I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
“... Tối hôm kia tôi được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho các người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng tôi chú ý đến một đứa nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc áo thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà nó lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến phiên của nó thì chắc chẳng còn thức ăn nên mới lại hỏi thăm. Nó kể nó đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của nó làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường nó nhìn thấy chiếc xe và cha nó bị nước cuốn trôi, 100% khả năng chắc là chết rồi. Hỏi mẹ nó đâu, nó nói nhà nó nằm ngay bờ biển, mẹ và em của nó chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe tôi hỏi đến thân nhân. Nhìn thấy nó lạnh run lập cập tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người nó. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài,tôi nhặt lên đưa cho nó và nói: “Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói”.
Thằng bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn. Tôi nghĩ bình thường nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để vào thùng thực phẩm rồi lại quay lại xếp hàng. Tôi sửng sốt và ngạc nhiên vô cùng, mới hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nó trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”. Tôi nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác để khóc để nó và mọi người đang xếp hàng không nhìn thấy. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy một thằng có ăn có học từng có bằng tiến sĩ như tôi một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh. Tôi nghĩ một dân tộc với những đứa trẻ 9 tuổi đã biết nhẫn nại, chịu gian khổ và chấp nhận hy sinh cho người khác chắc chắn là một dân tộc vĩ đại. Đất nước này giờ đây đang đứng ở trong những giờ phút nguy cấp nhất của sự điêu tàn, nhưng chắc chắn nó sẽ hồi sinh mạnh hơn nhờ những công dân biết hy sinh bản thân ngay từ tuổi niên thiếu.
Lên đây rồi bây giờ tôi mới thấm thía câu nói của vị thiền sư phụ của tôi ở Tokyo trước khi lâm chung dạy lại cho tôi đó là “Nhân sinh nhất mộng, bất luận kiến tâm, Tâm vô sở cầu thị Phật”. Cái sự hy sinh vì người một cách vô ngã của đứa nhỏ 9 tuổi khiến tôi ngộ ra được những điều cả cuộc đời bon chen của mình tôi chưa nhận thấy được. Tôi nhường khẩu phần ăn tối của tôi cho thằng bé để nhận của nó một lời cám ơn, còn nó cho đi cả buổi ăn tối của nó một cách vô tư không so đo dù nó đói còn thê thảm hơn tôi nhiều và chắc còn phải đói nhiều trong cả cuộc đời vì không gia đình nữa”.
(Theo ione.vnexpress.net, 19/3/2011)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [1105990]: Cậu bé trong câu chuyện đã ứng xử ra sao khi nhận được túi lương khô của người kể chuyện?
- Cậu bé trong câu chuyện khi nhận được túi lương khô của người kể chuyện đã:
+ Khom người cảm ơn.
+ Ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để vào thùng thực phẩm rồi lại quay lại xếp hàng.
Câu 2 [1105991]: Bài học mà nhân vật “tôi”, người kể chuyện, đã nhận được từ cậu bé là gì?
- Bài học mà nhân vật “tôi”, người kể chuyện, đã nhận được từ cậu bé là một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất – một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh.
Câu 3 [1105992]: Người kể chuyện thể hiện tình cảm, thái độ như thế nào đối với cậu bé?
- Người kể chuyện thể hiện tình cảm, thái độ:
+ Thương xót cho hoàn cảnh đánh thương của cậu bé.
+ Ngỡ ngàng, bất ngờ; trân quý, ngợi ca ý nghĩ, hành động cao cả, nhân văn của một đứa trẻ 9 tuổi.
Câu 4 [1105993]: Nếu là cậu bé trong câu chuyện, em sẽ xử lí như thế nào trong tình huống tương tự?
HS có thể trả lời theo nhiều cách, chẳng hạn:
- Nếu là cậu bé trong câu chuyện, với tình huống tương tự, em sẽ nhận túi lương khô nhưng chỉ lấy vừa đủ cho mình, phần còn lại em sẽ chia sẻ cho những người xếp hàng sau hoặc những người già yếu, khó khăn hơn. Bởi, trong lúc hoạn nạn, ai cũng cần được giúp đỡ, biết san sẻ không chỉ giúp người khác vượt qua khó khăn mà còn làm cho xã hội trở nên ấm áp, nhân ái hơn.
Câu 5 [1105994]: Chỉ ra một bài học anh/chị nhận được từ văn bản.
- Con người cần biết hy sinh vì người khác, bởi trong cuộc sống, đặc biệt là lúc khó khăn, việc sẵn sàng nhường nhịn, chia sẻ quyền lợi của mình cho người khác thể hiện lòng nhân ái và trách nhiệm cộng đồng. Sự hy sinh ấy có thể rất nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn, giúp người khác vượt qua khó khăn và làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- Dù hoàn cảnh khắc nghiệt, đau khổ đến đâu, những hành động tử tế, yêu thương vẫn tồn tại và được lan tỏa. Chính những điều tốt đẹp ấy đem lại niềm tin, hi vọng và tiếp thêm sức mạnh để con người vượt qua nghịch cảnh.
- …
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [1105995]: Từ đoạn trích thuộc phần Đọc hiểu trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ), trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng tự trọng.
a. Phân tích đề
- Hình thức: đoạn văn; Dung lượng: 200 chữ
- Vấn đề nghị luận: lòng tự trọng
- Thao tác lập luận chính: bình luận (+ giải thích, phân tích, chứng minh, …).
- Phạm vi dẫn chứng: trong thực tế cuộc sống.
b. Triển khai
Đoạn văn trình bày suy nghĩ về lòng tự trọng có thể triển khai theo nhiều cách, song cần bảo đảm các ý chính:
* Giải thích:
- Tự trọng là coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự, giá trị bản thân.
* Bàn luận:
- Biểu hiện của lòng tự trọng:
+ Sống trung thực, thẳng thắn, không lừa dối; làm việc có trách nhiệm, giữ chữ tín với mọi người; dám nhận lỗi và chịu trách nhiệm về sai lầm của mình.
+ Tự ý thức về vị trí, vai trò của mình; kiên quyết từ chối làm những việc phi đạo đức, trái lương tâm, hay hạ thấp danh dự; biết nói “không” trước cám dỗ, biết giữ giới hạn đạo đức.
- Vai trò, ý nghĩa của lòng tự trọng:
+ Đối với cá nhân: là nền tảng của nhân cách, giúp con người sống có nguyên tắc, có mục đích và bản lĩnh trước khó khăn; thúc đẩy cá nhân tự hoàn thiện, không ngừng học hỏi để xứng đáng với giá trị mình đặt ra. Người tự trọng sẽ nhận được sự tôn trọng, yêu quý thực sự từ người khác.
+ Đối với xã hội: góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh, hạn chế tiêu cực, tham nhũng, lừa dối; là nền tảng của các giá trị đạo đức: trung thực, trách nhiệm, nhân ái.
- Để rèn luyện lòng tự trọng:
+ Nhận thức:
• Lòng tự trọng là đức tính quan trọng, mỗi người cần có.
• Tự trọng phải đi đôi với sự tự ý thức và tự rèn luyện.
+ Hành động:
• Giữ lời hứa, nói đi đôi với làm; không nói dối, không buông lời xu nịnh, và kiên quyết từ chối những lời nói hạ thấp người khác hoặc chính mình.
• Dám chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình; học cách tôn trọng người khác và luôn giữ vững nguyên tắc đạo đức, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
* Mở rộng:
- Phê phán những người sống giả tạo, dối trá để trục lợi, vì danh lợi mà dựa dẫm, luồn cúi, đánh mất phẩm giá; sống vô trách nhiệm, không giữ chữ tín.
- Tự trọng không đồng nghĩa với sĩ diện, kiêu căng, tự mãn, không dám nhận sai lầm.
Câu 7 [704966]: (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ), phân tích văn bản sau đây:
“13.1 [70]
Vậy là M. đã ra đi! Không thể nào mình lại nghĩ sự việc lại như bây giờ. Tám năm về trước dưới rặng cây trên con đường cũ mình tiễn M. đi Nam, không một lời hứa hẹn, không một giọt nước mắt trong buổi chia tay, để rồi suốt năm năm sau mình dành trọn tình yêu thiết tha chung thủy cho người giải phóng quân ấy. Và mình đã lên đường vào Nam theo tiếng gọi của Tổ quốc và Tình yêu. Mình đã gặp lại M. Ai cũng tưởng rằng hạnh phúc đó không có gì sánh được. Nhưng cuộc đời thật lắm nỗi éo le. Khi xa nhau mình đã thiết tha thầm gọi tên M. trong từng giây từng phút, nhưng khi gặp nhau mình đã để cho lòng tự ái ngự trị lên trên tình yêu. M. không phải là của riêng mình, đành rằng M. chỉ dành tình yêu cao nhất cho Đảng, cho nhân dân, nhưng nếu để cho mình quá ít yêu thương thì... không thể đáp ứng với trái tim sôi nổi yêu thương của mình. Mình không hề đòi hỏi phải gần nhau, phải cưới nhau mà chỉ mong rằng dù giữa bom rơi, đạn nổ giữa lửa khói chiến trường tình yêu vẫn sáng ngời rực rỡ. M. đã không làm được như vậy và mình đã bắt con tim mình phải quên đi những gì đã nuôi sống nó trong hơn mười năm nay.
Mình quả đúng như lời M. nhận định: “Th. có tình yêu đắm say mãnh liệt thủy chung và nhiều tự trọng.”
Ba năm qua hai đứa chỉ gặp nhau hai lần, mình và M. đều cảm thấy buồn khi nghĩ đến tình yêu.
Lỗi tại ai? Tại mình hay tại M.? Không ai trả lời được, ai cũng bàn luận và góp ý cho cả hai đứa mình. Người thì khuyên mình không cần thiết phải tiếp tục yêu một người không xứng đáng trong tình yêu với mình. Một số người khác hiểu M. hơn thì cố khuyên mình đừng tự ái để trở lại với nhau, nhưng hai đứa chỉ cười trước tất cả mọi ý kiến. Không ai hiểu nổi tình yêu của hai đứa đâu. Và để giải quyết được cũng không một ý kiến nào ngoài ý kiến của hai đứa.
Bây giờ M. ra đi không gặp Thùy, như lá thư M. viết lại “Sự sống của tình yêu không cần sự có mặt của nhau, dù ở Nam hay Bắc, dù là gần nhau hay cách ngàn dặm đường nắng mưa cát bỏng... ở đâu anh cũng vấn là anh của tám năm qua và nhiều năm nữa để mà yêu em tha thiết. Hãy sống với nhau như một người thân yêu nhất trên đời. Quyền quyết định là hoàn toàn do em...”
Cách giải quyết đó cũng được. Ở đây mình cũng sẽ dành trọn cuộc sống cho chiến đấu và công tác - không thể nào có tình yêu nào được và M. ở đó chắc cũng không thể nào có được một tình yêu chân chính khi nghĩ đến ai khác ngoài mình.
Cuộc đời đã dành cho ta một đoạn đường như vậy thì hãy ráng mà đi, bao giờ gặp lại nhau hãy nói tiếp đến tương lai.
Chúc M., người đồng chí yêu thương lên đường bình an - gởi theo M. ngàn vạn nhớ thương, tình nhớ thương của một người bạn và một người đồng chí.”
(Theo Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2020)
Bài văn phân tích văn bản được rút từ Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm có thể triển khai theo nhiều cách, song cần bảo đảm các ý chính:
* Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm
- Đặng Thuỳ Trâm:
+ Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ra trong một gia đình trí thức ở Huế, lớn lên tại Hà Nội. Là người yêu thích văn học, Đặng Thùy Trâm đọc nhiều sách, thuộc nhiều thơ, bị ảnh hưởng rất lớn bởi tính cách của các nhân vật lí tưởng như Pavel Korchagin trong Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu...
+ Năm 1961, nối nghiệp gia đình, Đặng Thùy Trâm thi đỗ vào Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Tháng 6/1966, với những thành tích học tập và hoạt động xuất sắc, chị được Trường Đại học Y khoa Hà Nội cho tốt nghiệp sớm hơn một năm với tấm bằng hạng ưu.
Sau khi tốt nghiệp, Đặng Thuỳ Trâm tình nguyện vượt Trường Sơn vào công tác tại chiến trường Quảng Ngãi. Ngày 22/6/1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Bệnh xá Đức Phổ bị lính Mỹ tập kích và chị anh dũng hi sinh khi chưa tròn 28 tuổi đời. Đặng Thùy Trâm đã ngoan cường chiến đấu như tinh thần của Mariuyt, của Gavơrốt trên chiến lũy thành Paris mà chị từng ngưỡng mộ.
- Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm:
+ Vào tháng 6 - 1970, sau một trận càn của lính Mỹ vào một căn cứ của ta chiến trường Đức Phổ (Quảng Ngãi), trong đống chiến lợi phẩm có một cuốn nhật kí của người nữ chiến sĩ - bác sĩ Đặng Thùy Trâm vừa hi sinh. Fredric Whitehurst, một lính Mỹ, đã định châm lửa đốt quyển sổ tay được bọc bằng vải, thì người phiên dịch đã cản: “Đừng đốt. Bản thân nó đã có lửa rồi!”. Người lính Mỹ đã dừng tay trước quyển sổ đầy chữ ấy. Và “ngọn lửa” ấy còn dẫn Fredric và người anh trai là Robert Whitehurst (cũng là một cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam) làm một cuộc hành trình tình nguyện đưa nhật kí của Đặng Thùy Trâm về với gia đình chị...
- Thể loại: nhật kí
+ Là thể loại ghi chép theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến; thường bộc lộ suy nghĩ, thái độ và cách đánh giá của người viết về con người, cuộc đời và chính bản thân mình.
+ Đặc điểm nổi bật: tính phi hư cấu; sử dụng một số thủ pháo nghệ thuật như miêu tả, trần thuật,...
+ Cuốn nhật kí thể hiện một tình yêu lớn lao, một tình người gắn với lí tưởng sống, lẽ sống của cuộc đời chiến sĩ trẻ tuổi, đó là tình cảm với nhân dân, với đồng đội.
* Phân tích văn bản
- Tính phi hư cấu: thể hiện qua tính chân xác của con người, bối cảnh, sự kiện
+ Bối cảnh: Tháng 01 năm 1970 (trang nhật kí này được bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm viết ngày 13 tháng 01 năm 1970, tại bệnh xá Đức Phổ - nơi công tác của chị). Xét về thời điểm, đây là thời điểm thuộc giai đoạn đấu tranh ác liệt nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Xét về địa điểm, bệnh xá Đức Phổ (Quảng Ngãi) là bệnh xá tiền phương, nơi đón nhận các thương bệnh binh của quân đội ta. Là bệnh xá trưởng của bệnh xá này, bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm cùng các anh chị em đồng nghiệp của mình hằng ngày phải đối diện với rất nhiều đau thương, thậm chí cả hi sinh, mất mát. Họ không chỉ phải vững chuyên môn để cứu thương mà còn phải vững tâm, vững chí cùng bộ đội, chiến sĩ vượt qua những thương đau.
+ Nhân vật xuất hiện trong văn bản là bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm (Thuỳ, Th.) - người trực tiếp ghi lại những dòng nhật kí này - chủ thể trữ tình của văn bản và M. (Mạnh) - người yêu của bác sĩ Thuỳ.
+ Câu chuyện được tái hiện ngắn gọn trong văn bản là chuyện tình yêu giữa Th. và M. trong bối cảnh chiến tranh và quyết định chia tay với M. của Th.. Theo đó, đây là một câu chuyện thuộc về tình cảm riêng tư của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm. Song, qua văn bản, người đọc có thể cảm nhận sâu sắc nỗi lòng cũng như vẻ đẹp nhân cách của người con gái này.
⟶ Tính phi hư cấu khiến câu chuyện hiện lên chân thực, sinh động mà vẫn chứa chan cảm xúc đời thường.
- Sự đan xen giữa miêu tả với trần thuật:
+ Biểu hiện của trần thuật và miêu tả trong văn bản:
• Trần thuật: thể hiện qua chuỗi sự việc được tái hiện
o Tám năm về trước, Th. tiễn M. đi Nam chiến đấu. Sau đó, theo tiếng gọi của Tổ quốc và Tình yêu, Th. cũng lên đường vào Nam.
o Ba năm trong chiến trường miền Nam, hai người chỉ gặp nhau hai lần.
o Lần gặp sau cùng, Th. quyết định chia tay M. vì cảm thấy tự ái trong tình yêu với M.
• Miêu tả: chủ yếu thể hiện qua sự tái hiện diễn biến tình cảm, cảm xúc trong nhân vật Thuỳ
• Chi tiết miêu tả bối cảnh: dưới rặng cây trên con đường cũ ⟶ chi tiết góp phần tái hiện cụ thể bối cảnh chia tay, đồng thời thể hiện sự khắc ghi của nhân vật Thuỳ về khoảnh khắc chia xa thiêng liêng giữa chị với người yêu.
• Chi tiết miêu tả sự việc: không một lời hứa hẹn, không một giọt nước mắt trong buổi chia tay ⟶ chi tiết phản ánh lí trí, sự rắn rỏi, kiên gan của hai người yêu nhau trong khoảnh khắc chia tay, một người ở lại, một người vào chiến trường chiến đấu. Dù không diễn tả cụ thể nhưng chi tiết cho phép người đọc hình dung về sự đồng lòng, chung lí tưởng của hai người. Cả người đi và người ở đều cùng nhận thức sâu sắc về sứ mệnh của bản thân, của tuổi trẻ, đều thấy rõ sự cần thiết của việc đặt trách nhiệm với Tổ quốc lên trước tình yêu đôi lứa.
• Yếu tố miêu tả được thể hiện nhiều hơn qua sự tái hiện diễn biến tình cảm, cảm xúc trong nhân vật Thuỳ: tình yêu thiết tha chung thủy; cuộc đời thật lắm nỗi éo le; khi gặp nhau mình đã để cho lòng tự ái ngự trị lên trên tình yêu; trái tim sôi nổi yêu thương; chỉ mong rằng dù giữa bom rơi, đạn nổ giữa lửa khói chiến trường tình yêu vẫn sáng ngời rực rỡ. ⟶ Các chi tiết tập trung miêu tả rõ nét diễn biến tâm trạng của Th., những xúc cảm của chị trong tình yêu giữa chị và M. từ khi chị vào chiến trường: Chị vẫn tha thiết yêu M. song có lẽ chị mong chờ nhiều hơn ở anh một sự quan tâm nồng nhiệt của một tình yêu lứa đôi thực sự dẫu họ đang trong hoàn cảnh chiến tranh.
⟶ Sự đan xen giữa miêu tả với trần thuật giúp sự kiện và con người hiện lên sinh động; văn bản không đơn thuần thông tin sự việc mà còn bộc lộ rõ nét tâm tư, nỗi lòng của nhân vật trữ tình (người ghi nhật kí).
- Hình tượng nhân vật trong văn bản:
+ Hoàn cảnh: Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm là bệnh xá trưởng tại bệnh xá Đức Phổ (Quảng Nam). Chị có người yêu tên là M., hai người đã có tình cảm với nhau khá lâu trước đó. Anh M. vào chiến trường miền Nam rồi sau đó chị Th. cũng vào. Song, do hoàn cảnh chiến tranh, suốt ba năm cùng chiến trường nhưng anh chị chỉ gặp nhau được hai lần.
+ Tâm hồn, tính cách: Khác với nhiều trang nhật kí trong hai cuốn sổ nhỏ chị ghi chép thường ngày (nhật kí Đặng Thuỳ Trâm được chị ghi trong hai cuốn sổ), trang nhật kí này của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm là những dòng viết chân thực về tình cảm cá nhân với những cảm xúc, suy nghĩ thành thực của chị về anh M., về tình yêu của hai người và cảm nghĩ của chính chị. Những dòng viết của chị tuy không dài nhưng đủ để người đọc hình dung về một người con gái giàu cảm xúc với rất nhiều vẻ đẹp trong tâm hồn, nhân cách:
• Giàu tình cảm: Nỗi tiếc nuối trước sự chia li trong tình yêu (Không thể nào mình lại nghĩ sự việc lại như bây giờ.); nhớ nhung, yêu thương những kỉ niệm đẹp đẽ (nhớ lại ngày chị tiễn anh đi Nam tám năm về trước);...
• Một trái tim con gái với tình yêu trong sáng, mãnh liệt, thành thực song cũng đầy tự trọng, lí trí:
o Sâu sắc, mãnh liệt: Khi xa nhau mình đã thiết tha thầm gọi tên M. trong từng giây từng phút; chỉ mong rằng dù giữa bom rơi, đạn nổ giữa lửa khói chiến trường tình yêu vẫn sáng ngời rực rỡ. Các chi tiết khắc hoạ tình yêu sôi nổi, thuỷ chung, đằm thắm chị dành chọn cho người yêu.
o Đầy tự ái: nhưng khi gặp nhau mình đã để cho lòng tự ái ngự trị lên trên tình yêu. Chính anh M. cũng đã viết rất đúng về tình cảm của chị: “Th. có tình yêu đắm say mãnh liệt thủy chung và nhiều tự trọng.”.
o Lí trí: nếu để cho mình quá ít yêu thương thì... không thể đáp ứng với trái tim sôi nổi yêu thương của mình; M. đã không làm được như vậy và mình đã bắt con tim mình phải quên đi những gì đã nuôi sống nó trong hơn mười năm nay.; Và để giải quyết được cũng không một ý kiến nào ngoài ý kiến của hai đứa.
• Một người trẻ có lí tưởng cao đẹp, lối sống đẹp đẽ, giàu nhiệt huyết:
o Lí tưởng cao đẹp: mình đã lên đường vào Nam theo tiếng gọi của Tổ quốc và Tình yêu, Tổ quốc và Tình yêu đã trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc người con gái bé nhỏ dấn thân vào nơi chiến trường mưa bom bão đạn; Ở đây mình cũng sẽ dành trọn cuộc sống cho chiến đấu và công tác - không thể nào có tình yêu nào được, khi tình yêu không tròn vẹn, chị không để mình đắm chìm vào sầu khổ, bi luỵ mà kiên trung, dồn hết tình yêu cho Đảng, cho cách mạng.; Cuộc đời đã dành cho ta một đoạn đường như vậy thì hãy ráng mà đi, chị kiên cường, cứng cỏi động viên chính mình mạnh mẽ vượt qua, không để bản thân yếu mềm trước hoàn cảnh mà nhiều người con gái chỉ biết rơi nước mắt.
o Những dòng cuối cùng của trang nhật kí này dẫu ghi lại tình cảm sau cùng Thuỳ dành cho anh M. nhưng người đọc vẫn có thể cảm nhận được sâu sắc hình ảnh của một người trẻ với lối sống đẹp, giàu lí tưởng, giàu nhiệt huyết với đồng chí, đồng đội của mình: Chúc M., người đồng chí yêu thương lên đường bình an - gởi theo M. ngàn vạn nhớ thương, tình nhớ thương của một người bạn và một người đồng chí.
⟶ Sự kết hợp giữa chi tiết, sự kiện hiện thực với trải nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ của người viết khiến trang nhật kí không chỉ chứa đựng thông tin mà còn chứa đựng tình cảm, tư tưởng sâu sắc: Người con gái khi yêu không nên quá đắm chìm trong cảm xúc lứa đôi, tình yêu cần lí trí soi đường để không ai đánh mất lòng tự trọng trong chính tình yêu của mình; và trong hoàn cảnh chiến tranh, một trái tim yêu đương sôi nổi bao nhiêu cũng cần biết từ bỏ, nhường chỗ tình cảm cá nhân cho trách nhiệm với Tổ quốc. Đó cũng chính là những ý nghĩa lớn lao, những thông điệp giá trị mà trang nhật kí mang đến người đọc chúng ta.
* Đánh giá chung
- Văn bản đã tái hiện chân thực cảm xúc, suy nghĩ riêng tư của chiến sĩ - bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm. Tại đó, người đọc được chứng kiến hình ảnh của một con người cá nhân, một cô gái không chỉ say mê sống với lí tưởng cao đẹp mà còn được bắt gặp một trái tim yêu nồng nàn, tha thiết nhưng đầy tự trọng, đáng trân quý.
- Văn bản khiến người đọc càng thêm yêu thương, kính trọng trước nhân cách cao đẹp, đức hi sinh cao cả của chiến sĩ - bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm nói riêng và cả một thế hệ thanh niên thời đại chống Mỹ nói chung.