Đọc đoạn trích:
“Giữa mùa xuân ấy, Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng liền. Tuyết Hồng hết sức săn sóc thuốc thang, nhiều đêm không ngủ. Bây giờ Sinh có lòng mừng là nàng không biết làm thơ, nhưng Sinh ngày đêm khắc khoải vì không cầm được cây bút. Một ngày không viết được câu nào, Sinh có cảm tưởng như mình không còn sống nữa. Ngoài nỗi bệnh tật giày vò, Sinh còn bị nỗi băn khoăn sáng tạo hành hạ. Bệnh cũ như muốn tái phát, thần kinh rạo rực không yên, giấc ngủ chập chờn ác mộng. Mấy lần chống tay ngồi dậy, nhưng lại bủn rủn nằm xuống, hơi thở nóng ran như lửa. Một sớm đang nằm, nghe tiếng chim hoàng anh hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng lọt qua khe cửa chợt tàn. Sinh hốt hoảng tưởng chừng mùa xuân bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên, xô mạnh cửa sổ. Mấy nụ hoa thắm cười duyên trước thềm, lá xanh tươi màu nhựa mới. Sinh gọi đem nghiên bút và tập hoa viên. Vừa cầm bút lên, Sinh bỗng kinh ngạc. Nghiên mực đỏ tươi sắc máu. Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ chảy từ tim. Khiếp đảm, Sinh ngồi sững sờ, tâm thần thác loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như vết huyết khô trên cát. Sinh vội buông bút, tưởng chừng bàn tay cũng thấm máu đầy. Đưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong người. Sinh nằm vật xuống mê man bất tỉnh. Sau mấy ngày, Sinh tỉnh dậy, lòng lại khao khát cầm bút. Nhưng nhớ hình ảnh vừa qua, tự nhiên đâm ra e ngại, Sinh cố tập trung thần lực, men đến án thư, vừa cầm bút lại thấy lảng vảng sắc máu, không sao có đủ can đảm vạch được nét bút nào. Sinh ném bút, hất giấy, vô cùng khiếp sợ, tưởng như xôn xao chung quanh vô số hồn oan đòi mạng. Từ đó Sinh gầy rạc hẳn, liệu không sống thoát.
Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược rất là lo lắng. Sau khi nghe Sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Ta từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi gươm tuy ác mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng không giới hạn. Mượn sự huyễn hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư ảo nên không thấy rõ hay không muốn rõ mà thôi. Làm cho người gái lớn lên băn khoăn sầu muộn, làm cho trai trẻ đang hăng khinh bạc hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên ái tình, khêu cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười trên đau khổ của tha nhân, há trên bi cảnh của đồng loại, đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lí, che lấp bần hàn, ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người, văn chương há chẳng đã làm những điều vô đạo? Tội ác văn chương xưa nay nếu đem phân tích biết đâu chẳng dồn thành ngàn dãy Thiên Sơn? Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà bản chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình, chắc cháu làm điều tổn đức khá nặng nên máu oan mới đuổi theo như vậy. Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chầy ngày!
Lương Sinh nghe xong bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xa. Sinh đem mấy tập thi tuyển của mình đọc lại từng câu, dò lại từng chữ, thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh thực tại, từ chối tương lai, nhưng nghĩ kĩ vẫn chưa dò được lối máu từ đâu. Bỗng sực nhớ đến những lời phóng bút viết cho Tổng trấn, không ghi lại trong thi tuyển, tâm não trở nên bàng hoàng. Đồng thời bao nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội chùa lại hiện lên rõ, mấy cánh đồng trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên kiệu hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy dãy nhà giam, lần lượt như sống lại trước mắt. Những cảnh ấy thật trái ngược với những bài tán, bài minh đã viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật.
Sinh đến chốn cũ vào một chiều nắng vàng thê lương phủ trên cảnh vật tiêu điều, xơ xác. Qua khỏi dòng suối khô cạn, Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng. Đến một gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rũ trước nấm mộ, mới liu hiu mấy nén hương tàn. Sinh dừng bước, lại gần ngồi một bên, khẽ hỏi:
- Bác khóc thương thân quyến nào vậy?
Người kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lại bụi đường trường bạc thếch trên quần áo của Sinh, dịu đôi mắt xuống:
- Người nằm dưới mộ không phải là bà con quen thuộc của tôi.
Sinh nghĩ: “Chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi nhân khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng?” Chưa kịp dò ý, người kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi:
- Ông từ đâu mà đến đây?
- Tôi từ chốn xa, nhân bước đường phiêu lưu ghé tạt qua thôi. Buồn thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi khác.
Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm lòng dồn nén, bật lên những tiếng căm hờn:
- Nói hết chính sự cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ này. Ví dù phải chết ngày nay, thân này chẳng tiếc, miễn sao bộc bạch cho được sự thật uất hận từ lâu. Đã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ Lý độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân lành đói rách. Đầu xuân này có Khâm sai đi về, cụ thôn trưởng của chúng tôi, mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thật. Thế nhưng, Khâm sai đi khắp nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng đầy lời hoa mĩ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó nên ném bản trần tình không xét, bảo rằng: “Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nho. Danh sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn đã được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài”. Thế đã thôi đâu, Khâm sai đi rồi, Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người phải chết vì nỗi cực hình thảm khốc, vợ góa con côi, một trời nước mắt, ruộng đồng từ đấy dành để nuôi loài cỏ dại mà thôi!
Sinh chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏi:
- Chẳng hay bác có biết... danh sĩ ấy tên gì không?
Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:
- Làm gì mà biết! Mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi, hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có? Dân làng đây, ai cũng nguyền rủa hắn, mà hắn nào có biết đâu! Nghĩ thương cho cụ trưởng tôi, mấy lần đứng ra chịu nhận hết tội để cứu bao người, mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người này rồi đến lớp người khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọa. Trước khi nhắm mắt cụ còn gượng nói: “Được chết trên cánh đồng đã đẫm mồ hôi của ta, của bà con xóm làng ta, thế là quý rồi. Chôn ta ở đây, cho ta gần gũi với các người”. Hơi thở gần tàn, cụ nói tiếp: “Tội ác là ở lũ vua quan. Tên danh sĩ kia chỉ là cái cớ để chúng vin vào mà che lấp sự thật. Đừng oán hờn tên danh sĩ. Đáng thương cho nó, đáng thương cho nó!”
Người nông phu dừng lại, nghẹn ngào nói tiếp:
- Nhưng bao nhiêu người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia, nghĩ còn đáng thương xót gấp trăm ngàn lần!
Đoạn gục đầu trước mồ, khóc than thảm thiết. Sinh cũng sụp xuống hòa tiếng khóc theo. Bóng đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về rung động bờ lau bụi cỏ. Sinh tưởng như, theo cơn gió oan hồn của người đã khuất hiện về chứng kiến cho những giọt lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành.”
(Bút máu - Vũ Hạnh, theo baovannghe.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [827782]: Đoạn trích viết về đề tài nào?
Đoạn trích viết về đề tài: công việc của người viết văn.
Câu 2 [827784]: Đoạn trích gồm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần.
Đoạn trích gồm ba phần:
- Phần thứ nhất (từ đầu đến liệu không sống thoát): Lương Sinh tỉnh dậy sau thời gian lâm bệnh nặng, cầm bút nhưng lại thấy lảng vảng sắc máu, tưởng như xung quanh vô số hồn oan đòi mạng.
- Phần thứ hai (tiếp đến chớ để chầy ngày): Người cậu Lương Sinh đến nói với cháu bút lực của văn chương, khuyên cháu rà soát lại xem mình có lỡ hứng bút đi lệch đường không.
- Phần thứ ba (còn lại): Lương Sinh đi tìm nguồn cơn của “bút máu”.
Câu 3 [827787]: Xác định ngôi kể, người kể chuyện trong đoạn trích.
- Ngôi kể: thứ ba.
- Người kể chuyện: ẩn danh (giấu mặt).
Câu 4 [827790]: Nhân vật trữ chính trong đoạn trích là ai?
Nhân vật chính trong đoạn trích là Lương Sinh - một kẻ cầm bút.
Câu 5 [827791]: Theo đoạn trích, Lương Sinh cảm thấy như thế nào khi không viết được câu nào?
Theo đoạn trích, khi không viết được câu nào, Lương Sinh cảm thấy mình không còn sống nữa.
Câu 6 [827793]: Tìm và phân tích (các) chi tiết kì ảo trong đoạn trích.
Tìm và phân tích (các) chi tiết kì ảo trong đoạn trích:
- Các chi tiết kì ảo trong đoạn trích:
+ Sinh vừa cầm bút lên, nghiên mực đỏ tươi sắc máu. Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ chảy từ tim.
+ Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như vết huyết khô trên cát.
+ Sinh vội buông bút, tưởng chừng bàn tay cũng thấm máu đầy. Đưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong người.
+ Sinh ném bút, hất giấy, vô cùng khiếp sợ, tưởng như xôn xao chung quanh vô số hồn oan đòi mạng.
- Tác dụng:
+ Phản chiếu tội ác của lối văn chương huyễn hoặc, gây nhiều thiệt hại cho con người trước đây của Lương Sinh.
+ Góp phần mang lại tính chất li kì, hấp dẫn cho đoạn truyện được kể.
+ Góp phần thể hiện đậm nét chủ đề của đoạn trích: Phê phán, lên án thứ văn chương vô đạo của những kẻ hiếu lợi, hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao.
Câu 7 [827797]: Lời người cậu nói với Lương Sinh cho thấy sức mạnh nào của ngòi bút?
Lời người cậu nói với Lương Sinh cho thấy sức mạnh ghê gớm của ngòi bút: Thứ văn chương huyễn hoặc có thể gây hại cho con người (Làm cho người gái lớn lên băn khoăn sầu muộn, làm cho trai trẻ đang hăng khinh bạc hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên ái tình, khêu cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười trên đau khổ của tha nhân, há trên bi cảnh của đồng loại, đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lí, che lấp bần hàn, ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người), khiến kẻ viết trở thành kẻ ác.
Câu 8 [827800]: Theo đoạn trích, mấy tập thi tuyển Sinh từng viết toàn là những trang như thế nào? Nhận xét của anh/chị về thứ văn chương đó.
- Theo đoạn trích, mấy tập thi tuyển Sinh từng viết toàn là những trang ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh thực tại, từ chối tương lai.
- Đó là thứ văn chương lãng mạn, xa rời thực tế, chỉ mang tính chất mua vui, giải trí nhất thời, không có giá trị cho cuộc đời.
Câu 9 [827801]: Tìm trong đoạn trích các chi tiết khắc hoạ khung cảnh thê lương tại vùng đất do viên Tổng trấn cai trị.
Các chi tiết khắc hoạ khung cảnh thê lương tại vùng đất do viên Tổng trấn cai trị: một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng; một gò cỏ úa héo; nấm mộ liu hiu mấy nén hương tàn.
Câu 10 [827807]:
- Khâm sai đi khắp nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng đầy lời hoa mĩ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó...
- Những hạng hiếu lợi, hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có?

Các chi tiết lời nói trên cho thấy thái độ nào của người nông phu đối với những lời tán dương hoa mĩ sai sự thật của Lương Sinh và đám người như Lương Sinh?
Các chi tiết lời nói trên cho thấy thái độ coi thường, khinh bỉ, căm phẫn tột độ của người nông phu đối với những lời tán dương hoa mĩ sai sự thật của Lương Sinh và đám người như Lương Sinh (thằng danh sĩ đốn mạt nào đó, hạng hiếu lợi, hiếu danh, trốn trong từ chương (…) mà cứ tưởng mình thanh cao); xen lẫn trong đó là cảm giác ngao ngán, chán chường, thất vọng tột đô (hạng ấy thì đâu chẳng có).
Câu 11 [827810]: “Đừng oán hờn tên danh sĩ. Đáng thương cho nó, đáng thương cho nó!”
Từ đoạn trích, hãy lí giả vì sao cụ trưởng lại cảm thấy đáng thương cho tên danh sĩ (Lương Sinh)?
Cụ trưởng cảm thấy đáng thương cho tên danh sĩ đã ngợi ca viên Tổng trấn họ Lý vì bản thân cụ là một người bao dung, vị tha (cụ sẵn sàng đứng ra nhận tội thay cho bao người) và cụ hiểu tên danh sĩ chỉ là cái cớ lũ vua quan vin vào mà che lấp sự thật.
Câu 12 [827812]: Đoạn trích thể hiện tư tưởng nào của tác giả về nghề viết?
Đoạn trích thể hiện tư tưởng đề cao, coi trọng sự thật của người cầm bút, cực lực phê phán thứ văn chương phù phiếm, xa rời thực tế, gây hại cho con người và cuộc đời.
Câu 13 [827813]: Chỉ ra thông điệp nào từ đoạn trích.
Thông điệp từ đoạn trích: Người cầm bút cần có trách nhiệm với ngòi bút của mình, cần có trách nhiệm với những điều mình viết bởi những dòng viết ấy có thể gây hại cho con người, cho cuộc đời.
Câu 14 [827814]: Nêu giá trị nhận thức/ giá trị giáo dục/ giá trị thẩm mĩ của đoạn trích.
- Giá trị nhận thức: Đoạn trích mang đến người đọc nhận thức về giá trị của văn chương nghệ thuật đích thực. Nghệ thuật chân chính, có ý nghĩa với cuộc đời phải là thứ nghệ thuật đề cao, coi trọng sự thật; dám đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác trong xã hội.
- Giá trị giáo dục: Đoạn trích mang đến con người bài học về sự trung thực trong cuộc đời, bài học về tinh thần đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác (dù đôi khi chúng ta có thể phải chịu thiệt thòi trong tranh đấu),…
- Giá trị thẩm mĩ: Vẻ đẹp của đoạn trích được mang đến từ tư tưởng tôn trọng sự thật cũng như những nét đặc sắc nghệ thuật nổi bật (yếu tố kì ảo; ngôn ngữ giàu hình ảnh, huyền hoặc, cổ kính;...).
Câu 15 [827816]: Nêu ý nghĩa từ thông điệp của đoạn trích.
Ý nghĩa từ thông điệp của đoạn trích:
- Thể hiện nhận thức về trách nhiệm với ngòi bút, trách nhiệm với công việc viết văn của nhà văn; lan toả đến những người viết văn nhận thức đúng đắn, sâu sắc về trách nhiệm của mỗi trang viết đối với cuộc đời.
- Giúp người đọc nhận thức được sứ mệnh của nghệ thuật chân chính; từ đó biết định giá giá trị của một tác phẩm văn chương.
Câu 16 [827819]: Sưu tầm một số câu nói/ tác phẩm văn học thể hiện quan điểm nghệ thuật về văn chương tương đồng với quan điểm nhà văn Vũ Hạnh được thể hiện trong đoạn trích trên.
Sưu tầm một số câu nói/ tác phẩm văn học thể hiện quan điểm nghệ thuật về văn chương tương đồng với quan điểm nhà văn Vũ Hạnh được thể hiện trong đoạn trích trên:
- Quan điểm văn chương của nhà văn Vũ Hạnh được thể hiện trong đoạn trích: văn học phải có giá trị phản ánh hiện thực, phải tôn trọng sự thật; văn học phải góp phần chống lại cái xấu, cái ác, bảo vệ cái yếu, chính nghĩa.
- Một số câu nói/ tác phẩm văn học thể hiện quan điểm nghệ thuật phải coi trọng sự thật:
+ Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than. (Trăng sáng - Nam Cao)
+ Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không tầm thường, cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc. (Tô Hoài)
+ Giữa những dòng chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trắng trung thực trên bàn viết. (Bài học tuổi thơ - Nguyễn Quang Sáng)
- Một số câu nói/ tác phẩm văn học thể hiện quan điểm văn học phải góp phần chống lại cái xấu, cái ác, bảo vệ cái yếu, chính nghĩa:
+ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà (Nguyễn Đình Chiểu)
+ Hiện đại thi trung ưng hữu thiết/ Thi gia dã yếu hội xung phong (“Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Hồ Chí Minh)