn còn gian khó, vì làng quê còn nghèo nàn, vì đất nước còn lạc hậu, vì dân tộc còn tụt lại phía sau.
(10) Mỗi ngày hãy nhìn thẳng vào phía Mặt Trời thiêu đốt và vạch những vạch đinh hằn mốc đánh dấu trưởng thành của mình theo cách cao thượng: Cách trưởng thành khi em biết nghĩ về những điều dài rộng và biết sống vì người khác.
LỚN LÊN & TRƯỞNG THÀNH
(1) Tôi vẫn nhớ mãi cánh cửa trổ ra khoảnh vườn phía Tây của căn nhà cũ. Những buổi chiều muộn, nắng xiên khoai hấp nóng bờ tường đầu hồi, lâu ngày, cánh cửa gỗ cong phồng lên như bánh đa nướng. Nơi đó ghi dấu giấc mơ ngày bé của cha con tôi bằng những vạch đinh hằn vào thớ gỗ. Ngày bé, tôi gầy còm và thấp bé. Ba mẹ mong tôi trổ giò đã đành. Bản thân tôi ngày nào cũng đứng áp lưng vào cánh cửa, cầm cây đinh vạch lên tấm gỗ để tự đo chiều cao của mình.(2) Tôi mong mình sớm cao lớn, to khỏe. Tôi mong tay mình sớm “nổi chuột” nên ngày nào cũng kéo xà đơn. Tôi mong mình có ngày sẽ đủ mạnh mẽ để phụ ba vác từng bao lúa xếp lên giàn cao mỗi mùa lụt về. Tôi mong mình đủ sức bơi qua con sông quê nhà.
(3) Tôi mong mình lớn lên mỗi ngày. Tôi mong mình trở thành người lớn. Tha thiết mỗi ngày, như ba mẹ mong tôi sớm trưởng thành.
(4) Rồi cũng đến một ngày tôi cao vọt lên. Tôi cắp nách một bao tải lúa rồi sau đó thậm chí có thể cắp hai bên hai bao đi băng băng. Tôi kéo xà đơn hàng chục cái không thấy mệt. Thỉnh thoảng tôi gồng lên khoe “chuột” với đứa em trai nhỏ của mình.
(5) Lớn lên về thể chất là giấc mơ có thật của những thế hệ sinh ra trong rơm rạ đói nghèo, trong tiếng bơ cào xuống thùng sắt trữ gạo luôn với mỗi ngày giáp hạt. Nhưng khi lớn lên về thể chất cũng là khi tôi dần biết về một giấc mơ khác nữa. Giấc mơ con người sẽ trưởng thành về nhân cách và tâm hồn.
(6) Em có bao giờ nghĩ về cách rèn luyện cho bản thân vạm vỡ về tâm hồn bên cạnh những bài tập cơ bắp mong “nổi chuột” bắp tay?
(7) Em có bao giờ nghĩ những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người?
(8) Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Ta biết cho đi hơn là nhận lại. Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên. Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình.
(9) Thử thách của tuổi mới lớn có thể chỉ đơn giản là một cú vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn. Em hãy thử đi xa hơn, bước tới những thử thách rằng ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng. Ai truyền đi những năng lượng tích cực mạnh mẽ hơn. Ai biết sống vì người khác, vì bè bạn còn gian khó, vì làng quê còn nghèo nàn, vì đất nước còn lạc hậu, vì dân tộc còn tụt lại phía sau.
(10) Mỗi ngày hãy nhìn thẳng vào phía Mặt Trời thiêu đốt và vạch những vạch đinh hằn mốc đánh dấu trưởng thành của mình theo cách cao thượng: Cách trưởng thành khi em biết nghĩ về những điều dài rộng và biết sống vì người khác.
(Hà Nhân, Sống như cây rừng, NXB Văn học, 2016)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [704953]: Chỉ ra các phương thức biểu đạt được kết hợp sử dụng trong bài viết. Minh hoạ bằng ví dụ cụ thể.
Các phương thức biểu đạt được kết hợp sử dụng trong bài viết:
- Tự sự, ví dụ: kể chuyện “tôi” thuở nhỏ thường áp lưng vào cánh cửa, cầm cây đinh vạch lên tấm gỗ để đo chiều cao của mình.
- Miêu tả, ví dụ: nắng xiên khoai hấp nóng bờ tường đầu hồi, lâu ngày, cánh cửa gỗ cong phồng lên như bánh đa nướng; Ngày bé, tôi gầy còm và thấp bé;...
- Biểu cảm, ví dụ: Tôi mong mình cao lớn, to khoẻ, mong tay mình sớm “nổi chuột”, mong mình có ngày sẽ đủ mạnh mẽ để phụ ba vác từng bao lúa xếp lên giàn cao,...
- Nghị luận, ví dụ: Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân...
- Tự sự, ví dụ: kể chuyện “tôi” thuở nhỏ thường áp lưng vào cánh cửa, cầm cây đinh vạch lên tấm gỗ để đo chiều cao của mình.
- Miêu tả, ví dụ: nắng xiên khoai hấp nóng bờ tường đầu hồi, lâu ngày, cánh cửa gỗ cong phồng lên như bánh đa nướng; Ngày bé, tôi gầy còm và thấp bé;...
- Biểu cảm, ví dụ: Tôi mong mình cao lớn, to khoẻ, mong tay mình sớm “nổi chuột”, mong mình có ngày sẽ đủ mạnh mẽ để phụ ba vác từng bao lúa xếp lên giàn cao,...
- Nghị luận, ví dụ: Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân...
Câu 2 [704954]: Theo văn bản, mỗi khái niệm lớn lên và trưởng thành gắn với những phương diện nào ở mỗi con người?
Theo văn bản:
- Lớn lên gắn với phương diện thể chất của con người.
- Trưởng thành gắn với phương diện nhân cách và tâm hồn của con người.
- Lớn lên gắn với phương diện thể chất của con người.
- Trưởng thành gắn với phương diện nhân cách và tâm hồn của con người.
Câu 3 [704955]: Sự khác biệt giữa thử thách vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn với thử thách ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng là gì?
Sự khác biệt giữa thử thách vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn với thử thách ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng:
- Vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn thuộc về hoạt động thể chất, là bằng chứng của sự lớn lên về thể chất của bản thân mỗi người.
- Ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng là thử thách gắn liền với nhận thức về trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng, chỉ người thực sự trưởng thành mới có được nhận thức này.
- Vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn thuộc về hoạt động thể chất, là bằng chứng của sự lớn lên về thể chất của bản thân mỗi người.
- Ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng là thử thách gắn liền với nhận thức về trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng, chỉ người thực sự trưởng thành mới có được nhận thức này.
Câu 4 [704956]: Em có bao giờ nghĩ những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người?
Nêu tác dụng của hình thức câu hỏi tu từ ở câu văn trên.
Nêu tác dụng của hình thức câu hỏi tu từ ở câu văn trên.
Tác dụng của hình thức câu hỏi tu từ trong câu văn trên:
- Góp phần làm cho lời văn, đoạn văn, bài viết trở nên sinh động, hấp dẫn, giàu sức gợi cảm.
- Nhấn mạnh sự khác biệt giữa những “bài tập” không giới hạn thuộc về tâm hồn và lòng từ ái với những bài luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người.
- Là cách để người viết khơi gợi cảm xúc, suy nghĩ trong người đọc - những người trẻ hôm nay - về sự cần thiết của việc không ngừng bồi đắp tâm hồn và lòng từ ái ở mỗi con người.
- Góp phần làm cho lời văn, đoạn văn, bài viết trở nên sinh động, hấp dẫn, giàu sức gợi cảm.
- Nhấn mạnh sự khác biệt giữa những “bài tập” không giới hạn thuộc về tâm hồn và lòng từ ái với những bài luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người.
- Là cách để người viết khơi gợi cảm xúc, suy nghĩ trong người đọc - những người trẻ hôm nay - về sự cần thiết của việc không ngừng bồi đắp tâm hồn và lòng từ ái ở mỗi con người.
Câu 5 [704957]: Anh/ Chị có đồng tình với ý kiến cho rằng Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân không? Vì sao?
Thí sinh có thể đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần với ý kiến cho rằng Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân, song cần lí giải ngắn gọn, hợp lí nguyên do. Chẳng hạn:
- Tôi đồng tình với ý kiến Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Bởi lẽ: Người trưởng thành là người đã có sự phát triển hoàn chỉnh, đầy đủ về mọi mặt (trong khi đó lớn chỉ là sự phát triển về thể xác). Nhận thức chín chắn khiến người trưởng thành có ý thức về trách nhiệm của bản thân mình với cộng đồng. (Tác giả cũng rất chừng mực trong ý kiến của mình khi dùng từ có thể ở mệnh đề Khi ta lớn,...)
Hoặc
- Tôi không đồng tình với ý kiến Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Bởi lẽ: Không phải chỉ có người trưởng thành mới biết nhận thức về trách nhiệm của bản thân. Rất nhiều trẻ nhỏ, do hoàn cảnh cá nhân, môi trường giáo dục hoặc mức độ tự giác cao,... đã sớm nhận thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình, cộng đồng xã hội.
Hoặc
- Tôi vừa đồng tình vừa không đồng tình với ý kiến.
- Thí sinh kết hợp lí do ở hai gợi ý trên để trả lời.
- Tôi đồng tình với ý kiến Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Bởi lẽ: Người trưởng thành là người đã có sự phát triển hoàn chỉnh, đầy đủ về mọi mặt (trong khi đó lớn chỉ là sự phát triển về thể xác). Nhận thức chín chắn khiến người trưởng thành có ý thức về trách nhiệm của bản thân mình với cộng đồng. (Tác giả cũng rất chừng mực trong ý kiến của mình khi dùng từ có thể ở mệnh đề Khi ta lớn,...)
Hoặc
- Tôi không đồng tình với ý kiến Khi ta lớn, ta có thể chỉ biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Bởi lẽ: Không phải chỉ có người trưởng thành mới biết nhận thức về trách nhiệm của bản thân. Rất nhiều trẻ nhỏ, do hoàn cảnh cá nhân, môi trường giáo dục hoặc mức độ tự giác cao,... đã sớm nhận thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình, cộng đồng xã hội.
Hoặc
- Tôi vừa đồng tình vừa không đồng tình với ý kiến.
- Thí sinh kết hợp lí do ở hai gợi ý trên để trả lời.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [704958]: (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời cho câu hỏi ở phần Đọc hiểu: Em có bao giờ nghĩ những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người?
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời cho câu hỏi ở phần Đọc hiểu: Em có bao giờ nghĩ những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người?
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời cho câu hỏi ở phần Đọc hiểu: Em có bao giờ nghĩ những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người? có thể được triển khai theo hướng:
- Giải thích ngắn gọn:
+ Những bài tập cho tâm hồn và lòng từ ái: những điều, những việc góp phần nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn và lòng nhân ái, bao dung trong con người. Những “bài tập” này không bao giờ đủ, không bao giờ thừa.
+ Giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất: Mức độ vừa đủ (của các bài tập luyện tập) cho sự rèn luyện về thể chất.
- Khẳng định những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người. Bởi lẽ:
+ Sự phong phú trong tâm hồn con người sẽ khiến cho cuộc sống của con người trở nên thú vị hơn, giúp con người có nhiều trải nghiệm cảm xúc hơn. (Điều này hoàn toàn có thể kiểm chứng khi chúng ta so sánh một người có tâm hồn phong phú với một người tẻ nhạt, đơn điệu. Người sống nhạt nhẽo thường chỉ cảm nhận cuộc sống buồn chán, tẻ ngắt và cảm xúc trong họ về cơ bản chỉ là những gam màu xám, tiêu cực.)
+ Lòng từ ái làm cho con người trở nên đẹp hơn, đáng yêu, đáng mến hơn; gắn kết người với người hơn; góp phần khiến cho cuộc sống này trở nên nhân văn hơn. Không có sự yêu thương nào là vô nghĩa, hoài phí trong cuộc đời này cả.
⟶ Nuôi dưỡng tâm hồn, không ngừng bồi đắp lòng nhân ái, bao dung là việc không bao giờ nên dừng lại.
- Giải thích ngắn gọn:
+ Những bài tập cho tâm hồn và lòng từ ái: những điều, những việc góp phần nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn và lòng nhân ái, bao dung trong con người. Những “bài tập” này không bao giờ đủ, không bao giờ thừa.
+ Giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất: Mức độ vừa đủ (của các bài tập luyện tập) cho sự rèn luyện về thể chất.
- Khẳng định những gì thuộc về tâm hồn và lòng từ ái rất cần những bài tập không giới hạn, khác xa những giới hạn luyện tập dành cho cơ bắp thể chất từng người. Bởi lẽ:
+ Sự phong phú trong tâm hồn con người sẽ khiến cho cuộc sống của con người trở nên thú vị hơn, giúp con người có nhiều trải nghiệm cảm xúc hơn. (Điều này hoàn toàn có thể kiểm chứng khi chúng ta so sánh một người có tâm hồn phong phú với một người tẻ nhạt, đơn điệu. Người sống nhạt nhẽo thường chỉ cảm nhận cuộc sống buồn chán, tẻ ngắt và cảm xúc trong họ về cơ bản chỉ là những gam màu xám, tiêu cực.)
+ Lòng từ ái làm cho con người trở nên đẹp hơn, đáng yêu, đáng mến hơn; gắn kết người với người hơn; góp phần khiến cho cuộc sống này trở nên nhân văn hơn. Không có sự yêu thương nào là vô nghĩa, hoài phí trong cuộc đời này cả.
⟶ Nuôi dưỡng tâm hồn, không ngừng bồi đắp lòng nhân ái, bao dung là việc không bao giờ nên dừng lại.
Câu 7 [704959]: (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn trích sau:
“[...]
Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ
Chỉ có đứa con trai đi xa
Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống
Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ
khác nhau
Nắng mưa lọt vào sau
Xuyên
Xối.
Những sợi nắng, những sợi mưa nếu có thể nối
cũng chỉ dài bằng một phần sự mong đợi
Và những hạt nắng, những hạt mưa
nếu đem xếp lại, có thể cao hơn mọi trái núi.
Mười năm, cũng chỉ là thoáng qua,
Vì tuổi mẹ sáu bẩy lần hơn,
Mẹ vẫn nói đời mình như nắng trận mưa cơn...
Mái rạ của mẹ cũng không thủng lỗ chỗ
Nếu con chỉ đi ra đồng, ra chợ
Chứ không phải đi vào chiến tranh.
Có phải những viên đạn vô hình trong ý nghĩ
Bắn lúc đêm khuya vào đứa con thơ bé
Đã để những lỗ thủng lốm đốm trên màu tóc mẹ
Như những hạt nắng hạt mưa giọt sót vào đây,
Để ai ai cũng phải nhìn và vội ngoảnh đi ngay...
Và đêm nào mẹ cũng khấn, để phập phồng
một lần tin, một lần vui,
Nhưng tai ác hơn, mái nhà cứ thủng.
Chẳng có na-pan, lân tinh, phốt pho
Chỉ có mưa nắng,
Sự xa vắng,
Khiến mái rạ mục mủn, bạc như màu tóc bạc,
Đôi sẻ tự tình bị hẫng hốt hoảng vù lên, bụi mù
như tro bay...
Mong đợi
Yêu thương,
Giả định: sống chết
Của mẹ về con, làm cho con được sống.
Con trở về giản dị,
Cái ngõ nhỏ, mái nhà quê, biến thành cổng trời,
thành lâu đài trong mắt mẹ đón con.
Buổi sớm,
Nắng xiên nghiêng,
Anh nằm ngửa,
Mái nhà có mắt nhìn anh
Người lính
Lần đầu tiên giật mình...
Những hạt bụi nhảy múa rung rinh,
Những con đường sáng lên như nắng
Và mỗi người là hạt bụi lung linh
Mẹ vẫn lên nhà xuống bếp một mình,
Chiến thắng của mẹ là anh
Niềm vui của mẹ là anh.
Nỗi buồn của anh không phải trong chiến tranh...
Những sợi nắng xuyên qua nhà mình
Thành những mũi tên
Thành những viên đạn,
Bắn tiếp vào anh không gì che chắn
Phải nhận tất cả,
Vẫn anh.
Hôm qua chưa nhận một viên đạn
Hôm nay nhận những lỗ thủng
Anh về quê không mang súng
Vũ khí lúc này hai bàn tay.
Mẹ giục:
Ăn cơm, con!
Hòa bình trong canh cua, mồng tơi, cà
Và
Mùi ổ rơm.”
1985
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn trích sau:
“[...]
II
Không có trái bom nào rơi trúng mái nhà mẹ, Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ
Chỉ có đứa con trai đi xa
Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống
Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ
khác nhau
Nắng mưa lọt vào sau
Xuyên
Xối.
Những sợi nắng, những sợi mưa nếu có thể nối
cũng chỉ dài bằng một phần sự mong đợi
Và những hạt nắng, những hạt mưa
nếu đem xếp lại, có thể cao hơn mọi trái núi.
Mười năm, cũng chỉ là thoáng qua,
Vì tuổi mẹ sáu bẩy lần hơn,
Mẹ vẫn nói đời mình như nắng trận mưa cơn...
Mái rạ của mẹ cũng không thủng lỗ chỗ
Nếu con chỉ đi ra đồng, ra chợ
Chứ không phải đi vào chiến tranh.
Có phải những viên đạn vô hình trong ý nghĩ
Bắn lúc đêm khuya vào đứa con thơ bé
Đã để những lỗ thủng lốm đốm trên màu tóc mẹ
Như những hạt nắng hạt mưa giọt sót vào đây,
Để ai ai cũng phải nhìn và vội ngoảnh đi ngay...
Và đêm nào mẹ cũng khấn, để phập phồng
một lần tin, một lần vui,
Nhưng tai ác hơn, mái nhà cứ thủng.
Chẳng có na-pan, lân tinh, phốt pho
Chỉ có mưa nắng,
Sự xa vắng,
Khiến mái rạ mục mủn, bạc như màu tóc bạc,
Đôi sẻ tự tình bị hẫng hốt hoảng vù lên, bụi mù
như tro bay...
Mong đợi
Yêu thương,
Giả định: sống chết
Của mẹ về con, làm cho con được sống.
Con trở về giản dị,
Cái ngõ nhỏ, mái nhà quê, biến thành cổng trời,
thành lâu đài trong mắt mẹ đón con.
Buổi sớm,
Nắng xiên nghiêng,
Anh nằm ngửa,
Mái nhà có mắt nhìn anh
Người lính
Lần đầu tiên giật mình...
Những hạt bụi nhảy múa rung rinh,
Những con đường sáng lên như nắng
Và mỗi người là hạt bụi lung linh
Mẹ vẫn lên nhà xuống bếp một mình,
Chiến thắng của mẹ là anh
Niềm vui của mẹ là anh.
Nỗi buồn của anh không phải trong chiến tranh...
Những sợi nắng xuyên qua nhà mình
Thành những mũi tên
Thành những viên đạn,
Bắn tiếp vào anh không gì che chắn
Phải nhận tất cả,
Vẫn anh.
Hôm qua chưa nhận một viên đạn
Hôm nay nhận những lỗ thủng
Anh về quê không mang súng
Vũ khí lúc này hai bàn tay.
Mẹ giục:
Ăn cơm, con!
Hòa bình trong canh cua, mồng tơi, cà
Và
Mùi ổ rơm.”
1985
(Trích Ngày hoà bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc, theo nguoihanoi.vn)
* Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm
- Phùng Khắc Bắc:
+ Trong văn giới, hầu như rất ít người biết Phùng Khắc Bắc làm thơ. Hầu như ông không tham gia các sinh hoạt thơ, không lên tiếng bàn bạc về thơ và lúc sinh thời, ông hầu như không có thơ in trên báo chí. Phải sau khi ông mất, một số nhà văn thân thiết (Xuân Thiều, Nguyễn Đức Mậu, Trần Nhương) phối hợp cùng gia đình tìm lại di cảo và đem in thành tập mỏng gồm 37 bài lấy tên Một chấm xanh. Đến lúc này, thơ ông mới thật sự gây chú ý trong văn giới và bạn đọc.
+ Thơ Phùng Khắc Bắc chất chứa những ưu tư về thời thế và thân thế. Đã có ý thức vượt lên những niềm vui chiến thắng, những niềm lạc quan dễ dãi kéo dài của nền thơ lúc bấy giờ, Phùng Khắc Bắc duy trì một vệt thơ giàu chất nghĩ này. Anh suy tư về cái sống cái chết, hậu quả khôn lường của chiến tranh, ý nghĩa và khát vọng của tự do đích thực... (Văn Giá).
- Ngày hoà bình đầu tiên:
+ Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 1985, thời điểm mười năm sau chiến tranh vệ quốc. Lúc này, công cuộc Đổi mới đất nước chưa diễn ra, nhưng không khí rục rịch thì đã bắt đầu. (Nền văn học những năm này đã chứng kiến một số gương mặt thể hiện cái nhìn, lối viết có phần khác trước: Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, nhất là Nguyễn Minh Châu trong văn xuôi; hay Lưu Quang Vũ, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Thanh Thảo... trong thơ.) Phùng Khắc Bắc được sống trong cái từ trường văn chương đó.
+ Vị trí đoạn trích: Bài thơ gồm hai phần, đoạn trích thuộc phần thứ hai của bài thơ.
+ Đề tài: Cuộc sống đời thường của người lính sau chiến tranh. (Người lính là một đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Sau 1975, đề tài người lính gắn liền với những khám phá mới mẻ của nhiều nhà văn, nhà thơ về cuộc đời, số phận của con người thời hậu chiến; nhiều sáng tác văn xuôi rất thành công ở đề tài này: Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh; Lời hứa của thời gian, Đồi ngựa trắng - Nguyễn Quang Thiều, Người ở bến sông Châu - Sương Nguyệt Minh,...)
+ Chủ đề: Cảm xúc và suy tưởng thời hậu chiến.
+ Nhan đề: Ngày hoà bình đầu tiên
• Gợi những cảm xúc, nghĩ suy tiếp nối hẳn phải là niềm vui, niềm hạnh phúc,...
• Song thực tế, phía sau nhan đề ấy lại là bao ưu tư, trăn trở của người lính về mẹ, về thực tại cuộc sống sau chiến tranh,...
+ Nhân vật chính trong bài thơ: người lính trở về sau chiến tranh.
+ Thể thơ: tự do, với một hình thể khá phóng túng, bề bộn, vạm vỡ, mang dáng vẻ hiện đại và như đang đồng hành với hôm nay (Văn Giá).
+ Bố cục: hai phần
• Phần thứ nhất (từ đầu đến như tro bay...): Chiến tranh kết thúc, người lính trở về ngôi nhà mái rạ thủng lỗ chỗ, có người mẹ mòn mỏi chờ trông con.
• Phần thứ hai (còn lại): Nỗi lòng của người lính trong ngôi nhà mái rạ thủng lỗ chỗ.
* Phân tích đoạn trích
+ Người lính đi xa nay trở về, nhận ra trên mái nhà những lỗ to lỗ nhỏ. Nhưng thật kỳ lạ: Không có trái bom nào rơi trúng mái nhà mẹ/ Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ. Phép điệp cấu trúc giúp khẳng định: mái nhà ấy không bị hư hại bởi bom đạn. Điều này khiến người đọc không khỏi băn khoăn: Nếu không phải sự bắn phá của kẻ thù, vậy điều gì đã làm cho mái nhà mẹ trở nên hoang tàn đến thế?
+ Câu trả lời hiện ra vừa bất ngờ vừa ám ảnh: đó chính là sự chờ đợi nặng nề của người mẹ. Nhà thơ đã sáng tạo nên một hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi: nỗi nhớ thương, lo lắng, đợi chờ của mẹ được hình dung như những “giọt” rơi xuống, lặng lẽ mà dai dẳng, để rồi xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau. Đó không còn là sự tàn phá của bom đạn, mà là sự bào mòn âm thầm của thời gian, của nỗi đau tinh thần. Qua đó, nhà thơ khẳng định: sự chờ đợi của người mẹ, tưởng như mong manh, vô hình, lại có sức công phá ghê gớm hơn tất thảy mưa bom bão đạn – bởi nó ăn sâu vào ký ức, vào trái tim, để lại vết thương không gì hàn gắn nổi.
+ Ở những dòng thơ sau đó, người đọc càng hình dung rõ nét về nỗi nhớ đằng đẵng của người mẹ dành cho đứa con trai đi xa của mình:
Những sợi nắng, những sợi mưa nếu có thể nối
cũng chỉ dài bằng một phần sự mong đợi
Và những hạt nắng, những hạt mưa
nếu đem xếp lại, có thể cao hơn mọi trái núi.
Biện pháp so sánh giúp cụ thể hoá, đem tới cảm nhận về một sự chờ đợi dằng dặc, mòn mỏi, nặng trĩu cho thấy tình mẫu tử bền bỉ, sâu thẳm và nỗi đau âm thầm của người mẹ trong chiến tranh. Đó không phải là sự cường điệu, mà là hiện thực chung của mọi người mẹ có con phải vào sinh ra tử nơi chiến trường.
+ Nếu con chỉ đi ra đồng, ra chợ, nghĩa là vẫn ở trong đời sống thường nhật, thì mái rạ của mẹ cũng không thủng lỗ chỗ. Câu thơ đặt ra một giả định hết sức xót xa, để từ đó làm nổi bật nguyên nhân sâu xa của mọi tổn thương: chính chiến tranh đã đẩy người con vào nơi sinh tử, buộc người mẹ phải sống trong nỗi lo âu, sự dự cảm chẳng lành. Chính những ý nghĩ đó đã trở thành một viên đạn vô hình, không bắn vào thân xác mẹ mà âm thầm bắn vào tâm hồn, vào mái tóc của mẹ, vào mái rạ của mẹ.
+ Nỗi lòng người mẹ bên cạnh đó còn là những hi vọng khi nghĩ về người con. Thế nhưng, dường như sự hi vọng đó không thể xoá mờ hiện thực, xoá mờ đi những dự cảm trong mẹ và mái nhà cứ thủng.
+ Một lần nữa, người lính khẳng định một sự thật xót xa: không phải bom đạn hay chất độc chiến tranh nào đã hủy hoại mái nhà ấy, mà chính là sự xa vắng triền miên của mình suốt những năm tháng qua. Thời gian lặng lẽ trôi qua trong mưa nắng và chờ đợi đã bào mòn từng lớp mái rạ, cũng như nỗi cô đơn âm thầm gặm nhấm trái tim người mẹ. Sự thiếu vắng con không chỉ làm mái rạ trở nên mục mủn, mà còn khiến tâm hồn mẹ rạn vỡ, tan nát trong những tháng ngày mỏi mòn trông ngóng, để lại dấu tích đau thương sâu sắc hơn bất cứ sự tàn phá nào của chiến tranh.
+ Mong đợi, yêu thương, giả định: sống chết là những xúc cảm của người mẹ về con. Những xúc cảm đó dường như trở thành tấm lá chắn bảo vệ anh nơi chiến trường, làm cho anh được sống, được quay trở về.
⟹ Người lính đã thấu hiểu sâu sắc và sẻ chia trọn vẹn với nỗi lòng của người mẹ trong những năm tháng anh xa nhà. Càng hình dung về những ngày mẹ sống trong đợi chờ, lo âu, anh càng cảm thấy chua xót và đau đớn đến quặn lòng.
+ Khi con trở về, người mẹ vui mừng khôn xiết. Lời thơ đã cụ thể hoá niềm vui ấy: Khi con về những cảnh sắc bình dị như cái ngõ nhỏ, mái nhà quê bỗng trở thành cổng trời, lâu đài – khung cảnh lớn lao, lung linh, tươi đẹp.
+ Trong một sớm mai, khi nắng xiên nghiêng, người lính nằm ngửa và nhìn lên mái nhà. Câu thơ Mái nhà có mắt nhìn anh với phép nhân hoá đã gợi tả một cách khéo léo những lỗ thủng trên mái nhà. Lập tức, những lỗ thủng xuyên đầy ánh nắng đã khiến người lính Lần đầu tiên giật mình... Anh giật mình về điều gì? Dấu ba chấm trong dòng thơ buộc người đọc phải tò mò đặt câu hỏi. Nhưng có vẻ như nhà thơ không hề hé lộ cho độc giả một manh mối nào để cởi bỏ câu hỏi ấy. Bởi lẽ, tiếp sau câu thơ Lần đầu tiên giật mình... là một loạt những dòng với những chi tiết miêu tả luồng nắng chiếu xiên thật đẹp (Những hạt bụi nhảy múa rung rinh,/ Những con đường sáng lên như nắng) và hình ảnh mẹ lên nhà xuống bếp một mình với chiến thắng, niềm vui của mẹ (Chiến thắng của mẹ là anh/ Niềm vui của mẹ là anh.). Có chăng, Phùng Khắc Bắc chỉ kín đáo khơi gợi thêm một chút ít, đủ để người đọc phải ngẫm ngợi: Nỗi buồn của anh không phải trong chiến tranh... Phải chăng, điều khiến người lính của chúng ta giật mình chính là cuộc sống hiện tại, cuộc sống ngay sau cuộc chiến khốc liệt, tuy đã trở về bình yên nhưng vẫn còn đói nghèo quá, buồn thương quá? Đói nghèo như ngôi nhà má rạ với những lỗ thủng lỗ chỗ của mẹ và buồn thương như dáng mẹ hao gầy, mái tóc bạc phơ vì nặng nề chờ trông, thương nhớ con?
Với trái tim nhạy cảm, với trí nghĩ đầy trăn trở, người lính đã nhìn những sợi nắng xuyên qua nhà mình/ thành những mũi tên/ thành những viên đạn bắn xói vào chính anh, để sau cùng, anh bàng hoàng nhận ra: Anh chiến thắng trên chiến trường nhưng hình như đang ngấp nghé thua trong chính cuộc sống hiện thời (Hôm qua chưa nhận một viên đạn/ Hôm nay nhận những lỗ thủng).
Tuy nhiên, sau tất cả, phẩm chất can trường, dũng cảm, quả cảm, kiên cường của người lính đã khiến nhân vật của Phùng Khắc Bắc dám đương đầu: Vũ khí lúc này hai bàn tay.
+ Bài thơ kết thúc với lời giục của người mẹ:
Mẹ giục:
Ăn cơm, con!
Hòa bình trong canh cua, mồng tơi, cà
Và
Mùi ổ rơm.
Nhà thơ đã tạo tác một bức tranh đời sống giản dị, đầm ấm: bữa cơm của người lính với mẹ. Tất cả vẫn hiện lên qua góc nhìn, qua lăng kính của người lính. Bữa cơm chỉ có canh cua, mồng tơi, cà trong không gian đượm mùi ổ rơm. Gọi là bình dị, đời thường cũng được mà gọi là đói nghèo như Chế Lan Viên trong Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? (Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ) cũng được. Dẫu sao, sau hình ảnh đôi bàn tay - vũ khí bên trên, cái đói nghèo này cũng chẳng còn đáng sợ nữa rồi. Bài thơ khép lại nhưng mở ra trong tâm tưởng người đọc niềm tin vào ý chí, nghị lực của người lính trong một cuộc chiến với cái đói nghèo của cuộc sống hiện tại, hòng an ủi, vỗ về cho những buồn khổ của mẹ suốt những năm tháng chiến tranh...
* Đánh giá chung
- Bằng ngôn ngữ giản dị, những biện pháp tu từ,… đoạn trích không chỉ thể hiện tình yêu thương, sự hi sinh vô bờ của người mẹ dành cho đứa con bé bỏng, mà còn khắc hoạ hình tượng một người lính trở về mang trong mình những nỗi niềm, suy tư, trăn trở, cùng những vẻ đẹp đáng trân trọng: yêu thương mẹ, nhạy cảm, giàu tình cảm, cảm xúc, cùng ý chí kiên cường.
- Đồng thời, lời thơ nhắc nhở rằng sau chiến tranh, niềm vui đoàn tụ cần được gác lại một phần để con người hướng tới xây dựng và kiến thiết lại đất nước, thể hiện trách nhiệm với tương lai.
- Phùng Khắc Bắc:
+ Trong văn giới, hầu như rất ít người biết Phùng Khắc Bắc làm thơ. Hầu như ông không tham gia các sinh hoạt thơ, không lên tiếng bàn bạc về thơ và lúc sinh thời, ông hầu như không có thơ in trên báo chí. Phải sau khi ông mất, một số nhà văn thân thiết (Xuân Thiều, Nguyễn Đức Mậu, Trần Nhương) phối hợp cùng gia đình tìm lại di cảo và đem in thành tập mỏng gồm 37 bài lấy tên Một chấm xanh. Đến lúc này, thơ ông mới thật sự gây chú ý trong văn giới và bạn đọc.
+ Thơ Phùng Khắc Bắc chất chứa những ưu tư về thời thế và thân thế. Đã có ý thức vượt lên những niềm vui chiến thắng, những niềm lạc quan dễ dãi kéo dài của nền thơ lúc bấy giờ, Phùng Khắc Bắc duy trì một vệt thơ giàu chất nghĩ này. Anh suy tư về cái sống cái chết, hậu quả khôn lường của chiến tranh, ý nghĩa và khát vọng của tự do đích thực... (Văn Giá).
- Ngày hoà bình đầu tiên:
+ Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 1985, thời điểm mười năm sau chiến tranh vệ quốc. Lúc này, công cuộc Đổi mới đất nước chưa diễn ra, nhưng không khí rục rịch thì đã bắt đầu. (Nền văn học những năm này đã chứng kiến một số gương mặt thể hiện cái nhìn, lối viết có phần khác trước: Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, nhất là Nguyễn Minh Châu trong văn xuôi; hay Lưu Quang Vũ, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Thanh Thảo... trong thơ.) Phùng Khắc Bắc được sống trong cái từ trường văn chương đó.
+ Vị trí đoạn trích: Bài thơ gồm hai phần, đoạn trích thuộc phần thứ hai của bài thơ.
+ Đề tài: Cuộc sống đời thường của người lính sau chiến tranh. (Người lính là một đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Sau 1975, đề tài người lính gắn liền với những khám phá mới mẻ của nhiều nhà văn, nhà thơ về cuộc đời, số phận của con người thời hậu chiến; nhiều sáng tác văn xuôi rất thành công ở đề tài này: Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh; Lời hứa của thời gian, Đồi ngựa trắng - Nguyễn Quang Thiều, Người ở bến sông Châu - Sương Nguyệt Minh,...)
+ Chủ đề: Cảm xúc và suy tưởng thời hậu chiến.
+ Nhan đề: Ngày hoà bình đầu tiên
• Gợi những cảm xúc, nghĩ suy tiếp nối hẳn phải là niềm vui, niềm hạnh phúc,...
• Song thực tế, phía sau nhan đề ấy lại là bao ưu tư, trăn trở của người lính về mẹ, về thực tại cuộc sống sau chiến tranh,...
+ Nhân vật chính trong bài thơ: người lính trở về sau chiến tranh.
+ Thể thơ: tự do, với một hình thể khá phóng túng, bề bộn, vạm vỡ, mang dáng vẻ hiện đại và như đang đồng hành với hôm nay (Văn Giá).
+ Bố cục: hai phần
• Phần thứ nhất (từ đầu đến như tro bay...): Chiến tranh kết thúc, người lính trở về ngôi nhà mái rạ thủng lỗ chỗ, có người mẹ mòn mỏi chờ trông con.
• Phần thứ hai (còn lại): Nỗi lòng của người lính trong ngôi nhà mái rạ thủng lỗ chỗ.
* Phân tích đoạn trích
+ Người lính đi xa nay trở về, nhận ra trên mái nhà những lỗ to lỗ nhỏ. Nhưng thật kỳ lạ: Không có trái bom nào rơi trúng mái nhà mẹ/ Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ. Phép điệp cấu trúc giúp khẳng định: mái nhà ấy không bị hư hại bởi bom đạn. Điều này khiến người đọc không khỏi băn khoăn: Nếu không phải sự bắn phá của kẻ thù, vậy điều gì đã làm cho mái nhà mẹ trở nên hoang tàn đến thế?
+ Câu trả lời hiện ra vừa bất ngờ vừa ám ảnh: đó chính là sự chờ đợi nặng nề của người mẹ. Nhà thơ đã sáng tạo nên một hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi: nỗi nhớ thương, lo lắng, đợi chờ của mẹ được hình dung như những “giọt” rơi xuống, lặng lẽ mà dai dẳng, để rồi xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau. Đó không còn là sự tàn phá của bom đạn, mà là sự bào mòn âm thầm của thời gian, của nỗi đau tinh thần. Qua đó, nhà thơ khẳng định: sự chờ đợi của người mẹ, tưởng như mong manh, vô hình, lại có sức công phá ghê gớm hơn tất thảy mưa bom bão đạn – bởi nó ăn sâu vào ký ức, vào trái tim, để lại vết thương không gì hàn gắn nổi.
+ Ở những dòng thơ sau đó, người đọc càng hình dung rõ nét về nỗi nhớ đằng đẵng của người mẹ dành cho đứa con trai đi xa của mình:
Những sợi nắng, những sợi mưa nếu có thể nối
cũng chỉ dài bằng một phần sự mong đợi
Và những hạt nắng, những hạt mưa
nếu đem xếp lại, có thể cao hơn mọi trái núi.
Biện pháp so sánh giúp cụ thể hoá, đem tới cảm nhận về một sự chờ đợi dằng dặc, mòn mỏi, nặng trĩu cho thấy tình mẫu tử bền bỉ, sâu thẳm và nỗi đau âm thầm của người mẹ trong chiến tranh. Đó không phải là sự cường điệu, mà là hiện thực chung của mọi người mẹ có con phải vào sinh ra tử nơi chiến trường.
+ Nếu con chỉ đi ra đồng, ra chợ, nghĩa là vẫn ở trong đời sống thường nhật, thì mái rạ của mẹ cũng không thủng lỗ chỗ. Câu thơ đặt ra một giả định hết sức xót xa, để từ đó làm nổi bật nguyên nhân sâu xa của mọi tổn thương: chính chiến tranh đã đẩy người con vào nơi sinh tử, buộc người mẹ phải sống trong nỗi lo âu, sự dự cảm chẳng lành. Chính những ý nghĩ đó đã trở thành một viên đạn vô hình, không bắn vào thân xác mẹ mà âm thầm bắn vào tâm hồn, vào mái tóc của mẹ, vào mái rạ của mẹ.
+ Nỗi lòng người mẹ bên cạnh đó còn là những hi vọng khi nghĩ về người con. Thế nhưng, dường như sự hi vọng đó không thể xoá mờ hiện thực, xoá mờ đi những dự cảm trong mẹ và mái nhà cứ thủng.
+ Một lần nữa, người lính khẳng định một sự thật xót xa: không phải bom đạn hay chất độc chiến tranh nào đã hủy hoại mái nhà ấy, mà chính là sự xa vắng triền miên của mình suốt những năm tháng qua. Thời gian lặng lẽ trôi qua trong mưa nắng và chờ đợi đã bào mòn từng lớp mái rạ, cũng như nỗi cô đơn âm thầm gặm nhấm trái tim người mẹ. Sự thiếu vắng con không chỉ làm mái rạ trở nên mục mủn, mà còn khiến tâm hồn mẹ rạn vỡ, tan nát trong những tháng ngày mỏi mòn trông ngóng, để lại dấu tích đau thương sâu sắc hơn bất cứ sự tàn phá nào của chiến tranh.
+ Mong đợi, yêu thương, giả định: sống chết là những xúc cảm của người mẹ về con. Những xúc cảm đó dường như trở thành tấm lá chắn bảo vệ anh nơi chiến trường, làm cho anh được sống, được quay trở về.
⟹ Người lính đã thấu hiểu sâu sắc và sẻ chia trọn vẹn với nỗi lòng của người mẹ trong những năm tháng anh xa nhà. Càng hình dung về những ngày mẹ sống trong đợi chờ, lo âu, anh càng cảm thấy chua xót và đau đớn đến quặn lòng.
+ Khi con trở về, người mẹ vui mừng khôn xiết. Lời thơ đã cụ thể hoá niềm vui ấy: Khi con về những cảnh sắc bình dị như cái ngõ nhỏ, mái nhà quê bỗng trở thành cổng trời, lâu đài – khung cảnh lớn lao, lung linh, tươi đẹp.
+ Trong một sớm mai, khi nắng xiên nghiêng, người lính nằm ngửa và nhìn lên mái nhà. Câu thơ Mái nhà có mắt nhìn anh với phép nhân hoá đã gợi tả một cách khéo léo những lỗ thủng trên mái nhà. Lập tức, những lỗ thủng xuyên đầy ánh nắng đã khiến người lính Lần đầu tiên giật mình... Anh giật mình về điều gì? Dấu ba chấm trong dòng thơ buộc người đọc phải tò mò đặt câu hỏi. Nhưng có vẻ như nhà thơ không hề hé lộ cho độc giả một manh mối nào để cởi bỏ câu hỏi ấy. Bởi lẽ, tiếp sau câu thơ Lần đầu tiên giật mình... là một loạt những dòng với những chi tiết miêu tả luồng nắng chiếu xiên thật đẹp (Những hạt bụi nhảy múa rung rinh,/ Những con đường sáng lên như nắng) và hình ảnh mẹ lên nhà xuống bếp một mình với chiến thắng, niềm vui của mẹ (Chiến thắng của mẹ là anh/ Niềm vui của mẹ là anh.). Có chăng, Phùng Khắc Bắc chỉ kín đáo khơi gợi thêm một chút ít, đủ để người đọc phải ngẫm ngợi: Nỗi buồn của anh không phải trong chiến tranh... Phải chăng, điều khiến người lính của chúng ta giật mình chính là cuộc sống hiện tại, cuộc sống ngay sau cuộc chiến khốc liệt, tuy đã trở về bình yên nhưng vẫn còn đói nghèo quá, buồn thương quá? Đói nghèo như ngôi nhà má rạ với những lỗ thủng lỗ chỗ của mẹ và buồn thương như dáng mẹ hao gầy, mái tóc bạc phơ vì nặng nề chờ trông, thương nhớ con?
Với trái tim nhạy cảm, với trí nghĩ đầy trăn trở, người lính đã nhìn những sợi nắng xuyên qua nhà mình/ thành những mũi tên/ thành những viên đạn bắn xói vào chính anh, để sau cùng, anh bàng hoàng nhận ra: Anh chiến thắng trên chiến trường nhưng hình như đang ngấp nghé thua trong chính cuộc sống hiện thời (Hôm qua chưa nhận một viên đạn/ Hôm nay nhận những lỗ thủng).
Tuy nhiên, sau tất cả, phẩm chất can trường, dũng cảm, quả cảm, kiên cường của người lính đã khiến nhân vật của Phùng Khắc Bắc dám đương đầu: Vũ khí lúc này hai bàn tay.
+ Bài thơ kết thúc với lời giục của người mẹ:
Mẹ giục:
Ăn cơm, con!
Hòa bình trong canh cua, mồng tơi, cà
Và
Mùi ổ rơm.
Nhà thơ đã tạo tác một bức tranh đời sống giản dị, đầm ấm: bữa cơm của người lính với mẹ. Tất cả vẫn hiện lên qua góc nhìn, qua lăng kính của người lính. Bữa cơm chỉ có canh cua, mồng tơi, cà trong không gian đượm mùi ổ rơm. Gọi là bình dị, đời thường cũng được mà gọi là đói nghèo như Chế Lan Viên trong Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? (Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ) cũng được. Dẫu sao, sau hình ảnh đôi bàn tay - vũ khí bên trên, cái đói nghèo này cũng chẳng còn đáng sợ nữa rồi. Bài thơ khép lại nhưng mở ra trong tâm tưởng người đọc niềm tin vào ý chí, nghị lực của người lính trong một cuộc chiến với cái đói nghèo của cuộc sống hiện tại, hòng an ủi, vỗ về cho những buồn khổ của mẹ suốt những năm tháng chiến tranh...
* Đánh giá chung
- Bằng ngôn ngữ giản dị, những biện pháp tu từ,… đoạn trích không chỉ thể hiện tình yêu thương, sự hi sinh vô bờ của người mẹ dành cho đứa con bé bỏng, mà còn khắc hoạ hình tượng một người lính trở về mang trong mình những nỗi niềm, suy tư, trăn trở, cùng những vẻ đẹp đáng trân trọng: yêu thương mẹ, nhạy cảm, giàu tình cảm, cảm xúc, cùng ý chí kiên cường.
- Đồng thời, lời thơ nhắc nhở rằng sau chiến tranh, niềm vui đoàn tụ cần được gác lại một phần để con người hướng tới xây dựng và kiến thiết lại đất nước, thể hiện trách nhiệm với tương lai.