Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
Vậy cái đẹp trong khoa học là gì? Trước hết đó chính là vẻ đẹp vật chất của thế giới, nó đập ngay vào mắt chúng ta và làm chúng ta choáng ngợp. Như Mặt Trời không phải chỉ là nguồn sáng, là ánh sáng và năng lượng; nó còn là nguồn của sự sống lấy vũ trụ làm ngạc nhiên. Khi đứng gần với bờ nước, với mình phản tự khi và các tinh thể băng, khi phản xạ trên bề mặt đất bụi, cây cối, núi đồi, với mình phản mặt nước đại dương và ao hồ, hay khi luôn lắc giữa các đám mây, trong sương mù, Mặt Trời của chúng ta đã tạo ra những khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời, làm dịu trái tim và an ủi tâm hồn. Một vẻ đẹp thường xuyên an ủi và đôi khi thậm chí còn cứu rỗi chúng ta.
Thế giới không "bắt buộc" phải đẹp, nhưng nó thực sự là như thế. Chúng ta sống trong một thế giới đầy những kì quan quang học, và bầu trời là một bức tranh trong đó màu sắc và ánh sáng tác động và phổ diễn một cách bất ngờ nhất. Bạn không thể không ấn tượng với cầu vồng – cái vòm cùng đa sắc không lộ xuất hiện giữa những giọt nước mưa ở cuối một trận mưa đông, sự hòa hóa về sắc màu và sự hoàn hảo của các đám mây tạo nên cây cầu nối giữa bầu trời và khoa học, khiến mọi người bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp. Khi hoàng hôn, một thứ ánh sáng tím nhạt rọi bầu trời ngay trước khi vàng dương biến mất dưới chân trời. Khi chúng ta buồn, đôi khi chỉ cần nhìn bầu trời xanh, đầy nắng không một gợn mây cũng đủ để vơi bớt nỗi muộn phiền. Những cảnh cực quang, khi ánh sáng bị khuếch tán với những sắc màu, khiến bạn bị cuốn trong những biến hóa đương như vô tận, mà chúng ta chỉ quan sát thấy ở những vùng vĩ độ cao, quả là một cảnh tượng khiến ta phải nghẹt thở. Chúng ta sống trong một thế giới cực kì phong phú và đa dạng, với một thiên nhiên không ngừng tự tổ sáng tạo và đổi mới. Trong các chuyến đi thường xuyên tới các đài thiên văn ở khắp nơi trên thế giới, tôi luôn kinh ngạc trước những rừng xương rồng trong môi trường khắc nghiệt hoang dã và uy nghi của sa mạc Arizona, nơi có đài thiên văn Kitt Peak, hay sự hùng vĩ của dãy Andes ở Chilê nơi đặt đài thiên văn Nam Âu. Đó không thể cạn kiệt, sự tráng lệ của tự nhiên không bao giờ làm tôi hết hứng.
(Trích Vũ trụ và hoa sen, Trịnh Xuân Thuận, NXB Tri Thức, 2018, tr. 147-149)
Câu 1 [1077137]: Theo tác giả, vì sao vẻ đẹp của thiên nhiên có thể cứu rỗi con người?
A, Truyền cảm hứng và sinh lực mạnh mẽ.
B, Giúp con người hiểu cơ chế vận hành vũ trụ.
C, Thôi thúc khát vọng chinh phục bầu trời.
D, Khiến con người ngạc nhiên, vơi bớt tiêu cực.
Đáp án: D
Câu 2 [1077138]: Để làm sáng tỏ nhận định "thế giới đầy những kì quan quang học", tác giả dùng những bằng chứng nào sau đây?
A, Vẻ đẹp của bầu nước và những phản từ khí.
B, Vẻ đẹp của mặt nước đại dương và ao hồ.
C, Vẻ đẹp của các đám mây và sương mù.
D, Vẻ đẹp cầu vồng, ánh sáng trên bầu trời.
Đáp án: D
Câu 3 [1077139]: Phương án nào sau đây nêu đúng về giọng điệu nghị luận trong đoạn văn thứ hai?
A, Sôi nổi, nhiệt huyết.
B, Suy tư, hoài niệm.
C, Hào hứng, say mê.
D, Chiêm nghiệm, triết lí.
Đáp án: C
Câu 4 [1077140]: Yếu tố miêu tả được sử dụng trong văn bản trên nhằm mục đích nào sau đây?
A, Làm sáng tỏ vẻ đẹp phong phú của thế giới tự nhiên.
B, Chứng minh quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên.
C, Nhấn mạnh nét độc đáo của cái đẹp trong khoa học.
D, Ca ngợi thành tựu nghiên cứu to lớn của ngành Vật lí học.
Đáp án: A
Câu 5 [1077141]: Nhận định nào sau đây phù hợp với quan điểm của tác giả về cái đẹp trong khoa học?
A, Cái đẹp ẩn chứa vẻ tráng lệ, huyền bí của những kì quan quang học.
B, Cái đẹp là sự hòa quyện giữa vẻ đẹp vật chất và cảm xúc tinh thần.
C, Cái đẹp được tìm thấy khi con người chinh phục tự nhiên, làm chủ thế giới.
D, Cái đẹp nằm ở sự khiêm tốn của con người trước vũ trụ vô hạn.
Đáp án: B
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.

Các ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính được dùng để thể hiện cùng những suy nghĩ phức tạp như những người không bị khiếm thính muốn thể hiện thông qua việc nói và viết. Các ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính có vai trò của mình như bất cứ ngôn ngữ nào khác, thực hiện vai trò của các câu trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Và khi ta thấy người ra kí hiệu trên tivi thì chính là họ đang dịch những lời họ nghe được thành ngôn ngữ kí hiệu - và họ làm việc đó cực nhanh.

Có hai điều rất quan trọng cần phải nhớ về ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính. Thứ nhất, người khiếm thính không chỉ lấy từ ngữ trong ngôn ngữ nói và dịch chúng thành các kí hiệu. [...] Các kí hiệu cũng không cần phải xuất hiện theo trình tự nhất định như vậy. Đôi khi chúng bám theo trình tự trong câu tiếng Anh, nhưng đôi khi lại không. Chắc ai đó đã thông dụng câu “Bạn tên là gì?” bằng ngôn ngữ kí hiệu Anh là: “tên của bạn + gì” cùng với một biểu cảm bàn khoăn trên gương mặt như nhường lông mày. Điều thứ hai cần nhớ về ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính là chúng rất khác nhau. Cũng giống như ta không thể mong chờ rằng người chỉ nói tiếng Anh lại hiểu được tiếng Trung Quốc, ta không thể mong chờ rằng người chỉ biết ngôn ngữ kí hiệu Anh lại hiểu ngôn ngữ kí hiệu Trung Quốc. Và đáng ngạc nhiên thay, ta cũng không thể mong chờ rằng người chỉ biết ngôn ngữ kí hiệu Anh lại hiểu được ngôn ngữ kí hiệu Mĩ. Hai ngôn ngữ kí hiệu này đã phát triển theo hai hướng rất khác biệt suốt hơn 200 năm qua. Có một số kí hiệu tương đồng trong hai hệ thống nhưng điều đó không đủ để khiến người dùng ngôn ngữ này hiểu được ngôn ngữ kí hiệu của người kia. [...]

Tất cả những khái niệm quan trọng mà ta dùng đến trong việc nghiên cứu ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng vẫn cần thiết khi ta nói đến ngôn ngữ kí hiệu. Vì vậy, ta sẽ thấy có các phương ngữ khác nhau. Người khiếm thính ở một vùng này sẽ có vài kí hiệu khác với người khiếm thính ở vùng khác. [...] Ví dụ, kí hiệu cho “bố”, là gặp thẳng bốn ngón tay vào lòng bàn tay, như hình vẽ bên trái hoặc khum các ngón như hình bên phải.



Tất cả những điều này đều dẫn đến một nhận định: Không bao giờ nên coi kí hiệu khiếm thính chỉ là những cử chỉ đơn giản. Ngôn ngữ kí hiệu thực sự phức tạp, hữu dụng, và đẹp như bất kì ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết nào.

(Theo David Crystal, Câu chuyện ngôn ngữ, Phạm Minh Điệp dịch, NXB Thế giới và Nhã Nam, 2022, tr.150-154)

Câu 6 [1077142]: Theo tác giả, vì sao ngôn ngữ kí hiệu diễn đạt được những suy nghĩ phức tạp như ngôn ngữ nói và viết?
A, Được dịch trực tiếp từ lời nói một cách dễ dàng.
B, Sử dụng chuỗi kí hiệu theo cấu trúc câu.
C, Chỉ cần vài nghìn kí hiệu để diễn đạt đủ ý.
D, Có phiên dịch viên hỗ trợ nhanh chóng.
Đáp án: B
Câu 7 [1077143]: Ví dụ về câu “Bạn tên là gì?!” làm rõ đặc điểm nào sau đây của ngôn ngữ kí hiệu?
A, Ngôn ngữ kí hiệu và ngôn ngữ nói tương đồng.
B, Biểu cảm nét mặt quan trọng nhất khi giao tiếp.
C, Cách sắp xếp kí hiệu thành chuỗi tùy theo mỗi người.
D, Cấu trúc riêng biệt và không theo trật tự ngôn ngữ nói.
Đáp án: D
Câu 8 [1077144]: Hình minh họa kí hiệu “bố” bổ sung cho ý nào sau đây trong văn bản trên?
A, Sự quan trọng của ngôn ngữ cử chỉ tay trong ngôn ngữ kí hiệu.
B, Sự cần thiết phải sử dụng phương ngữ để giải mã ngôn ngữ kí hiệu.
C, Sự đa dạng về văn hóa trong giao tiếp kí hiệu ở các quốc gia.
D, Sự khác biệt về ngôn ngữ kí hiệu giữa các khu vực, vùng miền.
Đáp án: B
Câu 9 [1077145]: Nhận định nào sau đây phù hợp với nội dung văn bản trên?
A, Ngôn ngữ kí hiệu: Cách giao tiếp đơn giản.
B, Ngôn ngữ kí hiệu: Hệ thống độc lập và phức tạp.
C, Ngôn ngữ kí hiệu: Cách dịch từ ngôn ngữ nói.
D, Ngôn ngữ kí hiệu: Sự độc đáo của phương ngữ.
Đáp án: B
Câu 10 [1077146]: Nhận định nào sau đây về ngôn ngữ kí hiệu phù hợp với nội dung của văn bản trên?
A, Ngôn ngữ kí hiệu đòi hỏi phải kết hợp tự nhiên nét mặt và cử chỉ trong giao tiếp.
B, Ngôn ngữ kí hiệu trực quan, sinh động, truyền đạt hiệu quả các ý tưởng cơ bản.
C, Ngôn ngữ kí hiệu không theo địa phương, sáng tạo, giàu khả năng biểu đạt.
D, Ngôn ngữ kí hiệu là hệ thống chung toàn cầu với nhiều khác biệt văn hóa nội tại.
Đáp án: C
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1077147]: Trong một bài phỏng vấn đăng trên trang thông tin điện tử tổng hợp Soha (https://soha.vn) ngày 9/12/2015, Tiến sĩ Toán học Lê Bá Khánh Trình đã chia sẻ: “... cả cuộc đời, tôi đã, đang và sẽ cố gắng đánh giá đúng về bản thân mình. Tôi nghĩ, phải biết mình là ai thì ta mới có một thái độ đúng đắn với mình, với người khác và với cuộc sống được.”
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm sống “cố gắng đánh giá đúng về bản thân mình”, “phải biết mình là ai”.
Câu 12 [1077148]: Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn thơ sau:
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Chưa xóm mạc đã bắt đầu ngọn gió
Thổi không yên suốt dọc dài lịch sử
Qua đất đai và đời sống con người.
Gió gieo tung những hạt giống trên tay
Giọt nước mắt mau khô, tiếng gọi đỏ vọng mãi
Vầng trán vỡ bể khơi chung gió ấy
Ở nơi đâu cũng tôi được chân trời.
[…] Đã có lần tôi muốn nguôi yên
Khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng
Nhưng vô ích làm sao quên được
Những yêu thương khao khát của đời tôi.
[…] Ước chi được hoá thành ngọn gió
Để được ôm trọn vẹn nước non này
Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá
Để mái rượi những mái nhà nắng lửa
Để luôn luôn được trở lại với đời...

(Lưu Quang Vũ, trích Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, in trong Tinh hoa thơ Việt, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007, tr. 314 – 317)