Đọc đoạn trích:
“Một ngày mùa thu...
Lúc ấy vào năm Đại Bảo thứ ba (1442). Tiết trời mát mẻ. Lều Ngộ Vân lách cách tiếng quân cờ. Thỉnh thoảng vang lên từng trận cười sang sảng của hai kẻ đang lấy bàn cờ làm vũ trụ. Bên ngoài, tiếng chim gáy gù trong những bụi bờ um tùm, xanh ngắt...
Thừa chỉ Nguyễn Trãi, áo vải thô, chòm râu dài phơ phất, ngồi đối diện với sư Ngộ Vân, áo nâu sòng bạc phếch. Họ đang chìm vào những nước đi cao thấp. Bàn cờ và quân cờ là hai thái cực tương phản. Quân cờ bằng ngà voi tiện, cực kì sang quý. Nét khắc sắc sảo như kiếm vạch, tinh vi tựa tơ tóc điểm vào... Đây là kỉ vật ngự ban sau ngày đăng cơ của đức Lê Thái Tổ.
Ngày ấy, nhận ân tứ giữa triều, riêng cho Nguyễn Trãi là một hộp gỗ đàn hương khảm xà cừ. Khi mở ra, ông mới hay là bộ quân cờ gồm ba mươi hai con trong đó. Đáng tiếc thay, không có bàn cờ? Ân tứ của vua thân ban là cả một vinh dự tột cùng. Không ai dám nhắc nhở lí do nào thiếu đi phần tất nhiên ấy? Vật ngự ban, chỉ để làm bảo vật gia truyền, không được khinh suất để thất lạc, hư hoại. Vì thế, Thừa chỉ Nguyễn Trãi đem cất vào nơi tôn quý. Vả lại, ông chưa hề gặp được người bạn cờ xứng tay. Mãi tới ngày gặp sư Ngộ Vân và, hai người bàn đến chuyện cờ. Nhà sư nghe câu chuyện ân tứ kia, gạt đi không một chút đắn đo:
- Ngài hà tất phải tưởng tiếc làm gì. Ngự ban quân ngà nhưng giữ lại bàn son tức là thánh ý muốn ngài nghỉ ngơi đó! Nếu cứ cố chấp tìm một bàn cờ sao cho thích hợp, ắt là trên thì sai với thánh ý, còn dưới thì cuộc vui nhàn tản của hai ta sẽ phải đợi đến bao giờ?
Ngộ Vân cả cười chỉ vào tấm ván cửa còn sót lại trong lều:
- Bàn son của đức tiên đế Thái Tổ nào khác gì sơn hà đại địa? Bần tăng không dám tơ tưởng. Nay chỉ xin lấy vật mọn này, tự vạch lấy bàn cờ, chỗ dư ra đủ để hai ta ung dung ngồi xuống đánh cờ. Khi xong cuộc, có thể tùy duyên ngã ra làm giường, lúc dựng dậy ắt là che được gió mùa đông. Bàn son là vật cao quý sao có thể tùy nghi như thế được?
Bây giờ họ đang mê mải với nước cờ, thâm tâm đều thán phục cơ trí của nhau. Câu chuyện bàn son và thánh ý ngày nào đều quên cả. Nhưng có lẽ điều đáng kể nhất đối với họ khi đấu cờ, chẳng phải ở thắng, thua... Chính là sự đánh giá người tri kỉ trước mặt đã thấu hiểu thâm ý, bụng dạ của mình được mấy phần? Là dò được sự nông sâu, sở trường và sở đoản ở nơi đâu? Chính vì thế, ván cờ không dễ thắng nhau, thường đi đến cuộc cờ hòa. Gần hết nửa buổi sáng nay sư Ngộ Vân và Thừa chỉ Nguyễn Trãi dần đi đến chỗ cùng tương đắc, cao hứng...
Hai người bỗng nhiên cùng cất tiếng cả cười... Họ sảng khoái tột cùng. Tiếng cười lồng lộng ấy vang xa tận dưới đồi, nơi hai cậu bé đang gọi nhau mót củi, tìm măng làm bữa. Tiếng cười trộn lẫn vào nhau, không phân biệt người nào. Thứ thanh âm đặc biệt kia còn vọng mãi trong lòng cậu thiếu niên Anh Vũ cho tận cuối cuộc đời mình sau đó...
Khi hai cậu bé trở lại lều thì bàn cờ vẫn để nguyên, nhưng dường như cuộc cờ vừa kết thúc. Tiếng Thừa chỉ Nguyễn Trãi nhẹ nhàng và hoan hỉ:
- Tăng huynh... Xin bái phục. Sở trường và sở đoản của Trãi này đều đã không che giấu được mắt ngài. May mắn thay, cuối đời vẫn có một tăng huynh.
- Nào dám. Quan huynh đã quá khen rồi. Bần tăng khâm phục.
Hai người lại phá ra cười... Trước khi kịp để cho Thừa chỉ họ Nguyễn xóa hết bàn cờ, nhà sư đưa tay nắm lấy một quân cờ. Ông rung đùi, nói về cái bằng chứng tâm đắc nhất:
- Không nỡ bỏ tốt đen là đường lối của quan huynh. Chính vì lo cho quân cờ này mà từ thế thượng phong, ngài lâm vào cảnh ngộ... phải cầu hòa. Ván cờ nhân nghĩa này quả thực bần tăng không sánh nổi. Kẻ thắng là ngài chứ đâu phải bần tăng? Quên mình đang ngồi trong trướng phủ, khắc khoải lo sự còn mất cho sĩ tốt ngoài vạn dặm... Không ham thắng riêng mình, đó mới là vương đạo.
Đến lượt vị Thừa chỉ đắc ý gật gù:
- Hiểu gan ruột Trãi này đến thế kia... ư? Thắng một ván cờ mà tốt đen để mất là cái thắng của hạng bá đạo. Tăng huynh quả là người sáng suốt, nắm vững được nhân tâm. Xin bái phục.
Thực lạ lùng. Một ván cờ hòa làm hai người đều thỏa mãn. Không ai chịu nhận phần thắng về mình. Nhưng chắc chắn tình bằng hữu tâm giao là được cuộc. Cuộc ấy, không mau xóa như cuộc cờ tàn. Chẳng phải trả một giá nào như cuộc đời và cuộc sống đa đoan. Lại càng khác xa với thời cuộc thăng trầm mà nhân thế giữa bể dâu... còn mãi mãi phải đi qua. Ván cờ ấy cũng là ván cờ cuối cùng ở lều Ngộ Vân.”
(Cuộc cờ lều Ngộ Vân - Trần Hạ Tháp, theo baovannghe.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [827539]: Đề tài của đoạn trích là gì?
Đề tài của đoạn trích: lịch sử.
Câu 2 [827545]: Đoạn trích gồm các nhân vật nào?
Đoạn trích gồm các nhân vật: Thừa chỉ Nguyễn Trãi, sư Ngộ Vân, hai cậu bé (Anh Vũ - con trai Nguyễn Trãi và chú tiểu ở với sư Ngộ Vân).
Câu 3 [827547]: Các nhân vật xuất hiện trong bối cảnh nào?
Bối cảnh xuất hiện các nhân vật:
- Thời gian: một ngày mùa thu, năm Đại Bảo thứ ba (1442).
- Không gian: lều Ngộ Vân, bên ngoài, tiếng chim gáy gù trong những bụi bờ um tùm, xanh ngắt... (nơi Nguyễn Trãi và sư Ngộ Vân đánh cờ, đàm đạo); dưới đồi (nơi Anh Vũ và chú tiểu đang mót củi, tìm măng làm bữa).
Câu 4 [827548]: Bàn cờ và quân cờ là hai thái cực tương phản.
Tìm các chi tiết nêu nguồn gốc của bàn cờ và quân cờ trong đoạn trích.
- Chi tiết nêu nguồn gốc của bàn cờ: Đây là kỉ vật ngự ban sau ngày đăng cơ của đức Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi được nhận ân tứ giữa triều.
- Chi tiết nêu nguồn gốc của quân cờ: Ngộ Vân cả cười chỉ vào tấm ván cửa còn sót lại trong lều: Nay chỉ xin lấy vật mọn này, tự vạch lấy bàn cờ, chỗ dư ra đủ để hai ta ung dung ngồi xuống đánh cờ.
Câu 5 [827549]: Theo lí giải của sư Ngộ Vân, việc nhà vua ban quân cờ cho quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi hàm ý gì?
Theo lí giải của sư Ngộ Vân, việc nhà vua ban quân cờ cho quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi hàm ý muốn Nguyễn Trãi hưu quan ("Ngự ban quân ngà nhưng giữ lại bàn son tức là thánh ý muốn ngài nghỉ ngơi đó!").
Câu 6 [827552]:
(1) Nếu cứ cố chấp tìm một bàn cờ sao cho thích hợp, ắt là trên thì sai với thánh ý, còn dưới thì cuộc vui nhàn tản của hai ta sẽ phải đợi đến bao giờ?
(2) Ngộ Vân cả cười chỉ vào tấm ván cửa còn sót lại trong lều:
- (...) Nay chỉ xin lấy vật mọn này, tự vạch lấy bàn cờ, chỗ dư ra đủ để hai ta ung dung ngồi xuống đánh cờ. Khi xong cuộc, có thể tùy duyên ngã ra làm giường, lúc dựng dậy ắt là che được gió mùa đông.

Những lời nói và hành động trên của sư Ngộ Vân cho thấy cái nhìn và thái độ ứng xử như thế nào của nhà sư trước thế cuộc?
Những lời nói và hành động trên của sư Ngộ Vân cho thấy cái nhìn thấu tường của sư Ngộ Vân trước thế cuộc (Nếu cứ cố chấp tìm một bàn cờ sao cho thích hợp, ắt là trên thì sai với thánh ý; mà cuộc vui nhàn tản sẽ bị trì hoãn); đồng thời cho thấy cách xử thế linh hoạt của nhà sư (tấm ván cửa được vạch làm bàn cờ, ngã ra làm giường, dựng dậy che được gió mùa đông).
Câu 7 [827553]: Hình tượng Nguyễn Trãi hiện lên như thế nào qua lời nói sau đây của sư Ngộ Vân?
Không nỡ bỏ tốt đen là đường lối của quan huynh. Chính vì lo cho quân cờ này mà từ thế thượng phong, ngài lâm vào cảnh ngộ... phải cầu hòa. Ván cờ nhân nghĩa này quả thực bần tăng không sánh nổi. Kẻ thắng là ngài chứ đâu phải bần tăng? Quên mình đang ngồi trong trướng phủ, khắc khoải lo sự còn mất cho sĩ tốt ngoài vạn dặm... Không ham thắng riêng mình, đó mới là vương đạo.
Lời nói của sư Ngộ Vân khắc họa đậm nét tấm lòng nhân ái, bao dung, vị tha cùng tư tưởng nhân nghĩa cao cả của Nguyễn Trãi: không nỡ bỏ tốt đen, lo cho quân cờ này, ván cờ nhân nghĩa, khắc khoải lo sự còn mất cho sĩ tốt ngoài vạn dặm, không ham thắng riêng mình.
Câu 8 [827554]: Hai người bỗng nhiên cùng cất tiếng cả cười... Họ sảng khoái tột cùng. Tiếng cười lồng lộng ấy vang xa tận dưới đồi, nơi hai cậu bé đang gọi nhau mót củi, tìm măng làm bữa. Tiếng cười trộn lẫn vào nhau, không phân biệt người nào.
Chi tiết trên cho anh/chị hiểu gì về tình bạn giữa quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi và sư Ngộ Vân cùng đời sống tinh thần của họ ở chốn “lánh đục về trong”?
Chi tiết trên khắc họa tình cảm tri âm, tri kỉ giữa quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi và sư Ngộ Vân (hai người cùng cất tiếng cả cười, tiếng cười trộn lẫn vào nhau, không phân biệt người nào); đồng thời mang đến cảm nhận về đời sống tinh thần tự do, phóng khoáng, vui tươi, sảng khoái của họ ở chốn “lánh đục về trong” (cả cười, tiếng cười lồng lộng - vang xa tận dưới chân đồi, tiếng cười trộn lẫn vào nhau).
Câu 9 [827556]: Nhận xét sự phù hợp của ngôn ngữ với đề tài của đoạn trích.
- Đề tài của đoạn trích là đề tài lịch sử (thế kỉ XV). Theo đó, ngôn ngữ của đoạn trích cũng xuất hiện nhiều từ ngữ mang màu sắc cổ điển: Thừa chỉ Nguyễn Trãi (Thừa chỉ là một chức quan thời phong kiến, đứng đầu Hàn lâm Viện, thay vua soạn chiếu), ngự ban (vua ban), quân ngà (quân cờ), bàn son (bàn cờ), ân tứ (ban thưởng của triều đình), nơi tôn quý, thánh ý (ý muốn của nhà vua), tăng huynh, quan huynh, thế thượng phong, trướng phủ, vương đạo, hạng bá đạo,…
- Ngôn ngữ trong đoạn trích phù hợp với đề tài, mang lại màu sắc trang trọng, cổ kính cho đoạn trích.
Câu 10 [827557]: Đoạn trích bộc lộ tình cảm, thái độ nào của người viết đối với các nhân vật quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi và sư Ngộ Vân?
Đoạn trích bộc lộ tình cảm yêu mến, trân trọng, thấu hiểu, tôn kính của người viết dành cho các nhân vật quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi và sư Ngộ Vân.
Câu 11 [827558]: Từ hiểu biết về cuộc đời, con người và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi, hãy lí giải các chi tiết lời nói sau đây của sư Ngộ Vân về Nguyễn Trãi:
- “Ngự ban quân ngà nhưng giữ lại bàn son tức là thánh ý muốn ngài nghỉ ngơi đó!”
- “Quên mình đang ngồi trong trướng phủ, khắc khoải lo sự còn mất cho sĩ tốt ngoài vạn dặm... Không ham thắng riêng mình, đó mới là vương đạo.”
Từ hiểu biết về cuộc đời, con người và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi, hãy lí giải các chi tiết lời nói sau đây của sư Ngộ Vân về Nguyễn Trãi:
- “Ngự ban quân ngà nhưng giữ lại bàn son tức là thánh ý muốn ngài nghỉ ngơi đó!”
- “Quên mình đang ngồi trong trướng phủ, khắc khoải lo sự còn mất cho sĩ tốt ngoài vạn dặm... Không ham thắng riêng mình, đó mới là vương đạo.”
- Sau khi đại thắng quân Minh, Lê Lợi lên ngôi, lập nên triều đại nhà Lê. Song, từ đây, Lê Lợi lại không còn tin dùng nhiều công thần (như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi,…) nữa. Nguyễn Trãi được vua giao cho giữ các chức vị “hữu danh vô thực”. Cuối những năm 30 của thế kỉ XV, Nguyễn Trãi xin cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn. Để thoả mãn nguyện vọng cáo quan của ông, và cũng để gạt ông ra khỏi việc nước, triều đình đã thuận cho ông về nghỉ tại Côn Sơn. Chi tiết lời nói của sư Ngộ Vân (“thánh ý muốn ngài nghỉ ngơi đó”) phản ánh chuỗi sự việc này trong cuộc đời Nguyễn Trãi.
- Dù khi đương quan hay hưu quan, Nguyễn Trãi vẫn một lòng đau đáu vì dân, vì nước. Tập thơ Quốc âm thi tập của ông thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, thương dân của con người “ngồi trong trướng phủ, khắc khoải lo sự còn mất cho sĩ tốt ngoài vạn dặm...”:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ, khắp đòi phương
(Bảo kính cảnh giới, bài số 43)