I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
“(1) Một trong những ẩn dụ cổ xưa nhất trong việc con người tương tác với công nghệ chính là mối quan hệ giữa chủ và nô lệ. Aristotle đã từng tưởng tượng rằng công nghệ có thể thay thế chế độ nô lệ nếu như khung dệt trở nên hoàn toàn tự động. Vào thế kỷ 19, Oscar Wilde đã nhìn thấy tương lai khi các cỗ máy đã thực hiện tất cả các chức năng lao động ngu si và đần độn, giải phóng cho nhân loại để tự do làm nên “những điều tuyệt vời nhất” hay chỉ đơn giản chỉ đơn giản là “chinh phục thế giới với lòng ngưỡng mộ và thích thú”. Marx và Engels đã nhìn ra sự khác biệt. “Đám đông đang từng ngày từng giờ bị lệ thuộc vào máy móc”, họ đã viết như thế trong tác phẩm Communist Manifesto (“Tuyên ngôn Cộng sản”). Máy móc không hề giúp chúng ta khỏi ách nô lệ mà ngược lại chúng đã trở thành một phương tiện nô lệ.
(2) Ngày nay, những chiếc máy tính thường đóng cả hai vai trò. Ông Nicholas Carr, tác giả quyển sách Atlantic năm 2008 với tựa đề sách “Liệu Google đang khiến chúng ta ngu muội đi?”, và cuốn sách mới nhất của ông mang tựa đề “Chiếc lồng kính: Tự động hóa và chúng ta”, phân tích nhiều lĩnh vực đương đại trong đó các phần mềm có khả năng tăng cường nhận thức của con người, từ các chẩn đoán y học cho đến các chương trình mô hình kiến trúc. Như chính tiêu đề của nó, quyển sách cũng đang hoài nghi rằng liệu công nghệ đang giam hãm hay giải phóng người sử dụng. Nicholas Carr khẳng định rằng, chúng ta đang ngày càng bị giam cầm nhưng chính vì sự vô hình của cảm giác công nghệ cao đã khiến cho chúng ta lầm tưởng mình đang tự do.
(3) Để chứng minh, ông Carr đã lấy bằng chứng về những thợ săn Inuit ở miền Bắc Canada. Các thế hệ thợ săn lớn tuổi thường theo dõi dấu vết của các con tuần lộc sinh sống trên khắp vùng lãnh nguyên với độ chính xác đáng kinh ngạc, do họ đã ghi nhận kỹ lưỡng sự thay đổi của gió, hình dạng dấu tuyết, các ngôi sao và tập tính thói quen của loài động vật. Nhưng các thợ săn trẻ tuổi bắt đầu sử dụng các loại xe trượt tuyết và thiết bị định vị GPS, sức mạnh hoa tiêu của họ đã bị từ chối. Thay vì theo kinh nghiệm bản thân, họ đã tin chắc vào các thiết bị định vị GPS và đã bỏ qua những nguy hiểm đang chờ đón mình, tốc độ di chuyển trên các vách đá núi hay trượt trên bề mặt băng mỏng. Và khi GPS bị bể hay pin bị đóng băng, tất sẽ dẫn đến việc cánh thợ săn trẻ bị tổn thương.
(4) Ông Carr còn nghiên cứu bao gồm các trường hợp khác: Ông mô tả cánh bác sĩ ngày nay trở nên quá lệ thuộc vào những phần mềm hỗ trợ ra quyết định khi họ quan sát các tín hiệu quan trọng từ bệnh nhân, song đôi khi họ cũng có thể gây ra các quyết định thiếu chính xác. Khả năng vẽ mô hình của các kiến trúc sư cũng bị ảnh hưởng nặng nề khi vẽ bằng tay trần thì họ chuyển sang các nền tảng kỹ thuật số. Và ông Carr kể lại những trường hợp đáng sợ khi các phi công máy bay thương mại thường tỏ ra lúng túng khi thực hiện các thao tác đơn giản trong những trường hợp khẩn cấp, bởi vì họ quá lệ thuộc vào những hệ thống lái tự động. Bản thân ông Carr cũng thừa nhận rằng những công nghệ này thường nhấn mạnh và hỗ trợ đắc lực cho các kỹ năng của con người.”
+ Giam hãm con người.
+ Giải phóng người sử dụng.
⦁ Aristotle đã từng tưởng tượng rằng công nghệ có thể thay thế chế độ nô lệ nếu như khung dệt trở nên hoàn toàn tự động.
⦁ Oscar Wilde đã nhìn thấy tương lai khi các cỗ máy đã thực hiện tất cả các chức năng lao động ngu si và đần độn, giải phóng cho nhân loại ...
⦁ Marx và Engels: “Đám đông đang từng ngày từng giờ bị lệ thuộc vào máy móc”.
- Tác dụng của Việc viện dẫn ý kiến của Aristotle, Oscar Wilde, Marx và Engels trong đoạn (1):
⦁ Dẫn dắt, tạo cơ sở cho VĐNL được bàn đến: Mối quan hệ giữa con người và công nghệ.
⦁ Thể hiện những quan điểm trái ngược về VĐNL trong quá khứ: Aristotle, Oscar Wilde nhìn thấy tác động tích cực; Marx và Engels nhận định tác động tiêu cực.
⦁ Những thợ săn Inuit ở miền Bắc Canada trong việc sử dụng GPS.
⦁ Bác sĩ với việc chẩn đoán bệnh.
⦁ Khả năng vẽ mô hình của các kỹ sư.
⦁ Sự phụ thuộc vào hệ thống lái tự động của các phi công.
- Hiệu quả của các dữ liệu được sử dụng trong các đoạn (3), (4)
⦁ Giúp lập luận thêm chặt chẽ, rõ ràng.
⦁ Thể hiện những tác động tiêu cực của việc lạm dụng công nghệ.
⦁ Đưa ra lời khuyên, lời cảnh tỉnh: Con người không nên phụ thuộc vào công nghệ, nếu không sẽ xảy ra hệ quả khôn lường.
- Công nghệ luôn có hai mặt:
+ Nếu chúng ta biết cách sử dụng, công nghệ sẽ trở thành cánh tay đắc lực, giúp chúng ta dễ dàng, nhanh chóng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một cách hiệu quả.
+ Nếu chúng ta phụ thuộc/ lạm dụng vào công nghệ, chúng ta sẽ nhận lấy hệ quả khôn lường (như các thợ săn trẻ tuổi lạm dụng GPS, các bác sĩ chẩn đoán bệnh dựa vào công nghệ, kỹ sư mất/ giảm khả năng vẽ mô hình bằng tay, phi công không xử lý được tình huống khẩn cấp do quen sử dụng hệ thống lái tự động)
⟶ Con người cần biết cách sử dụng công nghệ hiệu quả.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) đề xuất giải pháp giải thoát cho con người khỏi sự giam cầm của công nghệ khoa học hiện đại.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) đề xuất giải pháp giải thoát cho con người khỏi sự giam cầm của công nghệ khoa học hiện đại có thể được triển khai theo theo hướng:
- Sự giam cầm của công nghệ khoa học hiện đại với con người (=Tác hại):
+ Con
người lệ thuộc vào công nghệ, không chịu tư duy trong mọi vấn đề.
+ Con
người bị “giám sát vô hình”, mất quyền tự do cá nhân, sự riêng tư.
+
Công nghệ khiến con người sống trong “thế giới màn hình”, cách lí dần với các
mối quan hệ thực tế.
...
-
Đề xuất giải pháp để con người giải thoát khỏi sự giam cầm đó:
+
Nhận thức:
- Vai trò của công nghệ (chỉ là một phần của
cuộc sống, không phải toàn bộ) cùng những mặt trái nếu lạm dụng nó.
- Giá trị con người: con người có khả năng tư
duy độc lập, sáng tạo, linh hoạt, cảm xúc - điều mà công nghệ không thể
có.
+
Hành động:
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về công nghệ.
- Làm chủ bản thân, sử dụng công nghệ có chọn
lọc và giới hạn.
- Rèn luyện tư duy độc lập.
- Dành thời gian cho những mối quan hệ thực
xung quanh.
- Chăm sóc sức khoẻ tinh thần, thể chất của bản
thân.
- …
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) cảm nhận về vẻ đẹp của quê hương đất nước trong bài thơ sau:
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?
Mẹ tôi em có gặp đâu không
Bao xác già nua ngập cánh đồng
Tôi nhớ một thằng em bé nhỏ
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông
Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều suối lệ
Em đã bao ngày lệ chứa chan?
Đôi mắt người Sơn Tây
U ẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng.
Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca
Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?
* Giới thiệu khái quát tác giả Quang Dũng, tác phẩm Mắt người Sơn Tây
- Quang Dũng:
+ Là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.
+ Đặc điểm sáng tác:
• Viết nhiều và viết hay nhất ở hai mảng đề tài người lính và xứ Đoài quê ông.
• Thơ Quang Dũng đậm chất hoạ, chất nhạc (do Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ngoài làm thơ ông còn viết truyện, vẽ tranh, soạn nhạc).
• Hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa.
- Mắt người Sơn Tây:
+ Được viết năm 1949 - thời điểm thuộc giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
+ Đề tài quê hương đất nước - một đề tài quen thuộc trong thơ ca (“Đồng chí” - Chính Hữu, “Nhớ” - Hồng Nguyên, “Bên kia sông Đuống” - Hoàng Cầm, “Việt Bắc” - Tố Hữu, “Đất nước” - Nguyễn Đình Thi, “Mặt đường khát vọng” - Nguyễn Khoa Điềm, “Đi trong hương tràm” - Hoài Vũ, “Quê hương” - Giang Nam, “Mùa hoa mận” - Chu Thuỳ Liên, “Tổ quốc” - Nguyễn Sĩ Đại,...).+ Thể thơ: Trừ khổ thơ thứ năm, bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ.
+ Nhân vật trữ tình: “tôi” - một người lính, một người con của “xứ Đoài mây trắng”.
+ Cảm hứng chủ đạo: nỗi nhớ thương quê hương.
+ Bố cục:
• Khổ đầu: Tình huống gặp gỡ tình cờ giữa “tôi” và “em” - người con gái xứ Đoài
• Bốn khổ tiếp: Nỗi nhớ quê hương, gia đình, xóm làng và niềm đau xót, những âu lo, thấp thỏm trong hình dung về quê hương khi bị giặc giày xéo.
• Hai khổ cuối: Khao khát ngày hoà bình được trở về quê hương, được gặp lại “em”.
* Cảm nhận về vẻ đẹp của quê hương đất nước trong bài thơ Mắt người Sơn Tây
- Cảm nhận chung: Trong bài thơ, hình ảnh quê hương của nhân vật trữ tình “tôi” hiện lên qua:
+ Suốt dọc bài thơ là hàng loạt từ ngữ chỉ địa danh, sơn danh, địa điểm: “thành Sơn”, “Bất Bạt”, “Ba Vì”, “Tây Phương”, “xứ Đoài”, “Sơn Tây”, “Bương Cấn”, “Sài Sơn”, “Sông Đáy”, “Phủ Quốc”. ⟶ Quê hương hiện lên rõ nét, chi tiết từng nơi, từng chốn, từng khung cảnh núi, sông, đồng, ruộng trong tâm trí người xa quê đi chinh chiến.
+ Hình ảnh “xứ Đoài mây trắng” được miêu tả bởi cả hai đặc điểm tươi đẹp, đau thương nhưng sau tất cả ấn tượng về vẻ đẹp có phần đậm nét, lắng đọng hơn và ngay cả trong đau thương vẫn tươi đẹp (“Đất đá ong khô nhiều suối lệ”).
- Cảm nhận chi tiết:
+ Xứ Đoài vẹn nguyên tươi đẹp trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình “tôi” những ngày chinh chiến xa quê nhà:
• Hai dòng thơ “Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt/ Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì” trong khổ thơ thứ nhất không tả mà chỉ gợi những hình ảnh những dãy núi sừng sững cao ngất, bảng lảng khói sương vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, huyền hoặc của chốn non nước linh thiêng - nơi ngự trị của đấng tối linh (núi Tản Viên Đức Thánh Tản và Ngọc Hoa công chúa).
• Các chi tiết “buồn Tây Phương”, “xứ Đoài mây trắng” trong khổ thơ thứ hai gợi một không gian cao rộng, khoáng đạt, thanh tĩnh, yên bình, man mác nỗi buồn thời li loạn.
• Câu thơ “Đất đá ong khô nhiều suối lệ” dùng hình ảnh đặc trưng của mảnh đất Sơn Tây - “đất đá ong” (chất đất ở dưới nước sâu thì mềm, thấm nước vì có nhiều lỗ hổng, nhưng khi đào và đưa lên mặt đất thì kết dính và tạo thành đá rắn chắc) để diễn tả nỗi đau thương của quê hương trong chiến tranh li loạn. Song, điều đáng nói là cụm từ “suối lệ” (“lệ” là một từ Hán Việt) lại mĩ lệ hoá nỗi đau ấy, khiến người đọc có hình dung ngay cả trong đau thương, quê hương ấy vẫn hiện lên thật đẹp.
(Liên hệ hình ảnh quê hương tươi đẹp trong quá khứ ở bài thơ “Bên kia sông Đuống” - Hoàng Cầm.)
+ Xứ Đoài tươi đẹp trong mộng tưởng tương lai:
• Các chi tiết gợi tả không gian “đồng Bương Cấn”, “núi Sài Sơn”, “sông Đáy” mang đến cảm nhận về một khung cảnh nên thơ, trữ tình.
• Chuỗi hình ảnh “lúa vàng”, dòng sông “chậm nguồn qua Phủ Quốc”, âm thanh “sáo diều” vi vút trong “đêm trăng - khuy khoắt” hay những tiếng ca rộn ràng trong cuộc sống đời thường vừa gợi cảm nhận về sự giàu có, trù phú vừa mang đến hình dung về một cảnh đời mới mẻ, bình yên, êm lặng khi quê hương sạch bóng quân thù (chú ý các tính từ: “lúa vàng”, “chậm nguồn”, “khuya khoắt”, “thanh bình”, “rộn tiếng ca”).
* Đánh giá chung
- “Mắt người Sơn Tây” đã khắc hoạ thành công hình tượng quê hương đất nước tươi đẹp trong kháng chiến (liên hệ: vẻ đẹp quê hương đất nước trong “Bên kia sông Đuống” - Hoàng Cầm, “Việt Bắc” - Tố Hữu,...), góp phần làm phong phú thêm cho đề tài quê hương đất nước trong thơ ca Việt Nam; từ đó, bộc lộ đậm nét tình yêu quê hương đất nước trong Quang Dũng; lan thấm, bồi đắp tình yêu quê hương đất nước trong bạn đọc mọi thế hệ.
- Quang Dũng đã vận dụng thành công thủ pháp gợi tả kết hợp với bút pháp trữ tình khi khắc hoạ vẻ đẹp của quê hương “xứ Đoài mây trắng”; đối lập giữa quê hương đất nước tươi đẹp trong quá khứ và tương lai với quê hương đau thương trong hiện tại; giọng thơ khi tha thiết nhớ thương lúc khát khao trở lại;...
<*> Tham khảo bài viết:
Quang Dũng hiển nhiên là một trong số các nhà thơ chống Pháp tiêu biểu nhất. Đọc thơ ông có thể dễ dàng cảm nhận được tinh thần và nghệ thuật thơ ca thời kì này: Đầy tính lãng mạn pha trộn với chất kiêu hùng, tràn tính nhạc lẫn những câu thơ ngắn dài khác nhau rất khỏe khoắn. “Mắt người Sơn Tây” là một bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ ca tài hoa của Quang Dũng, nổi tiếng chẳng kém bài thơ “Tây Tiến” nhiều năm được giảng dạy trong nhà trường.
Bài thơ có 7 khổ thơ thì 5 khổ thơ đầu vẽ lên khung cảnh ở thời hiện tại với cảnh chiến tranh đau thương, với những câu thơ tả thực đau lòng: “Mẹ tôi em có gặp đâu không/ Bao xác già nua ngập cánh đồng/ Tôi nhớ một thằng em bé nhỏ/ Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông”.
Giữa khung cảnh bi thương đó, xuất hiện “nàng thơ” được Quang Dũng gọi là “em”. Khi bài thơ “Mắt người Sơn Tây” ra đời ngay lập tức đã nổi tiếng, được phổ nhạc, nhiều người đã cất công đi tìm hiểu xem nhân vật “em” trong bài thơ là ai. Thực ra, với nghệ sĩ lãng mạn như Quang Dũng có một người yêu thật sự gợi cảm hứng để làm thơ hay là một “em” tưởng tượng thì không mấy quan trọng. Chủ nghĩa lãng mạn thường tìm cách thi vị hóa mọi thứ, có khi người được gọi là “em” trong bài thơ chỉ là một cô bé hàng xóm chưa biết chuyện ái tình đã được nhà thơ tưởng tượng thành một “nàng thơ” để trút bầu tâm sự.
Sự thi vị hóa của chủ nghĩa lãng mạn không chỉ khiến Quang Dũng hư cấu hoàn cảnh hai người đồng hương Sơn Tây, giữa “ta” và “em” chạy giặc vô tình gặp nhau mà ông còn nhìn vẻ đẹp của người con gái ấy hòa lẫn với vẻ đẹp quê hương yêu dấu: “Vầng trán em mang trời quê hương/ Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương”. Rõ ràng, nhân vật “em” trong bài thơ xuất hiện để nhà thơ nói lên lòng yêu quê hương xứ Đoài của mình: “Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm/ Em có bao giờ em nhớ thương?”. Và không khó để kết luận, “Mắt người Sơn Tây” là một trong những bài thơ nói về tình cảm yêu quê hương, đất nước hay nhất thời chống Pháp.
Cũng với tình cảm yêu quê hương như thế, người đọc dễ hiểu ý nghĩa hai khổ thơ cuối là một mong ước ở thì tương lai khi viễn tưởng đồng quê trở lại khung cảnh yên bình, dẫu cho ngày đó vẫn còn xa: “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng/ Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc/ Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng. Bao giờ tôi gặp em lần nữa/ Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca/ Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ/ Còn có bao giờ em nhớ ta?”.
Và sau chót, đọc hai khổ thơ cuối người đọc cảm nhận được một cách gián tiếp tâm hồn của người lính chống Pháp. Đó là những con người sẵn sàng chịu đựng mọi hi sinh gian khổ để đứng lên cầm súng bảo vệ quê hương với tâm hồn lãng mạn của tuổi trẻ.