Đọc đoạn trích:
“Bà cụ Hà làm cơm sang quá. Những ba món ăn toàn cá thịt hẳn hoi. Ấy là chưa kể đĩa rau, món ăn chính của San và Thứ xưa nay. Cơm dẻo và trắng như bông. Cái mâm thau đánh sáng choang, bát đũa lau chùi sạch sẽ. Chưa bao giờ Thứ được hưởng những bữa cơm thường tươm tất như thế. Y hơi áy náy, hỏi San:
- Chúng mình đưa mỗi tháng có bảy đồng mà bà cụ làm hoang thế này mà không lỗ vốn ư?
- Lỗ thì không lỗ, nhưng cũng chẳng còn được lợi gì.
Thứ tính ra rằng họ đưa như vậy, thì mỗi ngày cả hai người mới được bốn hào, chưa đến năm hào, độ bốn hào với sáu xu, già sáu xu gì đó. Nghĩa là có hai hào ba một bữa cơm, vừa gạo, vừa các thức ăn, lại còn phải kể cả củi, nước và mắm muối. Như vậy thì tính nguyên cơm với thức ăn, mỗi bữa chỉ vào khoảng hai hào hay chưa đến hai hào. Bữa nào cũng cá thịt thế này thì làm thế nào cho đủ được. San lẩm nhẩm tính từng đĩa đồ ăn và bảo: đủ...
- Có lẽ may ra thì cũng đủ. Nhưng chỉ đủ thôi thì không được. Bà cụ thổi nấu không công cho chúng mình ư?
- Tôi nói đủ nghĩa là đủ cả cho bà cụ. Gạo thì mỗi người ăn chẳng là bao. Ngay cả vợ thằng Mô ăn vào đấy nữa, cũng chẳng phải thêm mấy. Còn thức ăn thì cố nhiên là chúng mình không ăn hết đấy thôi. Thế nào chúng mình chẳng phải để thừa chút ít. Chỗ thừa ấy bà cụ ăn...
San lại tính cả cho Thứ biết rằng ở nhà quê bảy đồng bạc có thể đủ ăn cho cả gia đình: hai vợ chồng, một con, một đứa ở ăn. Ở nhà quê, mỗi người chỉ ăn hết ba xu. Có hồi thóc hào tám một thùng, mỗi người chỉ ăn chừng một xu, hoặc xu rưỡi, hai xu... Thứ ngạc nhiên. Sự sinh hoạt rẻ đến thế mà sao dân quê mình vẫn đói? Ở làng Thứ, bao giờ cũng như bao giờ hiếm hoi lắm mới có một nhà được mỗi ngày hai hay ba bữa cơm no, còn thì chỉ bữa no, bữa đói hay một bữa thôi. Trong mười nhà thì có đến chín nhà phải chia cơm. Mà nào có được hoàn toàn là cơm! Họ phải ăn độn ngô, khoai. Những năm lụt, bão hay đại hạn, mất mùa thì lại cháo rau má, cháo cám, rau luộc trừ cơm. Thứ đã từng thấy có người ăn lá sắn tầu luộc làm rau, lá bà mụ nấu canh, sung luộc... Có người ăn cháo, nấu chỉ có một tí gạo còn thì chỉ toàn nõn khoai ngứa, có khi cả những cái lá non, bỏ vào cho đặc và nhiều. Có người ăn củ chuối... Một ông già hàng xóm đã kể cho Thứ nghe một câu chuyện ngụ ngôn. Một năm lụt, một buổi tối ông gọt sạch sẽ một cái củ chuối, ngâm bên dưới cầu ao cho nó hết nhựa đi, để sáng mai ăn. Ông cứ tưởng mình như thế đã cùng cực lắm rồi, và đi ngủ rất yên tâm, chẳng thắc mắc một tí nào về kẻ trộm. Ấy thế mà lại còn có một anh hàng xóm khổ hơn, lúc chập tối trông thấy ông ngâm cái củ chuối ở cầu ao, đêm đói quá, sinh thèm, không ngủ được, phải vùng dậy, im hơi lặng tiếng lội qua ao, lấy trộm cái củ chuối, rồi lại lóp ngóp lội về nhà mình, ăn... Thứ nghĩ đến tất cả những điều ấy và lại càng thấy rằng bữa ăn của mình quá phong lưu. Có thể gọi là xa xỉ rồi đấy. Y nghĩ đến bà, đến mẹ, đến vợ, đến em... Y nghĩ đến một lão ăn mày có những chiếc răng thưa đến nỗi chẳng chiếc nào dính chiếc nào, cũng dài, cũng rớt, cũng bẩn thỉu như cái thân hình còm rom và dài thườn thượt của lão ta. Hình như lão có họ hàng xa xôi gì với nhà y, nên mỗi lần đến, bà y bảo đem cho những một xu (những người kia chỉ được một trinh hay một kẽm thôi). Lần nào Thứ cũng tranh lấy cái việc đem cho. Chẳng lần nào y chịu cho ngay. Y nắm chắc đồng xu trong tay, bắt lão đọc cho nghe bài vè con chuột, chẳng biết lão đặt ra hay đọc ở đâu, mà cả vùng y chỉ có mình lão biết. Hồi ấy y mới chỉ là một thằng bé cỏn con, độ lên bốn, lên năm. Y nghe nhiều, đến thuộc cả đi. Nhưng bây giờ thì cố nhớ lại, y cũng chỉ còn nhớ được bốn năm câu vào quãng giữa thôi...
... Tý hợi khai thiên,
Đặt tên là chuột,
Cái đuôi vuôn vuốt,
Cái mõm thì dài,
Trời làm đại hạn...
Lão chỉ đọc chứ chẳng hát hoặc ngâm nga, nên khi y đã thuộc hết rồi, thì nghe đi, nghe lại cũng chẳng thú vị gì. Nhưng y cũng cố bắt lão đọc cho bằng được mới nghe. Hình như y muốn làm tội làm tình lão ta chơi. Lão để giục ba, bốn lần rồi mới chịu đọc vè, biết không đọc cũng không xong. Nhưng lão đọc bằng một cái giọng miễn cưỡng, bực mình, hấp tấp vội vàng, tiếng nọ vấp vào tiếng kia, và thường thường ăn bớt câu, như sốt ruột, muốn chóng xong, hoặc chưa hết bài đã ngừng lại, ì ra, không đọc nữa. Thế rồi mặt khó đăm đăm, nhăn nhó, lão nuốt nước dãi; rít đến “sịt” một cái qua những kẽ răng thưa, hơi há mồm ra, khoe những chiếc răng lênh khênh, như suốt đời chưa bao giờ ăn cả... Y nghĩ đến một câu của Gandhi mà y chỉ còn nhớ mang máng nghĩa đại khái của câu: “Mỗi miếng ăn, ăn vào lúc chẳng cần ăn, là một miếng giật lấy của những người khổ đói”...
Mâm có những hai bát cá riêu. San và Thứ bàn nhau hai người ăn chung một bát thôi, còn để cả bát kia nguyên vẹn, để bà cụ Hà không phải ăn thừa. Đó là một cách kính già. Tự nhiên Thứ lại nghĩ đến bà y. Bà cụ Hà chắc phải coi y, một ông giáo, như là một người cách biệt hẳn bà, trên hẳn bà, thuộc vào cái hạng như bà chỉ đáng làm u già, đầy tớ. Hẳn bà không ngờ rằng ông giáo lại có một người bà cũng rách rưới như bà, lam lũ như bà, mà lại còn khổ hơn bà một nước, là phải đói. Thứ không ao ước gì hơn là có thể nuôi bà y mỗi ngày hai bữa cơm như hai bữa cơm của bà Hà bây giờ. Một ý nghĩ nảy ra trong khối óc y: mời bà theo mình để bà thổi nấu cho mình với San ăn. Như vậy thì có phải bà đỡ vất vả mà lại được no không? Mà y vẫn chỉ phải tiêu bằng ấy. Việc ấy giá thực hành được thì cũng hay hay, nhưng y sợ mang tiếng với San. Đã muốn phụng dưỡng bà thì phụng dưỡng ra hồn, chứ nuôi bà để bà làm đày tớ cho mình thì thiên hạ cười vào mặt. Vả lại bà cụ cũng chẳng chịu đi nào. Vợ con Thứ còn phải ở nhà thì đời nào bà cụ chịu đi để y nuôi. Thỉnh thoảng, Thứ biếu cụ dăm ba đồng để ăn quà, cụ vẫn giữ tiếng không chịu nhận.
Hai vợ chồng cháu đi ăn riêng, đã chẳng cho cháu được tí gì!... Bà cụ cứ nghĩ thế và tự làm khổ cái thân mình một cách vô lí quá. Bà Thứ đã khổ suốt cả một đời. Thuở bé, bố chết mẹ đi lấy chồng, bà đã phải đi làm con nuôi nhà người, cùng với người em. Người ta nuôi, có phải vì hiếm hoi gì đâu, chỉ là cầu lấy việc đó thôi. Nghĩa là đi ở không công. Cái khổ, còn biết nói thế nào cho xiết. Lớn lên lấy chồng nghèo. Chồng lại cờ bạc, rượu chè. Cứ vợ làm ra được tí nào, chồng lại phá đi. Vợ chồng đánh, chửi nhau. Rồi nhân một chuyến thua ông chồng cầm cố sạch nhà cửa, ruộng, vườn, bỏ làng đi biệt tích, chẳng bao giờ còn về nữa. Năm ấy bà mới có hăm ba tuổi và mới được một người con. Bà ở vậy nuôi con, gây dựng cho con, rồi nuôi cháu, gây dựng cho các cháu. Suốt một đời, bà chỉ những làm, những lo hết việc nọ đến việc kia, chưa một phút nào được rảnh rang. Bây giờ tuổi già đã đến rồi. Đáng lẽ bà đã đến lúc được nhàn thì nhà lại túng và các cháu, đứa bé còn bé quá, chưa làm gì được, những đứa làm được thì lại có vợ, có con, chúng nuôi vợ con chúng chưa xong, còn nói gì đến chuyện nuôi bà nữa! Ấy thế là bà lại vẫn phải lo. Hết lo ăn, lo mặc, lo tiền thuốc thang lúc ốm đau, lại còn lo sao dành dụm được một món tiền vài ba trăm, để lúc chết làm ma, khỏi phải để khổ đến con, đến cháu. Sao lại có một người từ lúc bé cho đến lúc già lại chỉ những lo là lo như vậy? Thứ thương bà lắm. Thật lòng y muốn sống rút đi mười năm để có thể làm cho bà sung sướng lấy vài ba năm trước khi rời cõi đời khổ ải này. Y rất sợ bà chết đi mà chưa được hưởng một chút gì, chưa trông thấy một tí gì của chính y. Y rất có thể không nuôi vợ con, để nuôi bà. Nhưng bà cứ lại không bao giờ để cho y làm thế. Bà giữ tiếng. Có lẽ chỉ khi nào Thứ đem được vợ con đi, thì bà mới chịu đi. Nhưng nghĩ đến lúc ấy, Thứ vẫn ngại ngùng. Già trẻ là hai thái cực không nên để gần nhau. Thứ kinh nghiệm đã biết rồi. Bà già chưa bao giờ được ăn ngon, không thể quan niệm rằng người ta có thể ăn ngon; chưa bao giờ được nghỉ ngơi, không thể tin rằng người ta có quyền được nghỉ ngơi; chưa bao giờ được vui vẻ, yêu đương, không bằng lòng cho kẻ khác yêu đương và vui vẻ. Trước mắt bà, Thứ vẫn phải luôn luôn đóng bộ mặt ghét Liên. Y vẫn phải giả vờ chép miệng, lắc đầu nghe bà phàn nàn với y về những tật hoang phí vô lối, lười biếng của Liên, tuy y biết Liên vẫn lo hóp người đi, ăn chẳng đủ no và chỉ săn sóc đứa con nay sài, mai đẹn của y cũng đứt hết thở rồi, huống chi lại còn phải làm để kiếm tiền thêm nữa. Ấy là bây giờ Liên còn phải làm mà ăn còn thế (y chỉ giúp đỡ Liên ít và ngấm ngầm thôi) huống chi là lúc Liên hoàn toàn trông cậy vào chồng. Y đã đoán trước ra những sự ghen tức, những lời kêu ca, day dứt, những nỗi bủn xỉn, cay nghiệt của bà. Rồi bà chỉ những hậm hực suốt ngày, chỉ những tiếc tiền, những nặng mặt sa mày, giận dỗi mát hờn mà cháu cũng bực bội, buồn rầu, ngao ngán. Gia đình mất hẳn vui. Bà khổ, Liên khổ, mà ngay chính cả y cũng khổ. Con người ta, vào cái hạng phải nai lưng ra làm mới có được miếng ăn, thì chỉ lo sao kiếm nổi mỗi ngày vài bữa cơm no đã chật vật lắm rồi. Nhưng thật ra thì ăn no đã đủ đâu. Nếu sống mà không thấy sống là vui, thì thật không đáng sống. Chao ôi! Cuộc sống như cuộc sống của chúng ta đang sống bây giờ đã thật có gì đáng cho ta thấy vui chưa? Người ta ghét nhau hoặc yêu nhau, nhưng bao giờ cũng làm khổ nhau cả. Tại sao như vậy?...”
“Bà cụ Hà làm cơm sang quá. Những ba món ăn toàn cá thịt hẳn hoi. Ấy là chưa kể đĩa rau, món ăn chính của San và Thứ xưa nay. Cơm dẻo và trắng như bông. Cái mâm thau đánh sáng choang, bát đũa lau chùi sạch sẽ. Chưa bao giờ Thứ được hưởng những bữa cơm thường tươm tất như thế. Y hơi áy náy, hỏi San:
- Chúng mình đưa mỗi tháng có bảy đồng mà bà cụ làm hoang thế này mà không lỗ vốn ư?
- Lỗ thì không lỗ, nhưng cũng chẳng còn được lợi gì.
Thứ tính ra rằng họ đưa như vậy, thì mỗi ngày cả hai người mới được bốn hào, chưa đến năm hào, độ bốn hào với sáu xu, già sáu xu gì đó. Nghĩa là có hai hào ba một bữa cơm, vừa gạo, vừa các thức ăn, lại còn phải kể cả củi, nước và mắm muối. Như vậy thì tính nguyên cơm với thức ăn, mỗi bữa chỉ vào khoảng hai hào hay chưa đến hai hào. Bữa nào cũng cá thịt thế này thì làm thế nào cho đủ được. San lẩm nhẩm tính từng đĩa đồ ăn và bảo: đủ...
- Có lẽ may ra thì cũng đủ. Nhưng chỉ đủ thôi thì không được. Bà cụ thổi nấu không công cho chúng mình ư?
- Tôi nói đủ nghĩa là đủ cả cho bà cụ. Gạo thì mỗi người ăn chẳng là bao. Ngay cả vợ thằng Mô ăn vào đấy nữa, cũng chẳng phải thêm mấy. Còn thức ăn thì cố nhiên là chúng mình không ăn hết đấy thôi. Thế nào chúng mình chẳng phải để thừa chút ít. Chỗ thừa ấy bà cụ ăn...
San lại tính cả cho Thứ biết rằng ở nhà quê bảy đồng bạc có thể đủ ăn cho cả gia đình: hai vợ chồng, một con, một đứa ở ăn. Ở nhà quê, mỗi người chỉ ăn hết ba xu. Có hồi thóc hào tám một thùng, mỗi người chỉ ăn chừng một xu, hoặc xu rưỡi, hai xu... Thứ ngạc nhiên. Sự sinh hoạt rẻ đến thế mà sao dân quê mình vẫn đói? Ở làng Thứ, bao giờ cũng như bao giờ hiếm hoi lắm mới có một nhà được mỗi ngày hai hay ba bữa cơm no, còn thì chỉ bữa no, bữa đói hay một bữa thôi. Trong mười nhà thì có đến chín nhà phải chia cơm. Mà nào có được hoàn toàn là cơm! Họ phải ăn độn ngô, khoai. Những năm lụt, bão hay đại hạn, mất mùa thì lại cháo rau má, cháo cám, rau luộc trừ cơm. Thứ đã từng thấy có người ăn lá sắn tầu luộc làm rau, lá bà mụ nấu canh, sung luộc... Có người ăn cháo, nấu chỉ có một tí gạo còn thì chỉ toàn nõn khoai ngứa, có khi cả những cái lá non, bỏ vào cho đặc và nhiều. Có người ăn củ chuối... Một ông già hàng xóm đã kể cho Thứ nghe một câu chuyện ngụ ngôn. Một năm lụt, một buổi tối ông gọt sạch sẽ một cái củ chuối, ngâm bên dưới cầu ao cho nó hết nhựa đi, để sáng mai ăn. Ông cứ tưởng mình như thế đã cùng cực lắm rồi, và đi ngủ rất yên tâm, chẳng thắc mắc một tí nào về kẻ trộm. Ấy thế mà lại còn có một anh hàng xóm khổ hơn, lúc chập tối trông thấy ông ngâm cái củ chuối ở cầu ao, đêm đói quá, sinh thèm, không ngủ được, phải vùng dậy, im hơi lặng tiếng lội qua ao, lấy trộm cái củ chuối, rồi lại lóp ngóp lội về nhà mình, ăn... Thứ nghĩ đến tất cả những điều ấy và lại càng thấy rằng bữa ăn của mình quá phong lưu. Có thể gọi là xa xỉ rồi đấy. Y nghĩ đến bà, đến mẹ, đến vợ, đến em... Y nghĩ đến một lão ăn mày có những chiếc răng thưa đến nỗi chẳng chiếc nào dính chiếc nào, cũng dài, cũng rớt, cũng bẩn thỉu như cái thân hình còm rom và dài thườn thượt của lão ta. Hình như lão có họ hàng xa xôi gì với nhà y, nên mỗi lần đến, bà y bảo đem cho những một xu (những người kia chỉ được một trinh hay một kẽm thôi). Lần nào Thứ cũng tranh lấy cái việc đem cho. Chẳng lần nào y chịu cho ngay. Y nắm chắc đồng xu trong tay, bắt lão đọc cho nghe bài vè con chuột, chẳng biết lão đặt ra hay đọc ở đâu, mà cả vùng y chỉ có mình lão biết. Hồi ấy y mới chỉ là một thằng bé cỏn con, độ lên bốn, lên năm. Y nghe nhiều, đến thuộc cả đi. Nhưng bây giờ thì cố nhớ lại, y cũng chỉ còn nhớ được bốn năm câu vào quãng giữa thôi...
... Tý hợi khai thiên,
Đặt tên là chuột,
Cái đuôi vuôn vuốt,
Cái mõm thì dài,
Trời làm đại hạn...
Lão chỉ đọc chứ chẳng hát hoặc ngâm nga, nên khi y đã thuộc hết rồi, thì nghe đi, nghe lại cũng chẳng thú vị gì. Nhưng y cũng cố bắt lão đọc cho bằng được mới nghe. Hình như y muốn làm tội làm tình lão ta chơi. Lão để giục ba, bốn lần rồi mới chịu đọc vè, biết không đọc cũng không xong. Nhưng lão đọc bằng một cái giọng miễn cưỡng, bực mình, hấp tấp vội vàng, tiếng nọ vấp vào tiếng kia, và thường thường ăn bớt câu, như sốt ruột, muốn chóng xong, hoặc chưa hết bài đã ngừng lại, ì ra, không đọc nữa. Thế rồi mặt khó đăm đăm, nhăn nhó, lão nuốt nước dãi; rít đến “sịt” một cái qua những kẽ răng thưa, hơi há mồm ra, khoe những chiếc răng lênh khênh, như suốt đời chưa bao giờ ăn cả... Y nghĩ đến một câu của Gandhi mà y chỉ còn nhớ mang máng nghĩa đại khái của câu: “Mỗi miếng ăn, ăn vào lúc chẳng cần ăn, là một miếng giật lấy của những người khổ đói”...
Mâm có những hai bát cá riêu. San và Thứ bàn nhau hai người ăn chung một bát thôi, còn để cả bát kia nguyên vẹn, để bà cụ Hà không phải ăn thừa. Đó là một cách kính già. Tự nhiên Thứ lại nghĩ đến bà y. Bà cụ Hà chắc phải coi y, một ông giáo, như là một người cách biệt hẳn bà, trên hẳn bà, thuộc vào cái hạng như bà chỉ đáng làm u già, đầy tớ. Hẳn bà không ngờ rằng ông giáo lại có một người bà cũng rách rưới như bà, lam lũ như bà, mà lại còn khổ hơn bà một nước, là phải đói. Thứ không ao ước gì hơn là có thể nuôi bà y mỗi ngày hai bữa cơm như hai bữa cơm của bà Hà bây giờ. Một ý nghĩ nảy ra trong khối óc y: mời bà theo mình để bà thổi nấu cho mình với San ăn. Như vậy thì có phải bà đỡ vất vả mà lại được no không? Mà y vẫn chỉ phải tiêu bằng ấy. Việc ấy giá thực hành được thì cũng hay hay, nhưng y sợ mang tiếng với San. Đã muốn phụng dưỡng bà thì phụng dưỡng ra hồn, chứ nuôi bà để bà làm đày tớ cho mình thì thiên hạ cười vào mặt. Vả lại bà cụ cũng chẳng chịu đi nào. Vợ con Thứ còn phải ở nhà thì đời nào bà cụ chịu đi để y nuôi. Thỉnh thoảng, Thứ biếu cụ dăm ba đồng để ăn quà, cụ vẫn giữ tiếng không chịu nhận.
Hai vợ chồng cháu đi ăn riêng, đã chẳng cho cháu được tí gì!... Bà cụ cứ nghĩ thế và tự làm khổ cái thân mình một cách vô lí quá. Bà Thứ đã khổ suốt cả một đời. Thuở bé, bố chết mẹ đi lấy chồng, bà đã phải đi làm con nuôi nhà người, cùng với người em. Người ta nuôi, có phải vì hiếm hoi gì đâu, chỉ là cầu lấy việc đó thôi. Nghĩa là đi ở không công. Cái khổ, còn biết nói thế nào cho xiết. Lớn lên lấy chồng nghèo. Chồng lại cờ bạc, rượu chè. Cứ vợ làm ra được tí nào, chồng lại phá đi. Vợ chồng đánh, chửi nhau. Rồi nhân một chuyến thua ông chồng cầm cố sạch nhà cửa, ruộng, vườn, bỏ làng đi biệt tích, chẳng bao giờ còn về nữa. Năm ấy bà mới có hăm ba tuổi và mới được một người con. Bà ở vậy nuôi con, gây dựng cho con, rồi nuôi cháu, gây dựng cho các cháu. Suốt một đời, bà chỉ những làm, những lo hết việc nọ đến việc kia, chưa một phút nào được rảnh rang. Bây giờ tuổi già đã đến rồi. Đáng lẽ bà đã đến lúc được nhàn thì nhà lại túng và các cháu, đứa bé còn bé quá, chưa làm gì được, những đứa làm được thì lại có vợ, có con, chúng nuôi vợ con chúng chưa xong, còn nói gì đến chuyện nuôi bà nữa! Ấy thế là bà lại vẫn phải lo. Hết lo ăn, lo mặc, lo tiền thuốc thang lúc ốm đau, lại còn lo sao dành dụm được một món tiền vài ba trăm, để lúc chết làm ma, khỏi phải để khổ đến con, đến cháu. Sao lại có một người từ lúc bé cho đến lúc già lại chỉ những lo là lo như vậy? Thứ thương bà lắm. Thật lòng y muốn sống rút đi mười năm để có thể làm cho bà sung sướng lấy vài ba năm trước khi rời cõi đời khổ ải này. Y rất sợ bà chết đi mà chưa được hưởng một chút gì, chưa trông thấy một tí gì của chính y. Y rất có thể không nuôi vợ con, để nuôi bà. Nhưng bà cứ lại không bao giờ để cho y làm thế. Bà giữ tiếng. Có lẽ chỉ khi nào Thứ đem được vợ con đi, thì bà mới chịu đi. Nhưng nghĩ đến lúc ấy, Thứ vẫn ngại ngùng. Già trẻ là hai thái cực không nên để gần nhau. Thứ kinh nghiệm đã biết rồi. Bà già chưa bao giờ được ăn ngon, không thể quan niệm rằng người ta có thể ăn ngon; chưa bao giờ được nghỉ ngơi, không thể tin rằng người ta có quyền được nghỉ ngơi; chưa bao giờ được vui vẻ, yêu đương, không bằng lòng cho kẻ khác yêu đương và vui vẻ. Trước mắt bà, Thứ vẫn phải luôn luôn đóng bộ mặt ghét Liên. Y vẫn phải giả vờ chép miệng, lắc đầu nghe bà phàn nàn với y về những tật hoang phí vô lối, lười biếng của Liên, tuy y biết Liên vẫn lo hóp người đi, ăn chẳng đủ no và chỉ săn sóc đứa con nay sài, mai đẹn của y cũng đứt hết thở rồi, huống chi lại còn phải làm để kiếm tiền thêm nữa. Ấy là bây giờ Liên còn phải làm mà ăn còn thế (y chỉ giúp đỡ Liên ít và ngấm ngầm thôi) huống chi là lúc Liên hoàn toàn trông cậy vào chồng. Y đã đoán trước ra những sự ghen tức, những lời kêu ca, day dứt, những nỗi bủn xỉn, cay nghiệt của bà. Rồi bà chỉ những hậm hực suốt ngày, chỉ những tiếc tiền, những nặng mặt sa mày, giận dỗi mát hờn mà cháu cũng bực bội, buồn rầu, ngao ngán. Gia đình mất hẳn vui. Bà khổ, Liên khổ, mà ngay chính cả y cũng khổ. Con người ta, vào cái hạng phải nai lưng ra làm mới có được miếng ăn, thì chỉ lo sao kiếm nổi mỗi ngày vài bữa cơm no đã chật vật lắm rồi. Nhưng thật ra thì ăn no đã đủ đâu. Nếu sống mà không thấy sống là vui, thì thật không đáng sống. Chao ôi! Cuộc sống như cuộc sống của chúng ta đang sống bây giờ đã thật có gì đáng cho ta thấy vui chưa? Người ta ghét nhau hoặc yêu nhau, nhưng bao giờ cũng làm khổ nhau cả. Tại sao như vậy?...”
(Trích Sống mòn - Nam Cao)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [828335]: Chỉ ra đề tài của đoạn trích.
Đề tài của đoạn trích: người trí thức nghèo. (Đề tài quen thuộc của Nam Cao: Đời thừa, Trăng sáng, Những truyện không muốn viết, Mua nhà, Truyện tình, Quên điều độ, Cười, Nước mắt,…)
Câu 2 [828338]: Chỉ ra bối cảnh được khắc hoạ trong đoạn trích.
Bối cảnh được khắc hoạ trong đoạn trích:
- Hiện tại, nơi thị thành, trong bữa cơm của Thứ và San.
- Quá khứ, chốn làng quê, trong cảnh sống, đời sống của những người dân quê Thứ và người thân của Thứ.
- Hiện tại, nơi thị thành, trong bữa cơm của Thứ và San.
- Quá khứ, chốn làng quê, trong cảnh sống, đời sống của những người dân quê Thứ và người thân của Thứ.
Câu 3 [828339]: Đoạn trích gồm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần.
Đoạn trích gồm hai phần:
- Phần thứ nhất (từ đầu đến những người khổ đói”...): Bữa ăn tươm tất của Thứ và San khiến Thứ đầy trăn trở, nghĩ suy về những người dân quê mình.
- Phần thứ hai (còn lại): Bát canh Thứ và San phần riêng cho bà cụ Hà khiến Thứ không nguôi nghĩ về bà, về vợ.
- Phần thứ nhất (từ đầu đến những người khổ đói”...): Bữa ăn tươm tất của Thứ và San khiến Thứ đầy trăn trở, nghĩ suy về những người dân quê mình.
- Phần thứ hai (còn lại): Bát canh Thứ và San phần riêng cho bà cụ Hà khiến Thứ không nguôi nghĩ về bà, về vợ.
Câu 4 [828340]: Đoạn trích gồm các nhân vật nào? Nhân vật trữ chính trong đoạn trích là ai?
- Đoạn trích gồm các nhân vật: Thứ, San, bà cụ Hà, bà Thứ, vợ Thứ, ông già hàng xóm, anh hàng xóm (ăn trộm củ chuối ngâm dưới cầu ao), ông lão ăn mày.
- Nhân vật chính trong đoạn trích: Thứ.
- Nhân vật chính trong đoạn trích: Thứ.
Câu 5 [828341]:
- Thứ tính ra rằng họ đưa như vậy, thì mỗi ngày cả hai người mới được bốn hào, chưa đến năm hào, độ bốn hào với sáu xu, già sáu xu gì đó. Nghĩa là có hai hào ba một bữa cơm, vừa gạo, vừa các thức ăn, lại còn phải kể cả củi, nước và mắm muối. Như vậy thì tính nguyên cơm với thức ăn, mỗi bữa chỉ vào khoảng hai hào hay chưa đến hai hào.
- San lại tính cả cho Thứ biết rằng ở nhà quê bảy đồng bạc có thể đủ ăn cho cả gia đình: hai vợ chồng, một con, một đứa ở ăn. Ở nhà quê, mỗi người chỉ ăn hết ba xu. Có hồi thóc hào tám một thùng, mỗi người chỉ ăn chừng một xu, hoặc xu rưỡi, hai xu...
Những tính toán của Thứ, San trong các đoạn văn trên giúp anh/chị hiểu gì về cuộc sống của họ?
- Thứ tính ra rằng họ đưa như vậy, thì mỗi ngày cả hai người mới được bốn hào, chưa đến năm hào, độ bốn hào với sáu xu, già sáu xu gì đó. Nghĩa là có hai hào ba một bữa cơm, vừa gạo, vừa các thức ăn, lại còn phải kể cả củi, nước và mắm muối. Như vậy thì tính nguyên cơm với thức ăn, mỗi bữa chỉ vào khoảng hai hào hay chưa đến hai hào.
- San lại tính cả cho Thứ biết rằng ở nhà quê bảy đồng bạc có thể đủ ăn cho cả gia đình: hai vợ chồng, một con, một đứa ở ăn. Ở nhà quê, mỗi người chỉ ăn hết ba xu. Có hồi thóc hào tám một thùng, mỗi người chỉ ăn chừng một xu, hoặc xu rưỡi, hai xu...
Những tính toán của Thứ, San trong các đoạn văn trên giúp anh/chị hiểu gì về cuộc sống của họ?
Là những người đàn ông và còn là trí thức nhưng Thứ, San lại phải tính toán chi li từng xu, từng hào tiền ăn mỗi ngày, cân đo đong đếm hơn thiệt tiền tiêu ở quê, tiền tiêu ở phố,… Tất cả những tính toán ấy đã cho chúng ta nhận ra Thứ, San đang phải sống cuộc sống vô cùng khó khăn, chật vật về vật chất. Nói cách khác, họ đang bị gánh nặng áo cơm ghì sát đất.
Câu 6 [828343]: Chi tiết về bữa ăn, cái ăn, cách ăn của những người ở quê Thứ khắc hoạ hiện thực nào trong đời sống của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám?
- Chi tiết về bữa ăn, cái ăn, cách ăn của những người ở quê Thứ:
+ hiếm hoi lắm mới có một nhà được mỗi ngày hai hay ba bữa cơm no, còn thì chỉ bữa no, bữa đói hay một bữa; mười nhà thì có đến chín nhà phải chia cơm; phải ăn độn ngô, khoai; lụt, bão hay đại hạn, mất mùa thì lại cháo rau má, cháo cám, rau luộc trừ cơm; lá sắn tầu luộc làm rau, lá bà mụ nấu canh, sung luộc...; Có người ăn cháo, nấu chỉ có một tí gạo còn thì chỉ toàn nõn khoai ngứa, có khi cả những cái lá non, bỏ vào cho đặc và nhiều. Có người ăn củ chuối...
+ Có ông lão một buổi tối ông gọt sạch sẽ một cái củ chuối, ngâm bên dưới cầu ao cho nó hết nhựa đi, để sáng mai ăn ấy thế mà có một anh hàng xóm khổ hơn, lúc chập tối trông thấy ông ngâm cái củ chuối ở cầu ao, đêm đói quá, sinh thèm, không ngủ được, phải vùng dậy, im hơi lặng tiếng lội qua ao, lấy trộm cái củ chuối, rồi lại lóp ngóp lội về nhà mình, ăn...
- Các chi tiết trên khắc hoạ hiện thực tình cảnh đói kém, gieo neo triền miên, dai dẳng của người nông dân nghèo Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
+ hiếm hoi lắm mới có một nhà được mỗi ngày hai hay ba bữa cơm no, còn thì chỉ bữa no, bữa đói hay một bữa; mười nhà thì có đến chín nhà phải chia cơm; phải ăn độn ngô, khoai; lụt, bão hay đại hạn, mất mùa thì lại cháo rau má, cháo cám, rau luộc trừ cơm; lá sắn tầu luộc làm rau, lá bà mụ nấu canh, sung luộc...; Có người ăn cháo, nấu chỉ có một tí gạo còn thì chỉ toàn nõn khoai ngứa, có khi cả những cái lá non, bỏ vào cho đặc và nhiều. Có người ăn củ chuối...
+ Có ông lão một buổi tối ông gọt sạch sẽ một cái củ chuối, ngâm bên dưới cầu ao cho nó hết nhựa đi, để sáng mai ăn ấy thế mà có một anh hàng xóm khổ hơn, lúc chập tối trông thấy ông ngâm cái củ chuối ở cầu ao, đêm đói quá, sinh thèm, không ngủ được, phải vùng dậy, im hơi lặng tiếng lội qua ao, lấy trộm cái củ chuối, rồi lại lóp ngóp lội về nhà mình, ăn...
- Các chi tiết trên khắc hoạ hiện thực tình cảnh đói kém, gieo neo triền miên, dai dẳng của người nông dân nghèo Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
Câu 7 [828345]: Thứ nghĩ đến tất cả những điều ấy và lại càng thấy rằng bữa ăn của mình quá phong lưu. Có thể gọi là xa xỉ rồi đấy. Y nghĩ đến bà, đến mẹ, đến vợ, đến em...
Chi tiết trên phản chiếu nỗi khổ nào trong đời sống tinh thần của Thứ?
Chi tiết trên phản chiếu nỗi khổ nào trong đời sống tinh thần của Thứ?
Chi tiết trên phản chiếu nỗi khổ tâm trong đời sống tinh thần của Thứ: Ngay khi được ăn những bữa cơm tươm tất hằng ngày, Thứ cũng không thể cảm thấy vui vẻ để hưởng thụ bữa cơm rất sang (Những ba món ăn toàn cá thịt hẳn hoi. Ấy là chưa kể đĩa rau, món ăn chính của San và Thứ xưa nay. Cơm dẻo và trắng như bông. Cái mâm thau đánh sáng choang, bát đũa lau chùi sạch sẽ.) vì anh không đành lòng ăn ngon một mình, phong lưu, xa xỉ riêng mình trong khi bà, mẹ, vợ, em,… ở quê phải đói khổ, nheo nhóc.
Câu 8 [828346]: Mâm có những hai bát cá riêu. San và Thứ bàn nhau hai người ăn chung một bát thôi, còn để cả bát kia nguyên vẹn, để bà cụ Hà không phải ăn thừa.
Chi tiết trên tô đậm phẩm cách nào ở Thứ và San?
Chi tiết trên tô đậm phẩm cách nào ở Thứ và San?
Thứ, San thuộc tầng lớp trí thức (hai anh là thầy giáo một trường tư trên Hà Nội), trong khi đó bà cụ Hà chỉ là người được các anh thuê nấu cơm giúp. Xét theo địa vị xã hội, dù ít tuổi hơn nhưng Thứ, San có địa vị xã hội cao hơn bà cụ. Tuy nhiên, hai người vẫn ứng xử với bà cụ Hà một cách rất lễ độ, đầy tôn trọng: hai người ăn chung một bát canh, bát canh kia để nguyên để bà cụ không phải ăn thừa. Chi tiết trên tô đậm lòng nhân ái, bao dung, vị tha ở Thứ và San.
Câu 9 [828347]:
- Bà già chưa bao giờ được ăn ngon, không thể quan niệm rằng người ta có thể ăn ngon; chưa bao giờ được nghỉ ngơi, không thể tin rằng người ta có quyền được nghỉ ngơi; chưa bao giờ được vui vẻ, yêu đương, không bằng lòng cho kẻ khác yêu đương và vui vẻ.
- Con người ta, vào cái hạng phải nai lưng ra làm mới có được miếng ăn, thì chỉ lo sao kiếm nổi mỗi ngày vài bữa cơm no đã chật vật lắm rồi.
Chỉ ra màu sắc đặc biệt trong giọng điệu ở các đoạn văn trên.
- Bà già chưa bao giờ được ăn ngon, không thể quan niệm rằng người ta có thể ăn ngon; chưa bao giờ được nghỉ ngơi, không thể tin rằng người ta có quyền được nghỉ ngơi; chưa bao giờ được vui vẻ, yêu đương, không bằng lòng cho kẻ khác yêu đương và vui vẻ.
- Con người ta, vào cái hạng phải nai lưng ra làm mới có được miếng ăn, thì chỉ lo sao kiếm nổi mỗi ngày vài bữa cơm no đã chật vật lắm rồi.
Chỉ ra màu sắc đặc biệt trong giọng điệu ở các đoạn văn trên.
Các đoạn văn trên mang giọng điệu suy tư, chiêm nghiệm, đậm màu sắc triết lí. Đây là giọng văn sở trường của Nam Cao, được thể hiện trong nhiều sáng tác của ông.
(Ví dụ:
+ Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất... (Lão Hạc - Nam Cao)
+ Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình. (Sống mòn - Nam Cao))
(Ví dụ:
+ Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất... (Lão Hạc - Nam Cao)
+ Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình. (Sống mòn - Nam Cao))
Câu 10 [828349]: Chao ôi! Cuộc sống như cuộc sống của chúng ta đang sống bây giờ đã thật có gì đáng cho ta thấy vui chưa? Người ta ghét nhau hoặc yêu nhau, nhưng bao giờ cũng làm khổ nhau cả. Tại sao như vậy?...
Đoạn văn trên là lời của ai? Nêu tác dụng của kiểu lời văn này.
Đoạn văn trên là lời của ai? Nêu tác dụng của kiểu lời văn này.
- Đoạn văn trên là lời của người kể chuyện nhưng lại ghi lại cảm nghĩ của nhân vật Thứ. Đây là kiểu lời văn nửa trực tiếp - kiểu lời văn khá phổ biến trong truyện của Nam Cao.
- Tác dụng của kiểu lời văn nửa trực tiếp:
+ Giúp người kể chuyện có thể đi sâu vào nội tâm nhân vật Thứ, miêu tả một cách chân thực, sâu sắc diễn biến nội tâm ấy; từ đó, nội tâm của Thứ được bộc lộ một cách tự nhiên, rõ nét.
+ Giúp người kể chuyện dễ dàng bày tỏ sự thấu hiểu, đồng điệu, đồng cảm với nỗi lòng, cảm xúc, suy nghĩ của Thứ về cuộc đời khốn khổ mà Thứ và người thân của anh, con người thế hệ anh đang sống.
+ Góp phần mang lại chất biểu cảm cho lời văn tự sự, làm cho lời văn trở nên giàu cảm xúc hơn; từ đó dễ dàng bộc lộ tình cảm, tâm trạng của nhân vật Thứ.
- Tác dụng của kiểu lời văn nửa trực tiếp:
+ Giúp người kể chuyện có thể đi sâu vào nội tâm nhân vật Thứ, miêu tả một cách chân thực, sâu sắc diễn biến nội tâm ấy; từ đó, nội tâm của Thứ được bộc lộ một cách tự nhiên, rõ nét.
+ Giúp người kể chuyện dễ dàng bày tỏ sự thấu hiểu, đồng điệu, đồng cảm với nỗi lòng, cảm xúc, suy nghĩ của Thứ về cuộc đời khốn khổ mà Thứ và người thân của anh, con người thế hệ anh đang sống.
+ Góp phần mang lại chất biểu cảm cho lời văn tự sự, làm cho lời văn trở nên giàu cảm xúc hơn; từ đó dễ dàng bộc lộ tình cảm, tâm trạng của nhân vật Thứ.
Câu 11 [828353]: Chỉ ra đặc điểm của phong cách hiện thực trong đoạn trích.
Đặc điểm của phong cách hiện thực trong đoạn trích:
- Miêu tả, tái hiện đời sống chính xác như nó vốn có: Đoạn trích đã tái hiện chân thực, rõ nét đời sống vật chất gieo neo và đời sống tinh thần đậm màu sắc bi kịch của những người trí thức cùng người thân của họ dưới chế độ xã hội thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám.
- Tạo dựng được các chi tiết, sự việc thường ngày: Đoạn trích khai thác các sự việc từ cuộc sống thường ngày (bữa ăn, miếng ăn, những ý nghĩ thường tình trong tâm trí con người,…); khéo léo tạo dựng các chi tiết đặc sắc (chẳng hạn: chi tiết Thứ tính toán số tiền chi cho bữa ăn của Thứ và San; Thứ và San để dành cho bà cụ Hà nguyên một bát canh;…).
- Khám phá tâm lí khách quan của nhân vật trong mối liên hệ chặt chẽ với hiện thực: Toàn bộ diễn biến tâm lí của Thứ trong đoạn trích có mối quan hệ lô gích, biện chứng với thực tại khách quan. Chẳng hạn, nhìn bữa cơm tươm tất bà cụ Hà nấu cho mình và San, Thứ đã chạnh lòng nghĩ đến bà nội và vợ con nơi quê nhà,…
- Miêu tả, tái hiện đời sống chính xác như nó vốn có: Đoạn trích đã tái hiện chân thực, rõ nét đời sống vật chất gieo neo và đời sống tinh thần đậm màu sắc bi kịch của những người trí thức cùng người thân của họ dưới chế độ xã hội thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám.
- Tạo dựng được các chi tiết, sự việc thường ngày: Đoạn trích khai thác các sự việc từ cuộc sống thường ngày (bữa ăn, miếng ăn, những ý nghĩ thường tình trong tâm trí con người,…); khéo léo tạo dựng các chi tiết đặc sắc (chẳng hạn: chi tiết Thứ tính toán số tiền chi cho bữa ăn của Thứ và San; Thứ và San để dành cho bà cụ Hà nguyên một bát canh;…).
- Khám phá tâm lí khách quan của nhân vật trong mối liên hệ chặt chẽ với hiện thực: Toàn bộ diễn biến tâm lí của Thứ trong đoạn trích có mối quan hệ lô gích, biện chứng với thực tại khách quan. Chẳng hạn, nhìn bữa cơm tươm tất bà cụ Hà nấu cho mình và San, Thứ đã chạnh lòng nghĩ đến bà nội và vợ con nơi quê nhà,…
Câu 12 [828355]: Xác định cảm hứng chủ đạo của văn bản.
Cảm hứng chủ đạo của văn bản: nỗi xót thương dành cho những cuộc đời, những kiếp người khốn khổ vì gánh nặng áo cơm ghì sát đất.
Câu 13 [828358]: Từ đoạn trích, nêu cảm nhận của anh/chị về bi kịch tinh thần của nhân vật Thứ. (Trình bày trong khoảng 5 - 7 dòng)
- Bi kịch tinh thần của nhân vật Thứ trong đoạn trích: khao khát chia sẻ được với gia đình gánh nặng áo cơm nhưng lại không thực hiện được (Thứ ao ước có thể đưa bà đi theo mình để được ăn no như bà cụ Hà nhưng anh vẫn chưa làm được điều này; anh thấu hiểu nỗi khổ, nỗi vất vả của vợ nhưng cũng chưa làm được gì để giúp vợ cả).
- Bi kịch của Thứ có nguồn gốc từ sự nghèo đói và đó cũng là bi kịch của rất nhiều trí thức tiểu tư sản đương thời.
- Bi kịch của Thứ có nguồn gốc từ sự nghèo đói và đó cũng là bi kịch của rất nhiều trí thức tiểu tư sản đương thời.
Câu 14 [828360]: Đoạn trích thể hiện tư tưởng nào của tác giả?
Đoạn trích thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao:
- Ngợi ca vẻ đẹp nhân cách của những người trí thức như Thứ, San (tự trọng, vị tha, giàu tình yêu thương,…).
- Thấu hiểu, đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với nỗi đau khổ của những người trí thức như Thứ, San; những người nông dân nghèo ở làng quê của Thứ;…
- Khao khát một cuộc sống tươi đẹp dành cho những người nông dân nghèo (thể hiện qua hi vọng của Thứ, hi vọng đón được bà, nuôi được bà, hi vọng chia sẻ được gánh nặng áo cơm với vợ).
- Phơi bày hiện thực xã hội đen tối, thối nát khiến con người không được sống như con người.
- Ngợi ca vẻ đẹp nhân cách của những người trí thức như Thứ, San (tự trọng, vị tha, giàu tình yêu thương,…).
- Thấu hiểu, đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với nỗi đau khổ của những người trí thức như Thứ, San; những người nông dân nghèo ở làng quê của Thứ;…
- Khao khát một cuộc sống tươi đẹp dành cho những người nông dân nghèo (thể hiện qua hi vọng của Thứ, hi vọng đón được bà, nuôi được bà, hi vọng chia sẻ được gánh nặng áo cơm với vợ).
- Phơi bày hiện thực xã hội đen tối, thối nát khiến con người không được sống như con người.
Câu 15 [828361]: Anh/Chị nhận được thông điệp nào từ đoạn trích?
Thi sinh có thể chỉ ra thông điệp từ đoạn trích: Hãy cứu lấy con người, hãy nâng đỡ con người vượt lên trên vũng lầy của kiếp sống tăm tối như kiếp vật.