Đọc đoạn trích:
“Nhưng hấp dẫn chúng tôi nhất là mỗi khi mẹ làm món chả hến. Khi tôi nói chuyện với bạn bè về món chả hến thì ai cũng ngạc nhiên. Họ chưa nghe đến món ăn ấy bao giờ. Chị Thủy chủ nhà hàng Mirai mấy lần cứ bảo tôi nói cho chị nghe món chả hến làm như thế nào. Chị cũng như nhiều người không chỉ chưa nghe đến món chả hến mà có rất nhiều món của người làng Chùa cũng chưa nghe ai nói bao giờ. Những năm tháng xa xưa ở những làng quê có rất nhiều món ăn lạ. Người thôn quê nấu tất cả những gì có thể ăn được và tìm cách chế biến những món ăn có từ nguyên liệu của làng để vượt qua cơn đói. Nhưng rồi chính những món ăn ấy lại trở thành những món ăn mà tôi nhớ mãi cho đến bây giờ.
Mẹ tôi chỉ làm món chả hến những khi có thời gian rảnh rỗi hoặc khi cha tôi có khách từ thị xã Hà Đông về chơi. Hến để làm chả phải là hến già thì ruột hến mới không bị ngót và không ra nhiều nước khi nướng chả. Sau khi luộc hến và đãi lấy ruột, mẹ tôi để cho ruột hến thật ráo nước rồi băm rối ruột hến. Mẹ tôi giã mần riềng, gừng thật nhỏ. Lúc nào giã riềng, gừng, mẹ tôi cũng giã thêm một mẩu nghệ. Nghệ làm mất mùi tanh của hến và làm màu cho món chả hến. Mẹ băm một hai quả ớt tươi để cho vào. Tất cả ruột hến băm qua trộn đều với mần riềng, gừng, nghệ giã nhỏ cùng với ớt tươi băm và rau thì là. Có lúc mẹ trộn thêm lá chanh hoặc lá gừng bánh tẻ vào món chả hến. Nếu hôm nào mua được mỡ phần thì mẹ thái hạt lựu cho thêm vào thì món chả hến hôm ấy thơm ngon hơn rất nhiều. Sau này đời sống khá giả hơn thì mẹ còn băm một ít thịt nạc vai phần có dắt nhiều mỡ trộn đều với ruột hến.
Mẹ bọc chả hến bằng lá xương xông và lấy lá chuối thon bọc lớp ngoài để cho bụi than không dính vào miếng chả và để lớp lá xương xông không bị cháy đen và cũng để cho món chả hến được nướng kĩ. Món chả hến thường nướng bằng than lõi ngô. Ngày ấy, nhà nào cũng có một cót lõi ngô quây ở góc bếp dùng để nướng cá, nướng thịt hay nướng chả. Than lõi ngô đượm và thơm. Miếng chả hến được nướng cho đến khi lớp lá chuối non bọc ngoài cùng cháy hết là được.
Món chả hến phải ăn ngay khi vừa nướng xong. Ngày nay, người ta chủ yếu dùng nước mắm chế gia vị để chấm các món nướng. Nhưng hồi đó ở làng quê nước mắm là thứ xa xỉ. Bởi thế người làng tôi chấm món chả hến với tương hoặc muối rang ớt có vắt chanh. Vào mùa hạ, món chả hến thường chấm với nước tương trong ngâm măng tay tre. Nước tương trong chỉ có được khi chum tương vừa được ngả xong. Lúc đó, mốc ngô vào đậu tương chìm xuống dưới. Phần nước ở trên được tiết ra từ mốc ngô và đậu tương rang có màu nâu thẫm và thơm. Còn sau khi đã sát tương thì không còn được ăn tương trong nữa. Ngả tương là giai đoạn người ta mở cái vung đậy chum tương ra phơi nắng. Việc này phải vào dịp nắng đều và kéo dài trong bảy ngày. Sau bảy ngày, mẹ tôi vớt mốc ngô và đậu tương từ chum bỏ vào chiếc rá sát cho nhuyễn. Mày ngô và vỏ đậu thì bỏ lại. Mẹ tôi thường cho nước tương trong vào một chiếc lọ thủy tinh mà bà bán hàng nước thường dùng để đựng kẹo bột. Lũ trẻ con chúng tôi xuống bờ ao để lấy những cái măng tay tre. Mẹ bóc bẹ măng tay tre lấy phần măng non nhất thái mỏng và bỏ vào lọ tương. Chỉ sau vài ngày măng tay tre ngâm trong nước tương trong đã tạo nên một hương vị thơm ngon lạ lùng. Bây giờ, nhiều lúc ngồi một mình, tôi cử lẩn thẩn tự hỏi bắt nguồn từ đâu mà người xưa lại biết kết hợp thứ này với thứ kia để làm nên những món ăn đầy hương vị và ngon miệng đến như thế. Những ai đã ăn món chả hến của mẹ tôi thì chẳng bao giờ quên được. Vừa rồi, thiếu tướng cảnh sát Đỗ Hùng về quê tôi có việc ghé qua thăm gia đình tôi. Ông là lính của cha tôi hồi ông mới vào ngành công an. Thi thoảng đi công tác cùng cha tôi ghé qua thăm nhà tôi, ônxg đã được mẹ tôi đãi món chả hến. Trong lúc ngồi uống trà với anh em tôi, ông lại nhắc đến món chả hến mà mẹ tôi làm thuở trước.
Ông hỏi bây giờ chúng tôi có làm món chả hến nữa không và mong một ngày lại được ăn món độc đáo ấy. Thú thực, vài ba năm chúng tôi mới có dịp làm lại món chả hến của mẹ tôi ngày nào. Cuộc sống bề bộn với quá nhiều hệ lụy đã bứt chúng tôi ra khỏi bao điều thi vị của cuộc sống này.
Bây giờ mỗi lần về quê, tôi lại ra sông Đáy trong buổi chiều. Con sông Đáy vẫn còn kia nhưng bao điều sinh ra từ con sông này đã không còn nữa.
Nhưng tôi vẫn nghe thấy tiếng cười nói rộn vang của những người làng đi xúc hến những buổi trưa mùa hạ. Tôi vẫn thấy người anh thúc bá đứng bên bờ sông gọi tên đứa con gái đi bắt hến đã chết đuối trên sông. Trước kia, tôi đã sợ hãi khi mẹ tôi lên đò sang bên sông vì nghĩ mẹ tôi không trở lại vì bến bờ bên kia mù xa như ở cuối chân trời. Bây giờ tôi có cảm giác chỉ khẽ nhảy là sang được bờ bên kia. Con người đã giết chết những dòng sông. Người ta đổ xuống sông biết bao nhiêu thứ trong suốt mấy chục năm qua. Có nhiều đoạn sông Đáy nước chỉ cạn như nước ruộng. Những mẹ ghẻ, chìa vôi, trùng trục... những cá bò, trạch chấu, cá chày mắt đỏ, thờn bơn... đã đi đâu rồi. Con sông Đáy bây giờ như một lạch nước nhỏ. Và những mùa câu sông, những buổi trưa bắt hến... đã chìm vào quá khứ. Cái chết của thiên nhiên chính là báo hiệu cho cái chết của con người. Có những đêm ngồi trên hiên nhà nhìn lên bầu trời đầy sao, tôi thấy linh hồn sông Đáy đang trôi trong vũ trụ vô tận, và bên linh hồn của dòng sông là linh hồn những người làng tôi. Tất cả đang ra đi và mang theo những vẻ đẹp giản dị nhưng thiêng liêng của một đời sống.”
“Nhưng hấp dẫn chúng tôi nhất là mỗi khi mẹ làm món chả hến. Khi tôi nói chuyện với bạn bè về món chả hến thì ai cũng ngạc nhiên. Họ chưa nghe đến món ăn ấy bao giờ. Chị Thủy chủ nhà hàng Mirai mấy lần cứ bảo tôi nói cho chị nghe món chả hến làm như thế nào. Chị cũng như nhiều người không chỉ chưa nghe đến món chả hến mà có rất nhiều món của người làng Chùa cũng chưa nghe ai nói bao giờ. Những năm tháng xa xưa ở những làng quê có rất nhiều món ăn lạ. Người thôn quê nấu tất cả những gì có thể ăn được và tìm cách chế biến những món ăn có từ nguyên liệu của làng để vượt qua cơn đói. Nhưng rồi chính những món ăn ấy lại trở thành những món ăn mà tôi nhớ mãi cho đến bây giờ.
Mẹ tôi chỉ làm món chả hến những khi có thời gian rảnh rỗi hoặc khi cha tôi có khách từ thị xã Hà Đông về chơi. Hến để làm chả phải là hến già thì ruột hến mới không bị ngót và không ra nhiều nước khi nướng chả. Sau khi luộc hến và đãi lấy ruột, mẹ tôi để cho ruột hến thật ráo nước rồi băm rối ruột hến. Mẹ tôi giã mần riềng, gừng thật nhỏ. Lúc nào giã riềng, gừng, mẹ tôi cũng giã thêm một mẩu nghệ. Nghệ làm mất mùi tanh của hến và làm màu cho món chả hến. Mẹ băm một hai quả ớt tươi để cho vào. Tất cả ruột hến băm qua trộn đều với mần riềng, gừng, nghệ giã nhỏ cùng với ớt tươi băm và rau thì là. Có lúc mẹ trộn thêm lá chanh hoặc lá gừng bánh tẻ vào món chả hến. Nếu hôm nào mua được mỡ phần thì mẹ thái hạt lựu cho thêm vào thì món chả hến hôm ấy thơm ngon hơn rất nhiều. Sau này đời sống khá giả hơn thì mẹ còn băm một ít thịt nạc vai phần có dắt nhiều mỡ trộn đều với ruột hến.
Mẹ bọc chả hến bằng lá xương xông và lấy lá chuối thon bọc lớp ngoài để cho bụi than không dính vào miếng chả và để lớp lá xương xông không bị cháy đen và cũng để cho món chả hến được nướng kĩ. Món chả hến thường nướng bằng than lõi ngô. Ngày ấy, nhà nào cũng có một cót lõi ngô quây ở góc bếp dùng để nướng cá, nướng thịt hay nướng chả. Than lõi ngô đượm và thơm. Miếng chả hến được nướng cho đến khi lớp lá chuối non bọc ngoài cùng cháy hết là được.
Món chả hến phải ăn ngay khi vừa nướng xong. Ngày nay, người ta chủ yếu dùng nước mắm chế gia vị để chấm các món nướng. Nhưng hồi đó ở làng quê nước mắm là thứ xa xỉ. Bởi thế người làng tôi chấm món chả hến với tương hoặc muối rang ớt có vắt chanh. Vào mùa hạ, món chả hến thường chấm với nước tương trong ngâm măng tay tre. Nước tương trong chỉ có được khi chum tương vừa được ngả xong. Lúc đó, mốc ngô vào đậu tương chìm xuống dưới. Phần nước ở trên được tiết ra từ mốc ngô và đậu tương rang có màu nâu thẫm và thơm. Còn sau khi đã sát tương thì không còn được ăn tương trong nữa. Ngả tương là giai đoạn người ta mở cái vung đậy chum tương ra phơi nắng. Việc này phải vào dịp nắng đều và kéo dài trong bảy ngày. Sau bảy ngày, mẹ tôi vớt mốc ngô và đậu tương từ chum bỏ vào chiếc rá sát cho nhuyễn. Mày ngô và vỏ đậu thì bỏ lại. Mẹ tôi thường cho nước tương trong vào một chiếc lọ thủy tinh mà bà bán hàng nước thường dùng để đựng kẹo bột. Lũ trẻ con chúng tôi xuống bờ ao để lấy những cái măng tay tre. Mẹ bóc bẹ măng tay tre lấy phần măng non nhất thái mỏng và bỏ vào lọ tương. Chỉ sau vài ngày măng tay tre ngâm trong nước tương trong đã tạo nên một hương vị thơm ngon lạ lùng. Bây giờ, nhiều lúc ngồi một mình, tôi cử lẩn thẩn tự hỏi bắt nguồn từ đâu mà người xưa lại biết kết hợp thứ này với thứ kia để làm nên những món ăn đầy hương vị và ngon miệng đến như thế. Những ai đã ăn món chả hến của mẹ tôi thì chẳng bao giờ quên được. Vừa rồi, thiếu tướng cảnh sát Đỗ Hùng về quê tôi có việc ghé qua thăm gia đình tôi. Ông là lính của cha tôi hồi ông mới vào ngành công an. Thi thoảng đi công tác cùng cha tôi ghé qua thăm nhà tôi, ônxg đã được mẹ tôi đãi món chả hến. Trong lúc ngồi uống trà với anh em tôi, ông lại nhắc đến món chả hến mà mẹ tôi làm thuở trước.
Ông hỏi bây giờ chúng tôi có làm món chả hến nữa không và mong một ngày lại được ăn món độc đáo ấy. Thú thực, vài ba năm chúng tôi mới có dịp làm lại món chả hến của mẹ tôi ngày nào. Cuộc sống bề bộn với quá nhiều hệ lụy đã bứt chúng tôi ra khỏi bao điều thi vị của cuộc sống này.
Bây giờ mỗi lần về quê, tôi lại ra sông Đáy trong buổi chiều. Con sông Đáy vẫn còn kia nhưng bao điều sinh ra từ con sông này đã không còn nữa.
Nhưng tôi vẫn nghe thấy tiếng cười nói rộn vang của những người làng đi xúc hến những buổi trưa mùa hạ. Tôi vẫn thấy người anh thúc bá đứng bên bờ sông gọi tên đứa con gái đi bắt hến đã chết đuối trên sông. Trước kia, tôi đã sợ hãi khi mẹ tôi lên đò sang bên sông vì nghĩ mẹ tôi không trở lại vì bến bờ bên kia mù xa như ở cuối chân trời. Bây giờ tôi có cảm giác chỉ khẽ nhảy là sang được bờ bên kia. Con người đã giết chết những dòng sông. Người ta đổ xuống sông biết bao nhiêu thứ trong suốt mấy chục năm qua. Có nhiều đoạn sông Đáy nước chỉ cạn như nước ruộng. Những mẹ ghẻ, chìa vôi, trùng trục... những cá bò, trạch chấu, cá chày mắt đỏ, thờn bơn... đã đi đâu rồi. Con sông Đáy bây giờ như một lạch nước nhỏ. Và những mùa câu sông, những buổi trưa bắt hến... đã chìm vào quá khứ. Cái chết của thiên nhiên chính là báo hiệu cho cái chết của con người. Có những đêm ngồi trên hiên nhà nhìn lên bầu trời đầy sao, tôi thấy linh hồn sông Đáy đang trôi trong vũ trụ vô tận, và bên linh hồn của dòng sông là linh hồn những người làng tôi. Tất cả đang ra đi và mang theo những vẻ đẹp giản dị nhưng thiêng liêng của một đời sống.”
(Trích Sông Đáy ơi chiều nay tôi trở lại..., theo Mùi của kí ức - Nguyễn Quang Thiều, NXB Trẻ, 2017)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 [829121]: Chỉ ra đề tài của văn bản.
Đề tài của văn bản: quê hương đất nước.
Câu 2 [829122]: Đoạn trích được chia làm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần.
Đoạn trích được chia làm hai phần:
- Phần thứ nhất (từ đầu đến bao điều thi vị của cuộc sống này): Món chả hến - kí ức tuổi thơ “tôi”.
- Phần thứ hai (còn lại): Sông Đáy xưa và nay.
- Phần thứ nhất (từ đầu đến bao điều thi vị của cuộc sống này): Món chả hến - kí ức tuổi thơ “tôi”.
- Phần thứ hai (còn lại): Sông Đáy xưa và nay.
Câu 3 [829124]: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là ai?
Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là “tôi” - tác giả.
Câu 4 [829126]: Theo đoạn trích, nguyên liệu để làm món chả hến gồm những gì? Gia vị để chấm món chả hến thời xưa là gì?
- Theo đoạn trích, nguyên liệu để làm món chả hến gồm hến già, mần riềng, gừng, nghệ, ớt tươi, lá gừng, rau thì là, lá chanh hoặc lá gừng bánh tẻ, mỡ phần/ nạc vai phần dắt nhiều mỡ.
- Gia vị để chấm món chả hến thời xưa là nước tương trong ngâm măng tay tre hoặc muối rang có ớt vắt chanh.
- Gia vị để chấm món chả hến thời xưa là nước tương trong ngâm măng tay tre hoặc muối rang có ớt vắt chanh.
Câu 5 [829135]: Theo đoạn trích, bây giờ, điều gì khiến gia đình “tôi” vài ba năm mới có dịp làm lại món chả hến?
Theo đoạn trích, bây giờ, điều khiến gia đình “tôi” vài ba năm mới có dịp làm lại món chả hến là cuộc sống bề bộn với quá nhiều hệ lụy.
Câu 6 [829136]: Sự khác biệt giữa sông Đáy xưa và nay được khắc hoạ như thế nào trong đoạn văn cuối đoạn trích?
Sự khác biệt giữa sông Đáy xưa và nay được khắc hoạ trong đoạn văn cuối đoạn trích:
- Sông Đáy xưa rộng mênh mông (bến bờ bên kia mù xa như ở cuối chân trời); sông Đáy nay hẹp cạn (cảm giác chỉ khẽ nhảy là sang được bờ bên kia; nhiều đoạn sông Đáy nước chỉ cạn như nước ruộng; Con sông Đáy bây giờ như một lạch nước nhỏ).
- Sông Đáy xưa phong phú các loài (Những mẹ ghẻ, chìa vôi, trùng trục... những cá bò, trạch chấu, cá chày mắt đỏ, thờn bơn...); sông Đáy nay vắng cạn (các loài đã đi đâu rồi).
- Sông Đáy xưa gắn liền với tuổi thơ của những đứa trẻ (những mùa câu sông, những buổi trưa bắt hến...); giờ sông Đáy như đã chết (tôi thấy linh hồn sông Đáy đang trôi trong vũ trụ vô tận, và bên linh hồn của dòng sông là linh hồn những người làng tôi).
- Sông Đáy xưa rộng mênh mông (bến bờ bên kia mù xa như ở cuối chân trời); sông Đáy nay hẹp cạn (cảm giác chỉ khẽ nhảy là sang được bờ bên kia; nhiều đoạn sông Đáy nước chỉ cạn như nước ruộng; Con sông Đáy bây giờ như một lạch nước nhỏ).
- Sông Đáy xưa phong phú các loài (Những mẹ ghẻ, chìa vôi, trùng trục... những cá bò, trạch chấu, cá chày mắt đỏ, thờn bơn...); sông Đáy nay vắng cạn (các loài đã đi đâu rồi).
- Sông Đáy xưa gắn liền với tuổi thơ của những đứa trẻ (những mùa câu sông, những buổi trưa bắt hến...); giờ sông Đáy như đã chết (tôi thấy linh hồn sông Đáy đang trôi trong vũ trụ vô tận, và bên linh hồn của dòng sông là linh hồn những người làng tôi).
Câu 7 [829138]: Nêu tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích.
- Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích:
+ Tự sự: Chuyện chị Thủy chủ nhà hàng Mirai mấy lần cứ bảo “tôi” nói cho chị nghe món chả hến làm như thế nào; chuyện nhân vật trữ tình kể lại chuyện mẹ làm chả hến ngày xưa;việc thiếu tướng cảnh sát Đỗ Hùng về quê “tôi” có việc ghé qua thăm gia đình “tôi”, nhắc đến món chả hến mà mẹ “tôi” làm thuở trước.
+ Trữ tình: Nỗi niềm hoài vọng về món ăn dân dã, mộc mạc của làng Chùa; nỗi nhớ kí ức xa xưa - những năm tháng tuổi thơ bên sông Đáy; nỗi day dứt, xót xa trước hình ảnh sông Đáy ngày nay,...
- Tác dụng:
+ Giúp người viết vừa tái hiện chân thực, sinh động món ăn đặc trưng gắn liền với dòng sông quê hương vừa bộc lộ tình cảm, cảm xúc về món chả hến thời thơ ấu, về dòng sông thuở nhỏ, về sông Đáy hôm nay.
+ Góp phần làm đoạn trích trở nên sinh động, hấp dẫn, giàu sức gợi.
+ Tự sự: Chuyện chị Thủy chủ nhà hàng Mirai mấy lần cứ bảo “tôi” nói cho chị nghe món chả hến làm như thế nào; chuyện nhân vật trữ tình kể lại chuyện mẹ làm chả hến ngày xưa;việc thiếu tướng cảnh sát Đỗ Hùng về quê “tôi” có việc ghé qua thăm gia đình “tôi”, nhắc đến món chả hến mà mẹ “tôi” làm thuở trước.
+ Trữ tình: Nỗi niềm hoài vọng về món ăn dân dã, mộc mạc của làng Chùa; nỗi nhớ kí ức xa xưa - những năm tháng tuổi thơ bên sông Đáy; nỗi day dứt, xót xa trước hình ảnh sông Đáy ngày nay,...
- Tác dụng:
+ Giúp người viết vừa tái hiện chân thực, sinh động món ăn đặc trưng gắn liền với dòng sông quê hương vừa bộc lộ tình cảm, cảm xúc về món chả hến thời thơ ấu, về dòng sông thuở nhỏ, về sông Đáy hôm nay.
+ Góp phần làm đoạn trích trở nên sinh động, hấp dẫn, giàu sức gợi.
Câu 8 [829143]: Đoạn trích bộc lộ tình cảm, thái độ nào của người viết đối với món chả hến?
Đoạn trích bộc lộ nhiều sắc thái tình cảm, thái độ của người viết đối với món chả hến:
- Có niềm thích thú khôn xiết đối với món chả hến (hấp dẫn chúng tôi nhất là mỗi khi mẹ làm món chả hến).
- Có nỗi nhớ da diết món ăn dân dã thuở xưa (chính những món ăn ấy lại trở thành những món ăn mà tôi nhớ mãi cho đến bây giờ; việc tái hiện quá trình làm chả hến thể hiện rõ nét sự khắc ghi trong tâm trí nhân vật trữ tình món chả hến thuở xưa).
- Có khao khát tìm lại bao điều thi vị của cuộc sống nên vài ba năm trở lại đây, gia đình “tôi” đã làm lại món chả hến của mẹ tôi ngày nào.
- Có niềm thích thú khôn xiết đối với món chả hến (hấp dẫn chúng tôi nhất là mỗi khi mẹ làm món chả hến).
- Có nỗi nhớ da diết món ăn dân dã thuở xưa (chính những món ăn ấy lại trở thành những món ăn mà tôi nhớ mãi cho đến bây giờ; việc tái hiện quá trình làm chả hến thể hiện rõ nét sự khắc ghi trong tâm trí nhân vật trữ tình món chả hến thuở xưa).
- Có khao khát tìm lại bao điều thi vị của cuộc sống nên vài ba năm trở lại đây, gia đình “tôi” đã làm lại món chả hến của mẹ tôi ngày nào.
Câu 9 [829144]: Chỉ ra giá trị văn hoá của đoạn trích.
Qua đoạn trích, ta thấy hiện lên đời sống làng quê Việt Nam với văn hoá ẩm thực dân dã, mộc mạc, giản dị nhưng vẫn đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và nếp sống của con người gần gũi, thân thiện với thiên nhiên.
Câu 10 [829145]: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng nhân vật “tôi” trong đoạn văn cuối của đoạn trích.
- Hình tượng nhân vật “tôi” trong đoạn văn cuối của đoạn trích chủ yếu hiện lên qua những cảm xúc, suy nghĩ mang tính đối sánh về sông Đáy xưa và nay.
+ Đứng trước sông Đáy bây giờ, “tôi” đã nhận ra nhiều điều khác biệt của sông Đáy: Sông Đáy xưa rộng mênh mông - nay hẹp cạn; sông Đáy xưa phong phú các loài nay sông vắng cạn, các loài đã đi đâu rồi); sông Đáy xưa gắn liền với tuổi thơ của những đứa trẻ (những mùa câu sông, những buổi trưa bắt hến...) - giờ sông Đáy như đã chết
+ Những khác biệt ấy khiến “tôi” băn khoăn, trăn trở, nghĩ suy đến cái chết của thiên nhiên và dự cảm về cái chết của con người.
- Hình tượng nhân vật “tôi” trong đoạn văn cuối của đoạn trích là một người nặng lòng với quê hương; giàu tình cảm, cảm xúc, giàu suy tư; có trách nhiệm với hiện tại và tương lai;...
+ Đứng trước sông Đáy bây giờ, “tôi” đã nhận ra nhiều điều khác biệt của sông Đáy: Sông Đáy xưa rộng mênh mông - nay hẹp cạn; sông Đáy xưa phong phú các loài nay sông vắng cạn, các loài đã đi đâu rồi); sông Đáy xưa gắn liền với tuổi thơ của những đứa trẻ (những mùa câu sông, những buổi trưa bắt hến...) - giờ sông Đáy như đã chết
+ Những khác biệt ấy khiến “tôi” băn khoăn, trăn trở, nghĩ suy đến cái chết của thiên nhiên và dự cảm về cái chết của con người.
- Hình tượng nhân vật “tôi” trong đoạn văn cuối của đoạn trích là một người nặng lòng với quê hương; giàu tình cảm, cảm xúc, giàu suy tư; có trách nhiệm với hiện tại và tương lai;...
Câu 11 [829148]: Anh/Chị có đồng tình với ý kiến cho rằng: Cái chết của thiên nhiên chính là báo hiệu cho cái chết của con người. không? Vì sao?
Ý kiến thực chất khẳng định vai trò, tầm quan trọng của thiên nhiên đối với đời sống con người. Theo đó, thí sinh cần thể hiện nhận thức đúng đắn, hợp lí về ý kiến đó; song cần lí giải ngắn gọn, thuyết phục nguyên do. Chẳng hạn:
Tôi đồng tình với ý kiến cho rằng Cái chết của thiên nhiên chính là báo hiệu cho cái chết của con người. Bởi lẽ: Con người không thể sống tách biệt thiên nhiên nếu không muốn nói sự sống của con người phụ thuộc vào thiên nhiên (cây xanh cho con người ôxy để thở; sông suối ao hồ, mạch nước ngầm trong lòng đất cho con người nguồn nước ngọt;...). Nếu thiên nhiên chết, con người sẽ bị huỷ diệt theo.
Tôi đồng tình với ý kiến cho rằng Cái chết của thiên nhiên chính là báo hiệu cho cái chết của con người. Bởi lẽ: Con người không thể sống tách biệt thiên nhiên nếu không muốn nói sự sống của con người phụ thuộc vào thiên nhiên (cây xanh cho con người ôxy để thở; sông suối ao hồ, mạch nước ngầm trong lòng đất cho con người nguồn nước ngọt;...). Nếu thiên nhiên chết, con người sẽ bị huỷ diệt theo.