I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
“Có phải văn học khiến con người sống tốt, sống tử tế... mà bạn bè tôi mỗi khi gặp nhau nói chuyện về gia đình thì cứ chen những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao vào lời nói: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”, hoặc: “Râu tôm nấu với ruột bầu/ Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”, và: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”... Không quên! Bạn bè tôi được học từ thời phổ thông, vẫn nhớ. Văn học dân gian mang hình ảnh người thân gần gũi, nhắc nhở phận sự làm một thành viên gia đình... in vào trong đầu chúng tôi, cứ lấp lánh, vang vọng.
Ấy là chưa kể những kinh nghiệm sản xuất trong văn học dân gian: “Nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống”, “Sấm Mường Lạ, để dạ mà ăn/ Sấm Mường Ngay, quăng bừa cày lên gá”...; hay ứng xử, kinh nghiệm sống: “Hiểu đàn ông xem bờ ruộng/ Xét đàn bà nhìn gấu váy”. “Dao sắc gãy chuôi/ Người ngay dễ chết”... có ích rất nhiều trong đời sống người dân thật thà, chất phác và quá trình hình thành lối sống nhân ái.
Văn học còn bồi đắp, nuôi dưỡng lòng yêu thương những thân phận bất hạnh, yết ớt trong cuộc đời bất công khốn khó. Tôi vẫn tin một điều: bất cứ ai đã từng đọc tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố sẽ buồn thương và xót xa với số phận chị Dậu. Cháu tôi 7 tuổi cùng bốn năm đứa bạn xem phim “Làng Vũ đại ngày ấy” đã chảy nước mắt khi đến đoạn chị Dậu bán chó, bán con, cái Tí phải sang làm con ở nhà Nghị Quế. Có đứa buột miệng: “Tại sao chị Dậu phải bán con?”. Đứa bên cạnh bảo: “Vì chị ấy nghèo”. Lại có đứa hỏi: “Vì sao chị ấy nghèo?”. Câu hỏi và trả lời của bọn trẻ con tưởng như không bao giờ dứt, và tôi cũng nhận ra một điều giản dị: Văn học, nghệ thuật đã tác động vào tâm hồn trẻ thơ, mở ra cho chúng chân trời mới bí ẩn kích thích khám phá, sáng tạo và nghĩ ngợi. Cái cách phản ánh hiện thực xã hội, đánh thức ánh sáng lương tâm con người thì không có chuyên ngành xã hội nhân văn nào làm tốt hơn văn học nghệ thuật? [...]
Bạn đã run rẩy hay xao xuyến, bâng khuâng trước một thiên nhiên lộng lẫy được miêu tả trong thơ văn chưa? Tôi thì có rồi đấy. “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”, hoặc ”Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”... những câu thơ ấy chỉ miêu tả thiên nhiên, con vật mà gợi mở, kéo người đọc vào cảnh vật vừa gần gũi vừa xa xăm, đẩy trí tưởng tượng đến mênh mông tận cùng, khiến cho cảnh sinh tình, làm cho chúng ta thêm yêu thiên nhiên, biết thụ hưởng vẻ đẹp của tạo hóa.
Tôi cũng đã từng viết những câu: “Sương mù bay suốt cả giêng hai. Đất trời làng quê vẫn trắng đục màu sữa. Lãng đãng. Bồng bềnh. Hư ảo. Mái rạ, bụi ruối, vườn rau, luống cày đất ải... đều chìm trong màn sương... Những hôm sương mù nặng, đi chợ sớm mới ra khỏi đầu làng đã ướt tóc mai, ướt vai áo gụ. Người đi làm đồng, trâu bò, gồng gánh, cày bừa cũng chìm ngập trong biển mù sương, ngỡ mình đang mơ lạc sang cõi khác. Chỉ nghe tiếng khao khao lúc gần lúc xa mà đoán những người hàng xóm là ai đã đi đến đoạn đường nào...”. Bạn bè tôi ở thành phố cứ ước ao có dịp về làng tôi để được đi trong sương mù như thế, để cảm nhận và trải nghiệm cái se se lạnh mùa giêng hai nhà quê. Chỉ bằng đoạn tản văn tả cảnh vật thôi cũng đủ làm cho người đọc lay động, bâng khuâng trước vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên thì có niềm vui nào hơn nữa?
Văn học cũng chắp cánh cho ước mơ bay lên. Tôi tin rằng học sinh phổ thông đã từng đọc “Hoàng tử bé” của Saint-Exupéry sẽ cảm thấy mình phiêu lưu vào tiểu tinh cầu B612 có ba ngọn núi lửa và một bông hoa hồng. Bạn đọc trẻ sẽ muốn được làm Hoàng tử bé để đi du ngoạn, khám phá phần còn lại của vũ trụ và thả hồn, thao thức với không gian lạ xa, bí ẩn của thiên hà. Văn học đã làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn, tạm quên những chuyện mưu sinh lầm lũi thường ngày để bay lên khỏi mặt đất như thế.”
“Có phải văn học khiến con người sống tốt, sống tử tế... mà bạn bè tôi mỗi khi gặp nhau nói chuyện về gia đình thì cứ chen những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao vào lời nói: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”, hoặc: “Râu tôm nấu với ruột bầu/ Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”, và: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”... Không quên! Bạn bè tôi được học từ thời phổ thông, vẫn nhớ. Văn học dân gian mang hình ảnh người thân gần gũi, nhắc nhở phận sự làm một thành viên gia đình... in vào trong đầu chúng tôi, cứ lấp lánh, vang vọng.
Ấy là chưa kể những kinh nghiệm sản xuất trong văn học dân gian: “Nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống”, “Sấm Mường Lạ, để dạ mà ăn/ Sấm Mường Ngay, quăng bừa cày lên gá”...; hay ứng xử, kinh nghiệm sống: “Hiểu đàn ông xem bờ ruộng/ Xét đàn bà nhìn gấu váy”. “Dao sắc gãy chuôi/ Người ngay dễ chết”... có ích rất nhiều trong đời sống người dân thật thà, chất phác và quá trình hình thành lối sống nhân ái.
Văn học còn bồi đắp, nuôi dưỡng lòng yêu thương những thân phận bất hạnh, yết ớt trong cuộc đời bất công khốn khó. Tôi vẫn tin một điều: bất cứ ai đã từng đọc tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố sẽ buồn thương và xót xa với số phận chị Dậu. Cháu tôi 7 tuổi cùng bốn năm đứa bạn xem phim “Làng Vũ đại ngày ấy” đã chảy nước mắt khi đến đoạn chị Dậu bán chó, bán con, cái Tí phải sang làm con ở nhà Nghị Quế. Có đứa buột miệng: “Tại sao chị Dậu phải bán con?”. Đứa bên cạnh bảo: “Vì chị ấy nghèo”. Lại có đứa hỏi: “Vì sao chị ấy nghèo?”. Câu hỏi và trả lời của bọn trẻ con tưởng như không bao giờ dứt, và tôi cũng nhận ra một điều giản dị: Văn học, nghệ thuật đã tác động vào tâm hồn trẻ thơ, mở ra cho chúng chân trời mới bí ẩn kích thích khám phá, sáng tạo và nghĩ ngợi. Cái cách phản ánh hiện thực xã hội, đánh thức ánh sáng lương tâm con người thì không có chuyên ngành xã hội nhân văn nào làm tốt hơn văn học nghệ thuật? [...]
Bạn đã run rẩy hay xao xuyến, bâng khuâng trước một thiên nhiên lộng lẫy được miêu tả trong thơ văn chưa? Tôi thì có rồi đấy. “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”, hoặc ”Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”... những câu thơ ấy chỉ miêu tả thiên nhiên, con vật mà gợi mở, kéo người đọc vào cảnh vật vừa gần gũi vừa xa xăm, đẩy trí tưởng tượng đến mênh mông tận cùng, khiến cho cảnh sinh tình, làm cho chúng ta thêm yêu thiên nhiên, biết thụ hưởng vẻ đẹp của tạo hóa.
Tôi cũng đã từng viết những câu: “Sương mù bay suốt cả giêng hai. Đất trời làng quê vẫn trắng đục màu sữa. Lãng đãng. Bồng bềnh. Hư ảo. Mái rạ, bụi ruối, vườn rau, luống cày đất ải... đều chìm trong màn sương... Những hôm sương mù nặng, đi chợ sớm mới ra khỏi đầu làng đã ướt tóc mai, ướt vai áo gụ. Người đi làm đồng, trâu bò, gồng gánh, cày bừa cũng chìm ngập trong biển mù sương, ngỡ mình đang mơ lạc sang cõi khác. Chỉ nghe tiếng khao khao lúc gần lúc xa mà đoán những người hàng xóm là ai đã đi đến đoạn đường nào...”. Bạn bè tôi ở thành phố cứ ước ao có dịp về làng tôi để được đi trong sương mù như thế, để cảm nhận và trải nghiệm cái se se lạnh mùa giêng hai nhà quê. Chỉ bằng đoạn tản văn tả cảnh vật thôi cũng đủ làm cho người đọc lay động, bâng khuâng trước vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên thì có niềm vui nào hơn nữa?
Văn học cũng chắp cánh cho ước mơ bay lên. Tôi tin rằng học sinh phổ thông đã từng đọc “Hoàng tử bé” của Saint-Exupéry sẽ cảm thấy mình phiêu lưu vào tiểu tinh cầu B612 có ba ngọn núi lửa và một bông hoa hồng. Bạn đọc trẻ sẽ muốn được làm Hoàng tử bé để đi du ngoạn, khám phá phần còn lại của vũ trụ và thả hồn, thao thức với không gian lạ xa, bí ẩn của thiên hà. Văn học đã làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn, tạm quên những chuyện mưu sinh lầm lũi thường ngày để bay lên khỏi mặt đất như thế.”
(Trích Văn chương có ích gì? - Sương Nguyệt Minh, theo vanvn.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [706220]: Đoạn trích bàn về vấn đề gì?
Vấn đề bàn luận của đoạn trích: Sức tác động kì diệu của văn chương đến con người và cuộc sống.
Câu 2 [706221]: Chỉ ra hệ thống lí lẽ trong đoạn trích.
Hệ thống lí lẽ trong đoạn trích:
- Văn học khiến con người sống tốt, sống tử tế.
- Văn học mang đến những bài học kinh nghiệm sản xuất.
- Văn học hình thành lối sống nhân ái, bồi đắp, nuôi dưỡng lòng yêu thương con người.
- Văn học đánh thức ánh sáng lương tâm con người.
- Văn học làm cho người đọc lay động, bâng khuâng trước vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên.
- Văn học chắp cánh cho ước mơ bay lên, làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn.
- Văn học khiến con người sống tốt, sống tử tế.
- Văn học mang đến những bài học kinh nghiệm sản xuất.
- Văn học hình thành lối sống nhân ái, bồi đắp, nuôi dưỡng lòng yêu thương con người.
- Văn học đánh thức ánh sáng lương tâm con người.
- Văn học làm cho người đọc lay động, bâng khuâng trước vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên.
- Văn học chắp cánh cho ước mơ bay lên, làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn.
Câu 3 [706222]: Nêu tác dụng của sự kết hợp các phương thức biểu đạt nghị luận, tự sự trong đoạn trích.
Tác dụng của sự kết hợp các phương thức biểu đạt nghị luận, tự sự trong đoạn trích:
- Các phương thức biểu đạt nghị luận, tự sự trong đoạn trích:
+ Nghị luận: thể hiện ở hệ thống lập luận bao gồm các lí lẽ, dẫn chứng tập trung làm sáng tỏ vai trò của văn học đối với con người và cuộc sống,...
+ Tự sự: chuyện bạn bè “tôi” mỗi khi gặp nhau nói chuyện về gia đình thì cứ chen vào lời nói những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao; chuyện cháu “tôi” cùng bạn bè nó khóc và có những câu hỏi băn khoăn sau khi xem phim Làng Vũ Đại ngày ấy.
+ Nghị luận và tự sự đan xen hoà quyện với nhau.
- Tác dụng của sự kết hợp các phương thức biểu đạt nghị luận, tự sự:
+ Nghị luận giúp người viết thể hiện rõ nét sự nhìn nhận, đánh giá của bản thân về sức tác động của văn chương tới con người và cuộc sống.
+ Tự sự giúp người viết đưa vào đoạn trích nghị luận những bằng chứng sinh động trong thực tế đời sống, những dẫn chứng này khiến đoạn trích nghị luận trở nên chân thực, sống động, thuyết phục hơn.
- Các phương thức biểu đạt nghị luận, tự sự trong đoạn trích:
+ Nghị luận: thể hiện ở hệ thống lập luận bao gồm các lí lẽ, dẫn chứng tập trung làm sáng tỏ vai trò của văn học đối với con người và cuộc sống,...
+ Tự sự: chuyện bạn bè “tôi” mỗi khi gặp nhau nói chuyện về gia đình thì cứ chen vào lời nói những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao; chuyện cháu “tôi” cùng bạn bè nó khóc và có những câu hỏi băn khoăn sau khi xem phim Làng Vũ Đại ngày ấy.
+ Nghị luận và tự sự đan xen hoà quyện với nhau.
- Tác dụng của sự kết hợp các phương thức biểu đạt nghị luận, tự sự:
+ Nghị luận giúp người viết thể hiện rõ nét sự nhìn nhận, đánh giá của bản thân về sức tác động của văn chương tới con người và cuộc sống.
+ Tự sự giúp người viết đưa vào đoạn trích nghị luận những bằng chứng sinh động trong thực tế đời sống, những dẫn chứng này khiến đoạn trích nghị luận trở nên chân thực, sống động, thuyết phục hơn.
Câu 4 [706223]: Văn học đã làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn, tạm quên những chuyện mưu sinh lầm lũi thường ngày để bay lên khỏi mặt đất như thế.
Phân tích hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ trong câu văn trên.
Phân tích hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ trong câu văn trên.
Văn học đã làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn, tạm quên những chuyện mưu sinh lầm lũi thường ngày để bay lên khỏi mặt đất như thế.
- Các biện pháp tu từ trong câu văn:
+ Nhân hoá: Văn học đã làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn.
+ Ẩn dụ: tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn, bay lên khỏi mặt đất
- Hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ: Nhấn mạnh sức tác động kì diệu của văn học tới tâm hồn con người, làm cho tâm hồn con người trở nên đẹp đẽ, trẻ trung, tươi mới, bay bổng.
- Các biện pháp tu từ trong câu văn:
+ Nhân hoá: Văn học đã làm cho tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn.
+ Ẩn dụ: tâm hồn con người tươi xanh lãng mạn, bay lên khỏi mặt đất
- Hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ: Nhấn mạnh sức tác động kì diệu của văn học tới tâm hồn con người, làm cho tâm hồn con người trở nên đẹp đẽ, trẻ trung, tươi mới, bay bổng.
Câu 5 [706224]: Từ đoạn trích, rút ra bài học về cách lựa chọn dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học.
Bài học về cách lựa chọn dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học: Dẫn chứng phong phú, đa dạng, gồm đủ:
- Văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.
- Các bộ phận văn học dân gian, văn học viết (văn học trung đại, văn học hiện đại).
- Thuộc nhiều thể loại: tục ngữ, thơ, truyện.
- Văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.
- Các bộ phận văn học dân gian, văn học viết (văn học trung đại, văn học hiện đại).
- Thuộc nhiều thể loại: tục ngữ, thơ, truyện.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6 [706225]: (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa được gợi ra từ ý kiến ở phần Đọc hiểu: Văn học còn bồi đắp, nuôi dưỡng lòng yêu thương những thân phận bất hạnh, yết ớt trong cuộc đời bất công khốn khó.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa được gợi ra từ ý kiến ở phần Đọc hiểu: Văn học còn bồi đắp, nuôi dưỡng lòng yêu thương những thân phận bất hạnh, yết ớt trong cuộc đời bất công khốn khó.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa được gợi ra từ ý kiến ở phần Đọc hiểu: Văn học còn bồi đắp, nuôi dưỡng lòng yêu thương những thân phận bất hạnh, yết ớt trong cuộc đời bất công khốn khó có thể được triển khai theo hướng:
- Ý kiến khẳng định vai trò của văn học trong việc bồi dưỡng lòng nhân ái trong con người, kết nối con người với con người bằng tình cảm yêu thương chân thành - một khía cạnh vừa thuộc về bản chất, vừa thuộc về chức năng của văn học nghệ thuật (những vấn đề cốt lõi của lí luận văn học).
- Ý kiến khơi gợi nhiều ý nghĩa:
+ Tác phẩm văn học phải chứa đựng tinh thần nhân đạo, thấm đượm giá trị nhân văn. (Liên hệ các quan điểm sáng tác của Nam Cao: Một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn.; của Thạch Lam: Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn.,...)
+ Nhà văn phải là người nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ (A. Sê-khốp).
+ Bạn đọc khi tiếp nhận tác phẩm văn học nên coi giá trị nhân đạo như một tiêu chí để đánh giá tác phẩm, đồng thời cũng cần chủ động, tích cực tiếp nhận những giá trị nhân văn từ văn bản.
(Lưu ý: Bổ sung dẫn chứng để hoàn thiện đoạn văn.)
- Ý kiến khẳng định vai trò của văn học trong việc bồi dưỡng lòng nhân ái trong con người, kết nối con người với con người bằng tình cảm yêu thương chân thành - một khía cạnh vừa thuộc về bản chất, vừa thuộc về chức năng của văn học nghệ thuật (những vấn đề cốt lõi của lí luận văn học).
- Ý kiến khơi gợi nhiều ý nghĩa:
+ Tác phẩm văn học phải chứa đựng tinh thần nhân đạo, thấm đượm giá trị nhân văn. (Liên hệ các quan điểm sáng tác của Nam Cao: Một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn.; của Thạch Lam: Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn.,...)
+ Nhà văn phải là người nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ (A. Sê-khốp).
+ Bạn đọc khi tiếp nhận tác phẩm văn học nên coi giá trị nhân đạo như một tiêu chí để đánh giá tác phẩm, đồng thời cũng cần chủ động, tích cực tiếp nhận những giá trị nhân văn từ văn bản.
(Lưu ý: Bổ sung dẫn chứng để hoàn thiện đoạn văn.)
Câu 7 [706226]: (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thị hiếu thời
trang nhanh của người trẻ ngày nay
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thị hiếu thời
trang nhanh của người trẻ ngày nay
1. Mở bài (gián tiếp)
- Dẫn dắt vấn đề
- Nêu vấn đề
Ví dụ: Cuộc sống không ngừng vận động và phát triển, kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm thẩm mỹ và lối sống của con người, đặc biệt là giới trẻ. Trong bối cảnh đó, thời trang nhanh đã trở thành thị hiếu phổ biến của người trẻ ngày nay, vừa thể hiện cá tính năng động, vừa đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm.
2. Thân bài
- Thời trang nhanh là gì?
Thời trang nhanh (Fast fashion) là một thuật ngữ trong ngành thời trang để chỉ việc sản xuất nhanh chóng các mẫu thiết kế thời trang mới nhất, bắt kịp xu hướng với tốc độ nhanh chóng và giá cả phải chăng. Fast fashion cho phép người tiêu dùng tiếp cận các sản phẩm thời trang mới mẻ, hiện đại mà không cần phải chi tiêu quá nhiều.
- Thực trạng của thời trang nhanh?
Người trẻ là đối tượng đặc biệt ưa chuộng thời trang nhanh hiện nay. (Các hãng thời trang liên tục thay đổi mẫu mã, tiếp cận người tiêu dùng; Mỗi năm, khoảng 92 triệu tấn rác thải thời trang được thải ra môi trường, phần lớn trong số đó là từ fast fashion. Chỉ riêng tại Mỹ, người tiêu dùng bỏ đi khoảng 12.8 triệu tấn quần áo mỗi năm.;...)
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân chủ quan: Người trẻ năng động, cá tính, luôn mong muốn sự đổi mới về mọi phương diện trong đó có phong cách ăn mặc; tâm lý muốn khẳng định bản thân, thể hiện “cái tôi”, sợ bị lỗi mốt hoặc tụt hậu so với bạn bè; thói quen tiêu dùng theo cảm xúc, mua sắm để giải tỏa căng thẳng hoặc vì thấy “rẻ – đẹp – tiện”; sở thích mua sắm vô tội vạ;…
+ Nguyên nhân khách quan:
• Các thương hiệu thời trang nhanh cập nhật mẫu mã liên tục, giá rẻ, dễ tiếp cận với người trẻ.
• Quảng cáo hấp dẫn kích thích, tác động mạnh mẽ vào tâm lí người tiêu dùng.
• Môi trường xã hội, tính chất công việc,… đôi khi đòi hỏi con người phải đổi mới thường xuyên trong đó bao gồm cả yếu tố trang phục (ví dụ: Người mẫu, diễn viên,… – những đối tượng thường xuyên phải xuất hiện trước công chúng không thể mặc đi mặc lại một bộ quần áo hay cố định một phong cách).
• …
- Tác hại:
+ Với con người:
• Hình thành thói quen tiêu dùng thiếu kiểm soát, chạy theo trào lưu, lãng phí tiền bạc.
• Hình thành tâm lí đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài (trang phục), sự sợ hãi khi không bắt kịp xu thế.
• Gây ảnh hưởng sức khoẻ người mặc (thời trang nhanh đa số có chất lượng kém, trung bình).
• …
+ Với xã hội:
• Làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường (Mỗi năm, trái đất phải gánh chịu 42 triệu tấn rác thải từ ngành công nghiệp thời trang nhanh; thải ra môi trường tới 1.2 tỷ tấn CO2 gia tăng hiệu ứng nhà kính; 70 triệu cây xanh bị đốn hạ để lấy đất trồng bông hoặc sản xuất vải. Nước sạch dần cạn kiệt, cần đến 2700 lít nước để tạo ra 1 chiếc áo thu, 7000 lít nước để tạo ra một chiếc quần jeans;…)
• Tạo điều kiện cho các vấn đề về thuê và sử dụng nhân công giá rẻ, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống, suy thoái kinh tế.
• …
- Giải pháp:
+ Nhận thức: Cần để cho người trẻ thấy rõ tác hại của thời trang nhanh, hướng tới thời trang bền vững.
+ Hành động:
• Hạn chế mua sắm theo trào lưu, ưu tiên quần áo chất lượng, sử dụng lâu dài.
• Tái sử dụng, trao đổi, quyên góp quần áo không còn dùng.
• …
3. Kết bài
Rút ra bài học nhận thức và hành động.
- Nhận thức: Mỗi người, đặc biệt là người trẻ, cần hiểu rõ rằng việc tiêu dùng thời trang không chỉ là lựa chọn cá nhân mà còn tác động trực tiếp đến môi trường và xã hội; không ai có thể đứng ngoài những hệ lụy do thời trang nhanh gây ra.
- Hành động: Bắt đầu từ những việc nhỏ nhưng thiết thực, chúng ta có thể góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của thời trang nhanh.
- Dẫn dắt vấn đề
- Nêu vấn đề
Ví dụ: Cuộc sống không ngừng vận động và phát triển, kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm thẩm mỹ và lối sống của con người, đặc biệt là giới trẻ. Trong bối cảnh đó, thời trang nhanh đã trở thành thị hiếu phổ biến của người trẻ ngày nay, vừa thể hiện cá tính năng động, vừa đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm.
2. Thân bài
- Thời trang nhanh là gì?
Thời trang nhanh (Fast fashion) là một thuật ngữ trong ngành thời trang để chỉ việc sản xuất nhanh chóng các mẫu thiết kế thời trang mới nhất, bắt kịp xu hướng với tốc độ nhanh chóng và giá cả phải chăng. Fast fashion cho phép người tiêu dùng tiếp cận các sản phẩm thời trang mới mẻ, hiện đại mà không cần phải chi tiêu quá nhiều.
- Thực trạng của thời trang nhanh?
Người trẻ là đối tượng đặc biệt ưa chuộng thời trang nhanh hiện nay. (Các hãng thời trang liên tục thay đổi mẫu mã, tiếp cận người tiêu dùng; Mỗi năm, khoảng 92 triệu tấn rác thải thời trang được thải ra môi trường, phần lớn trong số đó là từ fast fashion. Chỉ riêng tại Mỹ, người tiêu dùng bỏ đi khoảng 12.8 triệu tấn quần áo mỗi năm.;...)
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân chủ quan: Người trẻ năng động, cá tính, luôn mong muốn sự đổi mới về mọi phương diện trong đó có phong cách ăn mặc; tâm lý muốn khẳng định bản thân, thể hiện “cái tôi”, sợ bị lỗi mốt hoặc tụt hậu so với bạn bè; thói quen tiêu dùng theo cảm xúc, mua sắm để giải tỏa căng thẳng hoặc vì thấy “rẻ – đẹp – tiện”; sở thích mua sắm vô tội vạ;…
+ Nguyên nhân khách quan:
• Các thương hiệu thời trang nhanh cập nhật mẫu mã liên tục, giá rẻ, dễ tiếp cận với người trẻ.
• Quảng cáo hấp dẫn kích thích, tác động mạnh mẽ vào tâm lí người tiêu dùng.
• Môi trường xã hội, tính chất công việc,… đôi khi đòi hỏi con người phải đổi mới thường xuyên trong đó bao gồm cả yếu tố trang phục (ví dụ: Người mẫu, diễn viên,… – những đối tượng thường xuyên phải xuất hiện trước công chúng không thể mặc đi mặc lại một bộ quần áo hay cố định một phong cách).
• …
- Tác hại:
+ Với con người:
• Hình thành thói quen tiêu dùng thiếu kiểm soát, chạy theo trào lưu, lãng phí tiền bạc.
• Hình thành tâm lí đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài (trang phục), sự sợ hãi khi không bắt kịp xu thế.
• Gây ảnh hưởng sức khoẻ người mặc (thời trang nhanh đa số có chất lượng kém, trung bình).
• …
+ Với xã hội:
• Làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường (Mỗi năm, trái đất phải gánh chịu 42 triệu tấn rác thải từ ngành công nghiệp thời trang nhanh; thải ra môi trường tới 1.2 tỷ tấn CO2 gia tăng hiệu ứng nhà kính; 70 triệu cây xanh bị đốn hạ để lấy đất trồng bông hoặc sản xuất vải. Nước sạch dần cạn kiệt, cần đến 2700 lít nước để tạo ra 1 chiếc áo thu, 7000 lít nước để tạo ra một chiếc quần jeans;…)
• Tạo điều kiện cho các vấn đề về thuê và sử dụng nhân công giá rẻ, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống, suy thoái kinh tế.
• …
- Giải pháp:
+ Nhận thức: Cần để cho người trẻ thấy rõ tác hại của thời trang nhanh, hướng tới thời trang bền vững.
+ Hành động:
• Hạn chế mua sắm theo trào lưu, ưu tiên quần áo chất lượng, sử dụng lâu dài.
• Tái sử dụng, trao đổi, quyên góp quần áo không còn dùng.
• …
3. Kết bài
Rút ra bài học nhận thức và hành động.
- Nhận thức: Mỗi người, đặc biệt là người trẻ, cần hiểu rõ rằng việc tiêu dùng thời trang không chỉ là lựa chọn cá nhân mà còn tác động trực tiếp đến môi trường và xã hội; không ai có thể đứng ngoài những hệ lụy do thời trang nhanh gây ra.
- Hành động: Bắt đầu từ những việc nhỏ nhưng thiết thực, chúng ta có thể góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của thời trang nhanh.