Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1 Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi 1-5
VĂN BẢN 1
Lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội
Lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội sẽ diễn ra từ ngày 15 đến 17-3
(Baothanhhoa.vn) – Lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội năm 2023 sẽ tổ chức trong 3 ngày, từ 15 đến 17-3-2023 (tức từ ngày 24 đến 26-2 âm lịch) tại đền Sòng, khu phố 6, phường Bắc Sơn (TX Bỉm Sơn)

Lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội năm 2023 sẽ diễn ra tại Di tích cấp Quốc gia đền Sòng, phường Bắc Sơn, TX Bỉm Sơn
Đền Sòng được biết đến là di tích có tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh nổi tiếng bậc nhất xứ Thanh, mỗi năm thu hút hàng vạn lượt khách về dâng hương, chiêm bái, thực hành tín ngưỡng thờ mẫu. Lễ hội cũng là dịp tưởng nhớ vua Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Tương truyền, trên đường hành quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh, ông đã dừng chân trên đèo Ba Dội (phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn) để hội quân, chiêu binh luyện võ, luận bàn kế sách giải phóng kinh thành Thăng Long.
Theo kế hoạch, lễ hội sẽ được tổ chức gồm phần lễ và phần hội với nhiều hoạt động nổi bật, đặc sắc. Trong đó, phần lễ với nghi lễ rước bát hương linh vị, kiệu long đình Thánh mẫu và kiệu Hoàng đế Quang Trung, thực hiện vào chiều 16-3, tức 25-2 âm lịch) tại cung cấm đền Sòng Sơn – đài lễ.
Chính lễ tổ chức vào 8 giờ 30 phút ngày 17-3 (tức ngày 26-2 âm lịch) tại đài lễ đền Sòng Sơn với các hoạt động dâng hương, đánh trống khai hội, thực hiện nghi thức tế lễ, biểu diễn chương trình nghệ thuật. Trong đó, tổ chức lễ rước bóng Thánh mẫu Liễu Hạnh, kiệu Hoàng đế Quang Trung lên Nhà bia Ba Dội, về đền Chín Giếng và hoàn vị.
Phần hội diễn ra từ ngày 15 đến 16-3 (tức ngày 24 đến 25-2 âm lịch) với các hoạt động giải cờ tướng, nấu cơm thi, trò chơi kéo co nam, nữ, hội hầu văn thánh.
Ban Tổ chức đang tích cực chuẩn bị cho lễ hội. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh; chú trọng đảm bảo nguồn điện, công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống dịch trong những ngày diễn ra lễ hội; sắp xếp lại hàng quán, không để diễn ra tình trạng lấn chiếm lòng, lề đường để bày bán hàng hóa… quanh khu vực đền Sòng và đền Chín Giếng; đảm bảo an toàn giao thông, trật tự và vệ sinh các tuyến đường lên đèo Ba Dội để rước kiệu diễn ra thuận lợi, an toàn…
Lễ hội là hoạt động văn hóa truyền thống đã có từ lâu đời, phản ánh nhu cầu văn hóa, tinh thần của Nhân dân trên địa bàn. Thông qua việc tổ chức lễ hội nhằm gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, giáo dục tinh thần yêu nước, đoàn kết trong xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước; nâng cao tinh thần, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tầng lớp Nhân dân trong việc bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa các di tích, danh lam, thắng cảnh để tiếp tục đầu tư, khai thác tiềm năng du lịch văn hóa của TX Bỉm Sơn.

(Ngọc Huấn)
Câu 1 [1072821]: Lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội năm 2023 nhằm tưởng nhớ đến nhân vật lịch sử nào?
A, Vua Lê Thánh Tông và Mẫu Liễu Hạnh.
B, Hoàng đế Gia Long và vua Quang Trung – Nguyễn Huệ.
C, Mẫu Liễu Hạnh và vua Quang Trung – Nguyễn Huệ.
D, Vua Lý Thái Tổ và Mẫu Liễu Hạnh.
Thông tin từ đoạn 3 và 4 văn bản:
• “Đền Sòng được biết đến là di tích có tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh nổi tiếng…”
• “Lễ hội cũng là dịp tưởng nhớ vua Quang Trung – Nguyễn Huệ”

Phân tích:
• Đây là hai nhân vật chính được nêu rõ trong nội dung văn bản.
• Mẫu Liễu Hạnh gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Sòng.
• Vua Quang Trung gắn với dấu tích lịch sử tại đèo Ba Dội và cuộc hành quân chống quân Thanh.
Câu trả lời đúng cần kết hợp cả yếu tố tín ngưỡng và lịch sử, nên C là lựa chọn chính xác. Đáp án: C
Câu 2 [1072822]: Vì sao lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội được tổ chức với cả phần lễ và phần hội?
A, Vì đây là hình thức tổ chức lễ hội đã được quy định trong các sự kiện văn hóa truyền thống, đáp ứng nhu cầu tâm linh, tiếp nối truyền thống văn hóa dân tộc.
B, Để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân và hoạt động giải trí, văn hóa của du khách.
C, Vì phần lễ nhấn mạnh yếu tố tâm linh, phần hội hướng tới việc bảo tồn và quảng bá giá trị văn hóa địa phương.
D, Để tạo sự kết hợp giữa nghi thức tín ngưỡng và các hoạt động giao lưu văn hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Thông tin từ đoạn 6:
• “Lễ hội sẽ được tổ chức gồm phần lễ và phần hội với nhiều hoạt động nổi bật…”
• Phần lễ: dâng hương, rước kiệu, tế lễ...
• Phần hội: giải cờ tướng, nấu cơm thi, kéo co, hội hầu văn thánh…

Phân tích:
• Phần lễ thể hiện yếu tố tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu và tưởng nhớ vua Quang Trung.
• Phần hội là không gian vui chơi, giao lưu văn hóa.
Như vậy, việc tổ chức cả hai phần nhằm đáp ứng cả nhu cầu tâm linh và văn hóa – giải trí, đáp án B phù hợp nhất. Đáp án: B
Câu 3 [1072823]: Ví dụ về “lễ rước bóng Thánh Mẫu Liễu Hạnh và kiệu vua Quang Trung” làm rõ đặc điểm nào của lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội?
A, Lễ hội là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa dân gian và sự tôn vinh một nhân vật lịch sử có công lớn với đất nước.
B, Lễ hội chỉ tập trung vào việc tưởng nhớ công lao của vua Quang Trung, các nghi lễ tín ngưỡng chỉ mang tính phụ trợ.
C, Lễ hội chủ yếu là một nghi lễ tín ngưỡng, không có liên hệ với các sự kiện lịch sử hoặc nhân vật lịch sử cụ thể.
D, Lễ hội là một sự kiện hiện đại, được tổ chức để thu hút khách du lịch, hơn là để gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống.
Thông tin từ đoạn 6: “Tổ chức lễ rước bóng Thánh mẫu Liễu Hạnh, kiệu Hoàng đế Quang Trung lên Nhà bia Ba Dội…”
Phân tích:
• Rước bóng Thánh Mẫu thể hiện rõ tín ngưỡng dân gian (thờ Mẫu).
• Rước kiệu Quang Trung phản ánh tinh thần tưởng nhớ, tri ân nhân vật lịch sử.
Đây là điểm giao thoa đặc trưng giữa văn hóa dân gian và lịch sử dân tộc, đáp án A là lựa chọn đầy đủ và chính xác nhất. Đáp án: A
Câu 4 [1072824]: Từ vai trò của Lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội trong việc giữ gìn văn hóa truyền thống, hãy đề xuất những giải pháp cụ thể để các lễ hội truyền thống không bị mai một trước sự phát triển của xã hội hiện đại.
A, Tăng cường các chương trình giáo dục cộng đồng, nâng cao nhận thức về văn hóa và giá trị truyền thống, xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ cụ thể từ chính quyền địa phương để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
B, Tăng cường các chương trình giáo dục cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao nhận thức về ý nghĩa văn hóa và giá trị của lễ hội truyền thống.
C, Tăng cường các chương trình giáo dục cộng đồng, lồng ghép các yếu tố thương mại hiện đại, như hoạt động quảng bá, hội chợ để tăng sức hấp dẫn cho lễ hội truyền thống.
D, Tăng cường các chương trình giáo dục cộng đồng, phối hợp tổ chức các hội thảo khoa học và hoạt động trải nghiệm văn hóa để người tham gia hiểu sâu sắc hơn về di sản văn hóa truyền thống.
Phân tích lựa chọn: Thông tin từ đoạn cuối cùng:
• “Tổ chức lễ hội nhằm gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, giáo dục tinh thần yêu nước…”
• “Nâng cao tinh thần, trách nhiệm của các cấp, ngành… trong việc bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa các di tích…”

Phân tích:
• Giải pháp phù hợp phải đề cập đến giáo dục cộng đồng, vai trò của chính quyền, và bảo tồn di sản.
Đáp án A là lựa chọn duy nhất đầy đủ các yếu tố này, các phương án còn lại hoặc thiếu vai trò chính quyền, hoặc đưa yếu tố thương mại hóa không phù hợp với mục tiêu gìn giữ truyền thống. Đáp án: A
Câu 5 [1072825]: Phương án nào sau đây mô tả đầy đủ và chính xác nhất về các hoạt động đặc sắc trong phần lễ của lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội?
A, Lễ hội không có phần lễ riêng biệt mà chỉ tập trung vào các hoạt động hội như trò chơi dân gian, giải cờ tướng và các hoạt động văn hóa cộng đồng.
B, Phần lễ chỉ tập trung vào nghi thức rước kiệu Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ đền Sòng Sơn đến đền Chín Giếng, rước kiệu vua Quang Trung lên Nhà bia Ba Dội, về đền Chín Giếng
C, Phần lễ chủ yếu diễn ra tại đền Sòng Sơn với nghi thức dâng hương, rước kiệu Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ đền Sòng Sơn đến đền Chín Giếng, rước kiệu vua Quang Trung lên Nhà bia Ba Dội, về đền Chín Giếng
D, Phần lễ bao gồm nhiều nghi thức trang trọng như dâng hương tại đền Sòng Sơn, rước bóng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, rước kiệu Hoàng đế Quang Trung lên Nhà bia Ba Dội, về đền Chín Giếng và thực hiện các nghi thức tế lễ truyền thống.
Thông tin từ đoạn 6:
• “Phần lễ với nghi lễ rước bát hương linh vị, kiệu long đình Thánh mẫu và kiệu Hoàng đế Quang Trung…”
• “Chính lễ tổ chức… với các hoạt động dâng hương, đánh trống khai hội, thực hiện nghi thức tế lễ, biểu diễn chương trình nghệ thuật…”
• “Tổ chức lễ rước bóng Thánh mẫu Liễu Hạnh, kiệu Hoàng đế Quang Trung lên Nhà bia Ba Dội, về đền Chín Giếng và hoàn vị.”

Phân tích:
• Phương án D là phương án duy nhất bao trọn đầy đủ các nghi thức chính trong phần lễ được văn bản nêu cụ thể.
• Các đáp án B và C chỉ liệt kê một phần, thiếu các nghi thức như dâng hương, đánh trống khai hội.
Đáp án A sai hoàn toàn vì nói rằng lễ hội không có phần lễ. Đáp án: D
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I. 2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi 6 - 10
VĂN BẢN 2
Xã hội khuyến khích phẫu thuật thẩm mỹ
Pierre Bourdieu - nhà xã hội học người Pháp, mô tả cơ thể con người bằng từ “vốn cơ thể”. Từ rất lâu trước đây, cơ thể và ngoại hình được rèn luyện tốt không đơn giản chỉ mang ý nghĩa là ngoại hình. Một cơ thể đẹp, một ngoại hình tuyệt vời không chỉ là vốn mà còn là phương tiện quan trọng để đạt được thành công. Giữa các nguồn vốn luôn có sự cạnh tranh. Ngành công nghiệp làm đẹp khổng lồ đang đốt cháy cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các vốn cơ thể. Hiện tại, ngay cả đàn ông cũng nhảy vào cuộc cạnh tranh này. Cứ mười người đàn ông thì có một người trang điểm sắc sảo và số lượng đàn ông bị rối loạn ăn uống do ăn kiêng quá mức đang có xu thế tăng.
Yếu tố quan trọng nhất trong cuộc cạnh tranh tạo ra cơ thể đẹp là chiếc gương. Trước đây, việc đánh giá khuôn mặt của một người được thực hiện bởi người khác. Thế nhưng nhờ có chiếc gương cực kỳ sắc nét được phát minh trong thời hiện đại, con người đã có thể trực tiếp đánh giá ngoại hình của bản thân.
Đối với phụ nữ, gương không chỉ là công cụ hỗ trợ cho việc làm đẹp mà còn là thiết bị kiểm duyệt, kiểm soát. Phụ nữ soi gương không phải để ngắm nhìn ngoại hình xinh đẹp của bản thân. Họ soi gương là để tìm kiếm khuyết điểm trong ngoại hình của bản thân và tự phê phán diện mạo của chính mình. Rất ít phụ nữ hài lòng với diện mạo của bản thân khi soi gương. Gương phản chiếu hình ảnh của bản thân nhưng họ lại đánh giá khắt khe dưới góc nhìn của người khác.
Kể cả khi đứng trước gương, phụ nữ vẫn vô thức so sánh bản thân với người phụ nữ khác, đẩy bản thân vào cuộc cạnh tranh không hồi kết. “Gương kia ngự ở trên tường, thế gian ai đẹp được dường như ta?”
Giống như nhân vật Hoàng hậu trong câu chuyện cổ tích Công chúa Bạch Tuyết, tất cả chúng ta ai ai cũng muốn được đánh giá cao vẻ đẹp của bản thân.
Búp bê Barbie mà chúng ta thường chơi khi còn nhỏ đã cung cấp tiêu chuẩn về cái đẹp dành cho nữ giới. Búp bê Barbie có cơ thể gần như là phi thực tế, nhưng rất nhiều phụ nữ lớn lên với niềm tin đó là cơ thể lý tưởng và lao vào cuộc chiến sắc đẹp khốc liệt. Sắc đẹp là thứ chỉ ít người có và không phải ai cũng có thể duy trì mãi mãi. Thế nhưng xã hội này lại tích cực khuyến khích phụ nữ khao khát và mong muốn mình ngày càng đẹp hơn. Các chương trình truyền hình hay quảng cáo ca ngợi những người phụ nữ xinh đẹp, trẻ trung, mình hạc xương mai và còn coi đó là chuẩn mực cho hành động nữ tính hay một kiểu phát triển bản thân. Cuộc cạnh tranh sắc đẹp là một trong số ít những cuộc cạnh tranh công khai dành cho nữ giới, vậy nên họ có thể cạnh tranh dữ dội, khốc liệt mà không phải chịu sự kìm kẹp của xã hội. Cuộc cạnh tranh về cái đẹp đã lan sang cả thế hệ thanh thiếu niên. Thời gian gần đây, thế hệ 10X cũng trang điểm đậm, sửa đồng phục để lộ cơ thể. Điều đáng ngạc nhiên là sự làm dáng này không nhằm mục đích để nam giới ngắm nhìn. Theo tạp chí Süddeutsche Zeitung của Đức, số học sinh nữ ý thức về nam giới và trang điểm chỉ chiếm khoảng 10%. Điều các học sinh nữ coi trọng không phải là ánh nhìn của nam sinh mà là cuộc cạnh tranh sắc đẹp giữa các bạn đồng trang lứa.
Đặc biệt, càng là những bạn nữ không tự tin về giá trị của bản thân, càng lo sợ bị thua kém trong cuộc cạnh tranh nhan sắc với các bạn khác và có xu hướng bị ám ảnh bởi cơ thể. Giờ đây, cơ thể xinh đẹp đã trở thành lĩnh vực cạnh tranh khốc liệt. Khao khát muốn cơ thể ngày càng mảnh mai, xinh đẹp thúc đẩy nữ giới thay đổi cơ thể bằng cách phẫu thuật và cưỡng ép bản thân ăn kiêng. Một chương trình truyền hình công khai khuyến khích phụ nữ nếu phẫu thuật chỉnh hình có thể sở hữu khuôn mặt như những nghệ sĩ, và những cô gái gầy như người mẫu xuất hiện trên ti vi, đưa ra tiêu chuẩn về cái đẹp. Xung quanh khu vực ga Apgujeong-dong, các thẩm mỹ viện xếp hàng dài như các cửa hàng trong trung tâm thương mại và phụ nữ nhận tư vấn chỉnh hình trong tâm thế thoải mái như đang mua sắm bằng mắt trong trung tâm thương mại. Trong những năm gần đây, thậm chí còn có nhiều bệnh viện khuyến khích hãy phẫu thuật dù phải đi vay tiền và đứng ra làm môi giới vay tiền, điều này đã dẫn đến những tranh cãi xã hội. Nếu giữ bất kỳ người phụ nữ nào đi ngang qua rồi hỏi xem họ có đang ăn kiêng không, phần lớn câu trả lời nhận được đều sẽ là có. Cơ thể bản thân khách quan mà nói trông như thế nào không quan trọng. Ngay cả những phụ nữ người gầy nhẳng cũng vẫn nghĩ là mình béo và bị ám ảnh bởi suy nghĩ phải giảm cân. Vậy nên, cứ năm người thì có một người bị suy dinh dưỡng do ăn kiêng quá mức. Thậm chí, đến cả những phụ nữ có thân hình tuyệt đẹp vẫn bị cuốn vào cơn lốc chỉnh sửa cơ thể. Phải đẹp và gầy đến mức nào phụ nữ mới thấy thỏa mãn? Liệu rằng phải được người khác công nhận nhiều đến mức nào, họ mới dừng ám ảnh này lại?
(Trích Góc khuất của yêu thương, Choi Kwanghyun – Minh Thùy dịch)
Câu 6 [1072826]: Tác giả Pierre Bourdieu sử dụng cụm từ nào để miêu tả cơ thể con người trong bài viết? Cụm từ này có ý nghĩa gì?
A, "Vốn tự nhiên" – Cơ thể là tài nguyên do thiên nhiên ban tặng.
B, "Vốn cơ thể" – Cơ thể không chỉ là phương tiện mà còn là một loại vốn quan trọng để đạt được thành công.
C, "Phương tiện cơ thể" – Cơ thể là công cụ phục vụ cho mục tiêu làm đẹp.
D, "Tiềm năng cơ thể" – Cơ thể mang tính chất tiềm năng để phát triển ngoại hình.
Dẫn chứng từ đoạn 1: “Pierre Bourdieu – nhà xã hội học người Pháp, mô tả cơ thể con người bằng từ “vốn cơ thể”... Một cơ thể đẹp… không chỉ là vốn mà còn là phương tiện quan trọng để đạt được thành công.”
Giải thích chi tiết:
• Cụm từ “vốn cơ thể” phản ánh quan điểm xã hội học rằng ngoại hình là một dạng "tài sản xã hội": giống như tri thức hay tiền bạc, có thể giúp con người cạnh tranh và đạt thành công trong xã hội.
• Không chỉ là vẻ bề ngoài, cơ thể trở thành một công cụ cạnh tranh, là phương tiện để “đầu tư”, được “định giá”, dẫn đến sự bùng nổ công nghiệp làm đẹp.
Các đáp án A, C, D chỉ nói đến "công cụ", "tiềm năng" hay "vốn tự nhiên" không đúng nội dung và sắc thái học thuật mà văn bản đề cập. Đáp án: B
Câu 7 [1072827]: Hình ảnh “búp bê Barbie” được nhắc đến trong văn bản nhằm mục đích gì?
A, Để minh họa cho một hình mẫu lý tưởng về sắc đẹp gần như không thể đạt được trong thực tế, gây áp lực lên nhiều phụ nữ.
B, Để khẳng định rằng tiêu chuẩn sắc đẹp hiện nay là hoàn toàn phù hợp và mang tính phổ quát đối với tất cả phụ nữ.
C, Để cho thấy rằng cuộc cạnh tranh sắc đẹp đều có những tiêu chuẩn nhất định, phù hợp với tiêu chuẩn và mong muốn của đa số phụ nữ trong xã hội
D, Để khuyến khích phụ nữ cố gắng đạt được hình mẫu lý tưởng như mình mong muốn và đó đã trở thành tiêu chuẩn phù hợp với xã hội hiện đại ngày nay.
Dẫn chứng từ đoạn 6: “Búp bê Barbie có cơ thể gần như là phi thực tế, nhưng rất nhiều phụ nữ lớn lên với niềm tin đó là cơ thể lý tưởng và lao vào cuộc chiến sắc đẹp khốc liệt.”
Giải thích chi tiết:
• Hình ảnh Barbie được sử dụng như một hình tượng đại diện cho vẻ đẹp phi thực tế mà xã hội (qua đồ chơi, văn hóa đại chúng) áp đặt lên nữ giới từ khi còn nhỏ.
• Nhiều phụ nữ ngộ nhận rằng vẻ đẹp phi thực tế này là chuẩn mực cần đạt tới, tạo nên áp lực tinh thần và xã hội mạnh mẽ.
Việc dùng Barbie không nhằm khuyến khích mà phản ánh tính áp đặt và phi lý của các tiêu chuẩn sắc đẹp hiện nay. Đáp án: A
Câu 8 [1072828]: Tác giả nhấn mạnh điều gì về sự ám ảnh với việc làm đẹp của phụ nữ hiện đại ngày nay?
A, Phụ nữ hiện đại thường sửa sắc đẹp, làm đẹp bằng các phương tiện để thu hút sự chú ý và thuận tiện, tự tin hơn trong công việc và đó là nhu cầu bình thường ngày nay.
B, Sự ám ảnh này bắt nguồn từ các tiêu chuẩn sắc đẹp phi thực tế, được truyền thông và xã hội lan tỏa mạnh mẽ, gây áp lực lớn lên phụ nữ.
C, Cuộc cạnh tranh sắc đẹp hiện nay là một phương tiện thuận lợi giúp phụ nữ khẳng định giá trị và vị trí của mình trong xã hội, đời sống.
D, Sự ám ảnh với việc làm đẹp chỉ giới hạn ở các quốc gia có nền công nghiệp làm đẹp phát triển và không phổ biến ở các nơi khác.
Dẫn chứng từ đoạn 7 và 8: “Một chương trình truyền hình công khai khuyến khích phụ nữ nếu phẫu thuật chỉnh hình có thể sở hữu khuôn mặt như nghệ sĩ…”; “Ngay cả những phụ nữ có thân hình tuyệt đẹp vẫn bị cuốn vào cơn lốc chỉnh sửa cơ thể…”
Giải thích chi tiết:
• Tác giả nhiều lần nhấn mạnh rằng truyền thông, xã hội và công nghiệp làm đẹp đã lan truyền một hình mẫu lý tưởng là phải gầy, đẹp như nghệ sĩ, khiến phụ nữ tự ti và bị cuốn vào vòng xoáy làm đẹp phi lý.
Dù phụ nữ đã đẹp vẫn tiếp tục làm đẹp vì bị ám ảnh bởi chuẩn mực không thực, đây là bằng chứng rõ cho nhận định trong đáp án B. Đáp án: B
Câu 9 [1072829]: Thông điệp chính của bài viết về xã hội khuyến khích phẫu thuật thẩm mỹ là gì?
A, Sắc đẹp là một giá trị đáng trân trọng, nhưng không nên đánh đổi sức khỏe, phẩm giá và giá trị bản thân để theo đuổi những chuẩn mực phi thực tế.
B, Phẫu thuật thẩm mỹ là một xu hướng tất yếu của xã hội hiện đại, mang lại sự hoàn hảo về ngoại hình cho phụ nữ, cần cân nhắc, xem xét phù hợp để không bị lạm dụng phẫu thuật thẩm mỹ.
C, Phẫu thuật thẩm mỹ là một xu hướng tất yếu của xã hội hiện đại, các tiêu chuẩn sắc đẹp ngày nay đang dần trở nên thực tế và phù hợp hơn với mọi người, đặc biệt trong bối cảnh truyền thông phát triển.
D, Phẫu thuật thẩm mỹ phản ánh sự phát triển tự nhiên của một xã hội tiến bộ, sự ám ảnh về sắc đẹp và hình thức là hiện tượng bình thường, chúng ta cần cân nhắc về phẫu thuật thẩm mỹ để phù hợp với bản thân
Dẫn chứng khái quát từ toàn bộ văn bản, đặc biệt đoạn cuối: “Phải đẹp và gầy đến mức nào phụ nữ mới thấy thỏa mãn? Liệu rằng phải được người khác công nhận nhiều đến mức nào, họ mới dừng ám ảnh này lại?”
“Cứ năm người thì có một người bị suy dinh dưỡng do ăn kiêng quá mức.”

Giải thích chi tiết:
• Văn bản mô tả sự khốc liệt và tiêu cực của việc theo đuổi hình mẫu sắc đẹp mà xã hội dựng lên.
• Tuy không phủ nhận vai trò của sắc đẹp, nhưng tác giả phê phán sự đánh đổi quá mức của phụ nữ về sức khỏe, tinh thần, thậm chí tài chính.
Thông điệp không lên án sắc đẹp, nhưng cảnh báo việc theo đuổi những tiêu chuẩn vô lý mà xã hội dựng nên sẽ gây hậu quả nghiêm trọng. Đáp án: A
Câu 10 [1072830]: Nhận định rằng "xã hội tích cực khuyến khích phụ nữ khao khát sắc đẹp đang gián tiếp tạo ra áp lực vô hình cho họ" phản ánh vấn đề gì trong tư duy xã hội về vẻ đẹp?
A, Khao khát sắc đẹp được cho là một quyết định tự chủ, không chịu tác động từ các tiêu chuẩn hay kỳ vọng xã hội vì vậy việc chịu áp lực vô dình là điều dễ hiểu.
B, Xã hội hiện đại coi trọng vẻ đẹp ngoại hình, đặt ra các tiêu chuẩn sắc đẹp phi thực tế, khiến phụ nữ chịu áp lực nặng nề về việc phải đáp ứng những tiêu chuẩn này.
C, Áp lực xã hội đối với sắc đẹp được coi là động lực chính giúp phụ nữ cố gắng cải thiện bản thân và chứng minh giá trị cá nhân. Bởi vậy khao khát cải thiện sắc đẹp là xu thế tất yếu.
D, Việc khuyến khích sắc đẹp được xã hội coi là hoàn toàn tích cực, không ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý hoặc hành vi của phụ nữ. Bởi vậky, việc áp lực vô hình cũng mang tính tích cực.
Dẫn chứng từ đoạn 5 và 6: “Tất cả chúng ta ai ai cũng muốn được đánh giá cao vẻ đẹp của bản thân…”; “Cuộc cạnh tranh sắc đẹp là một trong số ít những cuộc cạnh tranh công khai dành cho nữ giới…”
“Điều các học sinh nữ coi trọng không phải là ánh nhìn của nam sinh mà là cuộc cạnh tranh sắc đẹp giữa các bạn đồng trang lứa.”

Giải thích chi tiết:
• Tác giả khẳng định xã hội đang tích cực thúc đẩy hình mẫu sắc đẹp, từ đó tạo áp lực vô hình cho phụ nữ là phải gầy, phải đẹp, phải giống người mẫu hoặc nghệ sĩ.
• Áp lực không chỉ đến từ nam giới mà còn đến từ sự cạnh tranh giữa nữ giới với nhau như trong trường học, môi trường làm việc...
Đáp án B là lựa chọn duy nhất phản ánh bản chất hệ thống và tính phi thực tế của các chuẩn mực xã hội, không chỉ là vấn đề cá nhân. Đáp án: B
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1072831]: Roy T. Bennett từng chia sẻ: “Thái độ là một lựa chọn. Hạnh phúc là một lựa chọn. Lạc quan là một lựa chọn. Lòng tốt là một lựa chọn. Cho đi là một lựa chọn. Tôn trọng là một lựa chọn. Bất cứ lựa chọn nào bạn đưa ra đều tạo nên con người bạn. Hãy lựa chọn một cách khôn ngoan.”

Hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải đưa ra những lựa chọn đúng đắn trong cuộc sống.
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Trong hành trình sống, con người luôn phải đứng trước vô vàn ngã rẽ và quyết định. Có những lựa chọn tưởng chừng nhỏ bé, nhưng lại đủ sức định hình nên tính cách, số phận và cả giá trị sống của một con người. Câu nói của Roy T. Bennett: “Thái độ là một lựa chọn. Hạnh phúc là một lựa chọn… Hãy lựa chọn một cách khôn ngoan” gợi mở một chân lý sâu sắc: cuộc đời mỗi người được quyết định không phải bởi hoàn cảnh, mà bởi chính những lựa chọn mà ta chủ động đưa ra.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích

▪ “Lựa chọn” là hành động quyết định hướng đi, thái độ hoặc cách ứng xử trong một tình huống cụ thể.
▪ “Lựa chọn đúng đắn” là chọn những điều phù hợp với đạo lý, lẽ phải, và có lợi cho sự phát triển của bản thân lẫn cộng đồng. → Câu nói của Roy T. Bennett khẳng định rằng mỗi con người được hình thành bởi chính những lựa chọn của mình.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
▪ Cuộc sống và tương lai của mỗi con người, suy cho cùng, đều được dệt nên từ những lựa chọn mà chính ta đưa ra mỗi ngày. Chọn sống tích cực hay tiêu cực, chọn yêu thương hay thù ghét, chọn nỗ lực hay buông xuôi không chỉ quyết định một khoảnh khắc nhất thời mà âm thầm định hình con người ta sẽ trở thành trong tương lai. William James từng khẳng định“Khám phá vĩ đại nhất của thế hệ tôi là con người có thể thay đổi cuộc đời mình bằng cách thay đổi thái độ sống”, một lời nhấn mạnh rằng lựa chọn thái độ chính là lựa chọn số phận..
▪ Những lựa chọn đúng đắn vì thế có vai trò bồi đắp nhân cách và nuôi dưỡng các giá trị sống tốt đẹp. Mỗi quyết định, dù nhỏ bé, đều phản ánh cách con người nhìn nhận thế giới và ứng xử với tha nhân. Chọn lương thiện thay cho gian dối, chọn vị tha thay cho oán hận chính là nền móng của một nhân cách bền vững, như Aristotle từng nói“Chúng ta là kết quả của những gì ta lặp đi lặp lại. Sự xuất sắc không phải là một hành động, mà là một thói quen”.
▪ Lựa chọn đúng còn giúp con người làm chủ đời mình và đứng vững trước nghịch cảnh. Dù hoàn cảnh có khắc nghiệt đến đâu, con người vẫn luôn có quyền lựa chọn cách đối diện. Viktor Frankl cho rằng“Mọi thứ có thể bị lấy đi khỏi con người, trừ một điều: quyền tự do cuối cùng của con người là được lựa chọn thái độ của mình trong bất kì hoàn cảnh nào”. Chính sự lựa chọn niềm tin và nghị lực ấy giúp con người biến khó khăn thành cơ hội trưởng thành.
▪ Trong cuộc sống không ai có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về chính tương lai của chúng ta vì “ta mới là nơi nương tựa của chính ta”. Những lựa chọn sáng suốt là chìa khóa của thành công và hạnh phúc. Trong học tập, công việc hay các mối quan hệ, quyết định đúng thời điểm, đúng giá trị sẽ giúp con người đạt được mục tiêu dài hạn và sống có ý nghĩa hơn. Khi được kết hợp với đam mê và nỗ lực nhiều người còn dễ dàng trở nên thành công, từ đó tạo ra giá trị, cống hiến lớn lao cho cộng đồng, xã hội.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
▪ Steve Jobs lựa chọn theo đuổi đam mê sáng tạo thay vì con đường học vấn truyền thống, để rồi sáng lập Apple một tập đoàn công nghệ làm thay đổi nhân loại.
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
▪ Ngược lại, nhiều người vì thiếu bản lĩnh và nhận thức mà đưa ra những lựa chọn sai lầm. Họ sống ích kỷ, buông thả hoặc chạy theo danh lợi. Những quyết định đó không chỉ khiến họ đánh mất giá trị bản thân mà còn gây tổn hại cho người khác.Tuy nhiên, lựa chọn đúng không phải lúc nào cũng là con đường dễ đi. Nó đòi hỏi dũng khí, lý trí và lòng kiên định để vượt qua cám dỗ, định kiến và áp lực từ đám đông.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
Mỗi cá nhân cần nhận thức rằng mỗi lựa chọn hôm nay đều đang tạo nên con người của ngày mai. Như Roy T. Bennett đã khẳng định “Bất cứ lựa chọn nào bạn đưa ra đều tạo nên con người bạn”, một lời nhắc nhở rằng con người không được định hình bởi những điều lớn lao hiếm hoi, mà bởi chuỗi lựa chọn nhỏ lặp đi lặp lại mỗi ngày. Vì thế, mỗi người cần tập thói quen suy nghĩ thấu đáo trước khi hành động, giữ vững niềm tin vào những giá trị đúng đắn, lựa chọn sống tích cực, lương thiện và có trách nhiệm với bản thân cũng như với xã hội.
Đặc biệt, với người trẻ, việc rèn luyện bản lĩnh lựa chọn lại càng quan trọng trong một thế giới đầy áp lực và cám dỗ. Socrates từng nói “Một cuộc đời không được suy xét thì không đáng sống”, nhấn mạnh rằng sống đúng không phải là sống theo số đông, mà là sống có ý thức và tự vấn. Bởi vậy, người trẻ cần học cách làm chủ lựa chọn của mình, dám từ chối những lối đi dễ dãi, kiên định theo đuổi con đường đúng đắn để phát triển năng lực, khẳng định giá trị riêng và từng bước xây dựng một cuộc đời có ý nghĩa.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Câu nói của Roy T. Bennett là lời nhắc nhở thấm thía về quyền và trách nhiệm trong từng lựa chọn của con người. Cuộc đời là tập hợp của vô số ngã rẽ, và chính những lựa chọn sáng suốt, nhân văn, tích cực sẽ dẫn con người đến hạnh phúc và thành công thật sự. Vì vậy, hãy luôn “lựa chọn một cách khôn ngoan” để mỗi ngày sống đều trở thành một hành trình ý nghĩa.
Viết đoạn văn tham khảo:
Trong hành trình sống, con người luôn phải đối diện với vô vàn ngã rẽ và bắt buộc chúng ta phải tự đưa ra quyết định quyết định cho cuộc đời mình. Bởi vậy, lời nhắc nhở của Roy T. Bennett: “Thái độ là một lựa chọn. Hạnh phúc là một lựa chọn… Hãy lựa chọn một cách khôn ngoan.” gợi mở chân lý rằng cuộc đời không được quyết định bởi hoàn cảnh, mà bởi chính những lựa chọn chúng ta chủ động tạo ra mỗi ngày. “Lựa chọn” là quyết định ta sẽ sống thế nào, ứng xử ra sao trong một tình huống cụ thể. Và “lựa chọn đúng đắn” chính là chọn điều phù hợp với đạo lí, lẽ phải, góp phần xây dựng bản thân và cộng đồng theo hướng tốt đẹp. Ý kiến nhấn mạnh rằng con người trước hết là kết quả của những lựa chọn mà chính họ đã đưa ra. Như Aristotle từng khẳng định: “Chúng ta là những gì chúng ta thường xuyên làm; vì thế, xuất sắc không phải là hành động, mà là thói quen.” Mỗi lựa chọn, dù nhỏ, đều âm thầm góp phần tạo nên thói quen, tính cách và cả tương lai cho mỗi người. Cuộc sống và tương lai luôn nằm trong tay chúng ta, chọn tích cực hay tiêu cực, chọn yêu thương hay thù ghét, chọn cố gắng hay buông xuôi… phải chăng chính những lựa chọn ấy quyết định ta trở thành ai? Lựa chọn đúng đắn giúp định hình nhân cách, nuôi dưỡng phẩm chất và giá trị sống tốt đẹp. Một lần chọn sự tử tế thay vì dối trá, một lần chọn vị tha thay vì oán hận, chẳng phải đã là bước tiến nhỏ nhưng bền vững hướng về một con người tốt đẹp hơn sao? Lựa chọn còn là cách ta làm chủ cuộc đời mình, hoàn cảnh có thể khắc nghiệt, nhưng ta vẫn có quyền chọn thái độ đối diện với nó. Như Viktor Frankl từng viết: “Điều cuối cùng không ai có thể tước đi: quyền lựa chọn thái độ của ta trong mọi hoàn cảnh.” Người biết chọn niềm tin và nghị lực sẽ biến thử thách thành cơ hội trưởng thành. Những lựa chọn sáng suốt trong học tập, công việc hay các mối quan hệ giúp ta đạt mục tiêu dài hạn và sống có ý nghĩa hơn; khi kết hợp với đam mê và nỗ lực, chúng có thể tạo nên những đóng góp lớn lao cho cộng đồng. Thực tế cho thấy, chỉ một lựa chọn đúng đắn cũng có thể mở ra một chân trời hoàn toàn mới cho cuộc đời. Có những quyết định thoạt nhìn nhỏ bé, thậm chí liều lĩnh, nhưng lại trở thành điểm rẽ thay đổi cả dòng chảy của lịch sử. Steve Jobs thay vì đi theo con đường học vấn truyền thống, ông lựa chọn dấn thân vào đam mê sáng tạo, để rồi sáng lập Apple trở thành một tập đoàn công nghệ định hình lại cách con người sống, làm việc và kết nối. Một quyết định tưởng như đầy mạo hiểm lại trở thành bước ngoặt đưa cả thế giới sang một kỉ nguyên mới. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ bản lĩnh và tỉnh táo để đưa ra những lựa chọn đúng đắn. Một bộ phận vì thiếu nhận thức mà chạy theo ích kỉ, buông thả hay danh lợi, để rồi đánh mất chính mình trong vòng xoáy cuộc đời; những quyết định ấy không chỉ hủy hoại giá trị bản thân mà còn gây tổn thương cho người khác. Lựa chọn đúng đắn chưa bao giờ là con đường dễ đi: nó đòi hỏi lí trí để vượt cám dỗ, dũng khí để đi ngược đám đông và sự kiên định để giữ lấy điều đúng. Nhưng chính sự khó khăn ấy mới làm cho mỗi lựa chọn trở nên có ý nghĩa. Bởi vậy, mỗi chúng ta phải hiểu rằng lựa chọn hôm nay đang âm thầm tạo nên con người của ngày mai. Hãy suy nghĩ thấu đáo, giữ niềm tin đúng đắn, chọn sống tích cực, lương thiện và có trách nhiệm với cộng đồng. Người trẻ càng cần rèn bản lĩnh, không bị cuốn theo số đông mà dám chọn con đường đúng để phát triển giá trị riêng. Lời nhắc nhở của Roy T. Bennett vì thế trở nên thấm thía: cuộc đời là vô số ngã rẽ, và chính những lựa chọn sáng suốt, nhân văn, tích cực sẽ đưa ta đến hạnh phúc thật sự. Vì vậy, hãy biết “lựa chọn một cách khôn ngoan” để mỗi ngày sống đều trở thành một hành trình ý nghĩa.
Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
Câu 12 [1072832]: Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích về hình tượng nhân vật người thợ cắt tóc trong đoạn trích sau:
(Lược phần đầu: Nhân vật ông hoạ sĩ được anh lính trẻ giúp đỡ khi đi thực tế sáng tác, anh lính có nguyện vọng nhờ ông vẽ bức kí hoạ chân dung anh và mang về cho gia đình ở Hà Nội để người thân không lo lắng vì bặt tin anh đã lâu. Nhưng khi ra Bắc, bức tranh được mang đi triển lãm các nơi, ông hoạ sĩ đạt được nhiều giải thưởng nên quên mất lời hứa với người lính trẻ. Thời bình trở về, một lần đi cắt tóc, ông vô tình gặp lại người lính xưa nay là anh thợ cắt tóc. Biết hoàn cảnh của anh, ông càng thêm day dứt vì quyết định của mình.)
Đoạn trích sau kể về một lần ông hoạ sĩ đến hiệu cắt tóc của anh chiến sĩ năm xưa.
Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi đang được bàn tay anh dằn ngửa ra. Da mặt tôi cứ dày lên. Tôi nhắm mắt, rồi mở mắt. Mỗi lúc mở mắt, tôi không thể nhìn đi đâu khác cặp mắt anh. Trời ơi, có lẽ tôi ngồi trên ghế cắt tóc ở cái quán này đã một nửa thế kỷ? Chốc nữa, sắp tới, anh sẽ làm gì tôi đây?
- Đồ dối trá, mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã lòa cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm hình tao đã được trưng trên các tạp chí hội họa của khắp các nước. Người ta đã trân trọng ghi tên mày bên dưới, bên cạnh mấy chữ: "Chân dung chiến sĩ giải phóng". Thật là danh tiếng quá!
- Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc nghệ sĩ là phục vụ cả một số đông người, chứ không phải chỉ phục vụ một người! Anh chỉ là một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để cho tôi quên đi, để phục vụ cho cái đích lớn lao hơn. Anh đã thấy đấy, bức "chân dung chiến sĩ giải phóng" đã đóng góp đôi chút vào công việc làm cho thế giới hiểu cuộc kháng chiến của chúng ta thêm!
"A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả... Có quyền lừa dối hả? Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi. Anh cút đi!".
Một bận, đến hai ngày liền tôi không thấy anh thợ của tôi làm việc. Cái quán cắt tóc bỏ vắng hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba vẫn thế. Và lại thấy một người đàn bà ra dọn dẹp, chứ không phải bà cụ già lòa như mọi ngày. Tôi chạy sang. Chiếc ghế cắt tóc không còn nữa. Chỉ còn chiếc gương và mấy cái chai lọ. Người đàn bà hỏi tôi:
- Bác đến cắt tóc?
- Vâng.
- Nhà em mấy hôm nay đang dọn cái chỗ làm mới ở phố ngoài kia. Ngày mai xong. Xin mời bác đến.
Vợ anh có vẻ trạc tuổi gần ba mươi. Một khuôn mặt đàn bà hiền lành. Chị vừa nói vừa bóc tấm tranh của tôi ra. Tôi gợi chuyện.
- Bức tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ?
Người đàn bà hơi đỏ mặt, cuốn tấm tranh lại một cách cẩn thận. Lâu sau mới đáp:
- Anh nhà tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy. Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo.
- Anh ấy nói với chị thế?
- Vâng.
- Hôm trước tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ...
- Là mẹ anh nhà tôi. Thế ra bác là khách quen?
- Vâng. Bà cụ bị tật lâu chưa?
- Thưa đã lâu. Đã chín năm nay.
- Vì sao?
- Bà cụ lòa đi cũng vì anh nhà tôi. Ngày đó bỗng nhiên có tin ra nhà tôi hy sinh. Bà cụ đâm ốm. Anh ấy là con một. Bà cụ nhớ anh ấy, nửa đêm cũng trở dậy đi lang thang. Cứ khóc hoài...
- Bà cụ lòa từ năm nào, chị biết không?
- Từ 69.
- Từ tháng mấy?
- Tôi cũng không nhớ thật rõ, có lẽ khoảng giữa năm.
Tôi ra đến Hà Nội vào đầu tháng ba năm ấy. Nếu tôi là một người tử tế ra thì không khéo bà cụ không bị lòa, không những thế mà tôi còn có thể làm cho bà cụ khỏe ra! Chính tôi đã làm cho bà mẹ anh trở thành mù lòa?
[…] Tôi quyết định phải trở lại cái quán kia. Tôi quyết định phải chường cái mặt mình ra, chứ không được lẩn tránh. Tôi không cho phép tôi chạy trốn. Bà cụ lại ngước mắt lên nhìn tôi như lần trước khuôn mặt đờ đẫn và hoan hỉ:
- Thưa ông đến cắt tóc?
- Vâng ạ!
Anh thợ cắt tóc nghe mẹ lên tiếng mới quay người lại. Tôi vừa kịp nhận ra được từ nơi cặp mắt vẫn còn trẻ của anh chiếu thẳng về phía tôi một cái nhìn ban đầu soi mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt
**DÀN Ý CHI TIẾT
Phân tích hình tượng nhân vật người thợ cắt tóc trong truyện ngắn Bức tranh – Nguyễn Minh Châu**
I. MỞ BÀi
Giới thiệu Nguyễn Minh Châu: cây bút “mở đường tinh anh” của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, người đưa văn xuôi đến những vấn đề đạo đức – nhân sinh sâu sắc.
Giới thiệu truyện Bức tranh: sáng tác sau 1975, thuộc giai đoạn nhà văn quan tâm sâu đến phẩm chất con người, đến sự thức tỉnh lương tri.
Giới thiệu nhân vật người thợ cắt tóc: nguyên là người lính từng được họa sĩ vẽ “chân dung chiến sĩ giải phóng”, nay sống đời thầm lặng; nhân vật trở thành tấm gương phản chiếu lương tâm và sự tự vấn của họa sĩ.
Định hướng vấn đề: phân tích nhân vật người thợ cắt tóc để thấy vẻ đẹp nhân cách – phẩm chất đạo đức – sự bao dung thầm lặng mà mạnh mẽ của con người Việt Nam sau chiến tranh.
II. THÂN BÀI
1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm – hoàn cảnh ra đời
Nguyễn Minh Châu (1930–1989) là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Trước những năm 1980, sáng tác của ông chủ yếu mang khuynh hướng sử thi, lãng mạn, tập trung ngợi ca con người trong chiến tranh; nhưng từ đầu thời kì đổi mới, Nguyễn Minh Châu chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự – nhân bản, đặc biệt quan tâm đến đời sống nội tâm, trách nhiệm cá nhân và sự thức tỉnh lương tri con người sau chiến tranh. Ông không còn đặt nhân vật trong ánh sáng hào quang tập thể mà đưa họ đối diện trực diện với chính mình, với những câu hỏi nhức nhối về đạo đức và nhân cách.
Truyện ngắn Bức tranh (in trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, 1983) là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Tác phẩm không kể một câu chuyện kịch tính bên ngoài, mà xoáy sâu vào bi kịch tinh thần và sự tự vấn lương tâm của con người. Nguyễn Minh Châu khắc họa một hình tượng giàu ý nghĩa nhân văn: con người âm thầm chịu đựng, không kết tội, không biện minh, mà để lương tri người khác tự phán xét.
2. PHÂN TÍCH NHÂN VẬT NGƯỜI THỢ CẮT TÓC
Luận điểm 1: Xuất thân bình dị, người lính trở về đời thường, sống lao động lương thiện và âm thầm
Nhân vật người thợ cắt tóc trong Bức tranh trước hết hiện lên với một xuất thân rất đỗi bình dị: anh vốn là một chiến sĩ giải phóng quân, từng chiến đấu ở chiến trường ác liệt miền Nam “anh bộ đội… hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B” . Sau chiến tranh, anh trở về với đời sống thường nhật, không danh vị, không hào quang, chọn cho mình một nghề lao động giản đơn để mưu sinh. Không gian sống và làm việc của anh được gợi tả bằng những chi tiết rất nhỏ: “chiếc ghế gỗ”, “cái gương và mấy cái chai lọ” , một hiệu cắt tóc nghèo nàn, khiêm tốn nhưng ngăn nắp. Chính sự giản dị đến trần trụi ấy đã khắc họa rõ nét con đường trở về đời thường của một người lính sau chiến tranh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ tồn tại giữa dòng đời.
Đáng chú ý hơn, đằng sau dáng vẻ bình thường ấy là một nghị lực sống bền bỉ. Anh mang trong mình những mất mát sâu sắc của chiến tranh: sự bặt tin khiến mẹ anh “khóc hoài” rồi “lòa đi đã chín năm” , một nỗi đau âm thầm nhưng dai dẳng. Tuy vậy, người lính năm xưa không buông xuôi hay oán trách cuộc đời. Anh chọn cách lao động lương thiện, sống bằng chính đôi tay của mình, giữ cho cuộc sống một nhịp điệu bình thường và tử tế. Nghề cắt tóc một nghề nhỏ bé lại trở thành biểu tượng cho thái độ sống nghiêm túc, đứng đắn, cho khát vọng được hòa nhập, được làm một con người có ích trong đời sống hòa bình. Qua hình tượng người thợ cắt tóc, Nguyễn Minh Châu đã hướng ngòi bút về những con người tưởng như rất đỗi bé nhỏ sau chiến tranh, nhưng lại mang trong mình giá trị nhân cách lớn lao. Đó là những người lính trở về không đòi hỏi ghi công, không tìm vinh quang, chỉ âm thầm sống tử tế giữa đời thường.
Luận điểm 2: Ngoại hình đặc biệt là đôi mắt gợi sự từng trải, chịu đựng và thấu hiểu lẽ đời sâu sắc
Nguyễn Minh Châu không miêu tả người thợ cắt tóc bằng những nét ngoại hình cầu kỳ, mà dồn bút lực vào đôi mắt chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng, trở thành điểm hội tụ của chiều sâu nhân cách. Ngay từ khoảnh khắc đối diện, ánh mắt ấy đã tạo nên sức nặng tâm lý ghê gớm: “Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi…”. Động từ “nhìn xói” gợi cảm giác sắc lạnh, như khoan thẳng vào lương tri người đối diện, khiến nhân vật hoạ sĩ không thể né tránh. Đó không phải ánh nhìn giận dữ bộc phát, mà là ánh nhìn của một con người đã chịu đựng quá nhiều, mang trong mình nỗi đau lặng lẽ nhưng sâu thẳm.
Trong giây phút nhận ra người xưa, ánh mắt ấy trải qua những biến chuyển rất nhanh: “soi mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại” . Sự chuyển động tinh vi ấy cho thấy phía sau vẻ ngoài bình thản là cả một thế giới cảm xúc bị nén chặt: ngạc nhiên vì gặp lại, nghiêm khắc vì ký ức đau đớn ùa về, nhưng tuyệt nhiên không có sự bùng nổ của oán trách. Đáng chú ý hơn cả là sau khoảnh khắc chớp nhoáng ấy, ánh mắt người thợ lại trở về trạng thái quen thuộc: “từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề” . Sự tự chủ ấy cho thấy anh không để cảm xúc cá nhân chi phối hành vi, không để nỗi đau riêng biến thành sự trừng phạt người khác.
Đôi mắt ấy vì thế mang vẻ đẹp của sự từng trải và thấu hiểu lẽ đời. Nó chứa đựng nỗi đau nhưng không cay nghiệt, mang sự nghiêm khắc nhưng không kết án. Chính sự im lặng trong ánh nhìn ấy lại tạo nên sức mạnh đạo đức lớn lao: buộc người đối diện phải tự vấn, phải đối mặt với chính mình. Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã biến đôi mắt nhân vật thành một “tấm gương nhân cách” nơi không cần lời trách móc, không cần phán xét, mà vẫn soi chiếu trọn vẹn phẩm giá, bản lĩnh và lòng vị tha của con người từng đi qua chiến tranh và mất mát.
Luận điểm 3: Tình mẫu tử thiêng liêng, sâu nặng và nỗi đau thầm lặng không bao giờ nguôi trong tâm hồn người thợ cắt tóc
Ẩn sâu trong vẻ điềm đạm, lặng lẽ của người thợ cắt tóc là một tình mẫu tử vô cùng thiêng liêng và sâu sắc, gắn liền với nỗi đau âm thầm mà anh mang theo suốt cuộc đời. Chi tiết anh giấu bức tranh và nói với vợ: “Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy… Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo” không chỉ là một lời giải thích giản dị, mà còn hé mở thế giới nội tâm của nhân vật. Đằng sau cách nói vòng ấy là sự trân trọng ký ức người lính năm xưa, là khát vọng gìn giữ một hình ảnh tốt đẹp để bù đắp cho người mẹ già từng chịu đựng nỗi đau tột cùng vì con.
Bi kịch lớn nhất đời anh không nằm ở chiến tranh, mà nằm ở nỗi đau của người mẹ. Khi nhận tin con “hy sinh”, bà “đâm ốm”, “nửa đêm cũng trở dậy đi lang thang”, “cứ khóc hoài” cho đến khi “lòa đi đã chín năm” . Chuỗi chi tiết ấy không được kể trực tiếp từ miệng người con, mà qua lời người vợ, càng làm cho nỗi đau trở nên thấm thía và xót xa. Điều đáng chú ý là người thợ cắt tóc không một lần nhắc đến nỗi đau ấy trước mặt họa sĩ, không oán trách, không kể lể, không quy kết. Sự im lặng ấy chính là biểu hiện cao nhất của lòng hiếu thảo và nhân cách: anh chọn cách gánh chịu một mình, không biến nỗi đau riêng thành vũ khí để kết tội người khác.
Sau tất cả, người thợ cắt tóc chỉ lặng lẽ sống để bù đắp: chăm sóc mẹ già mù lòa, giữ gìn một nếp sống tử tế, âm thầm chịu đựng những tổn thương không thể gọi tên. Tình yêu dành cho mẹ vì thế không ồn ào, không biểu hiện bằng lời, mà thấm sâu trong từng lựa chọn sống, từng sự nhẫn nhịn và bao dung. Qua hình tượng ấy, Nguyễn Minh Châu đã khắc họa một con người có tâm hồn đầy yêu thương, giàu lòng kính hiếu và đức hi sinh, để từ đó làm nổi bật vẻ đẹp đạo đức lặng lẽ mà bền bỉ của những con người bước ra từ chiến tranh, mang theo những mất mát không thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Luận điểm 4: Tính cách cao thượng, vị tha, sự lặng thầm đầy yêu thương cao cả
Điểm sáng nổi bật trong hình tượng người thợ cắt tóc chính là tính cách cao thượng và lòng vị tha hiếm có, được bộc lộ không bằng lời nói lớn tiếng mà bằng thái độ sống điềm đạm, lặng lẽ. Dù là người trực tiếp gánh chịu hậu quả từ sự thất hứa của họa sĩ khiến mẹ anh “khóc hoài” rồi “lòa đi đã chín năm” nhưng khi gặp lại, anh không hề oán trách hay trả thù. Ngay trong lần đối diện đầu tiên, anh vẫn “đối xử bình thường”, “tận tình cắt tóc” , tuyệt nhiên không dùng một lời cay độc hay xúc phạm. Đặc biệt, câu nói: “Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều cống hiến cho xã hội” mang một khí phách lặng lẽ mà lớn lao: đó là sự bao dung của người hiểu đời, hiểu người, biết phân biệt rạch ròi giữa sai lầm đạo đức và giá trị lao động nghệ thuật.
Không chỉ dừng lại ở sự vị tha trong cảm xúc, người thợ cắt tóc còn thể hiện bản lĩnh đạo đức nghề nghiệp vững vàng. Dù nhận ra người ngồi trước mặt mình chính là nguyên nhân của nỗi đau lớn nhất đời mình, anh vẫn giữ thái độ “từ tốn, điềm đạm” , vẫn nhẹ nhàng “mời bác ngồi” , vẫn làm việc với tất cả sự tận tâm: “Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!” . Ở đây, cảm xúc cá nhân không lấn át trách nhiệm nghề nghiệp; nỗi đau riêng không biến thành sự đối xử bất công. Chính sự tự chủ ấy đã nâng nhân vật lên tầm vóc đạo đức, khiến người đối diện là họa sĩ phải tự thấy “da mặt dày cộm lên” , không phải vì bị kết tội, mà vì bị lương tri soi rọi.
Đáng quý hơn cả là lựa chọn sống âm thầm và tự trọng của người thợ cắt tóc. Anh không tìm cách phơi bày sự thật, không đòi lại công bằng cho bản thân, không cần được minh oan hay vinh danh. Nhà văn nhấn mạnh: “anh vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công việc đã làm” . Sự im lặng ấy không phải cam chịu yếu đuối, mà là thái độ sống đầy bản lĩnh: tin vào sức mạnh của lương tâm con người hơn là lời lên án. Anh để chính cuộc sống, chính nhân cách mình trở thành lời nhắc nhở sâu sắc nhất. Từ đó, hình tượng người thợ cắt tóc hiện lên như một biểu tượng nhân sinh đẹp đẽ: vẻ đẹp của người lính trở về đời thường, không ồn ào, không phô trương, nhưng sáng lấp lánh lòng nhân hậu, vị tha và sự cống hiến thầm lặng. Chính vẻ đẹp ấy đã làm nên chiều sâu tư tưởng của tác phẩm và khẳng định giá trị nhân bản bền vững trong sáng tác Nguyễn Minh Châu.
Luận điểm 5: Phẩm chất đạo đức lớn lao, sự tử tế, nhân hậu, im lặng của người thợ cắt tóc trở thành sức mạnh đánh thức lương tâm người họa sĩ
Ở tầng sâu nhất của hình tượng, người thợ cắt tóc hiện lên như một chuẩn mực đạo đức thầm lặng, bởi anh không lựa chọn cách kết tội hay phán xét người họa sĩ, dù bản thân là người gánh chịu hậu quả đau đớn nhất. Trước những câu hỏi đầy run rẩy và lo sợ của họa sĩ “Anh có trách mắng tôi không?”, “Tôi có phải cút khỏi đây không?” – anh chỉ đáp lại bằng những câu nói ngắn gọn đến khắc nghiệt: “Không.”; “Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm.” Sự từ chối lên án ấy không phải là tha thứ dễ dãi, mà là một sự im lặng có trọng lượng đạo đức, đặt người đối diện trước tòa án của chính lương tri mình.
Chính thái độ bình thản, điềm đạm ấy đã tạo nên “bản án” nặng nề nhất đối với người họa sĩ. Không bị mắng mỏ, không bị sỉ nhục, ông ta lại càng không thể tự bào chữa. Nhà văn đã tinh tế ghi lại phản ứng nội tâm ấy bằng một chi tiết ám ảnh: “Da mặt tôi tự nhiên dày cộm lên.” Đó là cảm giác xấu hổ sâu sắc, cảm giác của một con người bị nhân cách người khác soi chiếu, khiến mọi lý lẽ biện minh đều trở nên trống rỗng. Sự cao thượng của người thợ cắt tóc vì thế không làm nhẹ đi lỗi lầm, mà ngược lại, buộc người họa sĩ phải đối diện trực diện với chính mình. -Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Chỉ trong khoảng mười trang giấy, người viết truyện ngắn phải chỉ cho người đọc cái điều mà anh vừa khám phá, khám phá thấy trong đời sống thường nhật của những người xung quanh mà mười trang giấy ít ỏi kia sẽ mãi mãi sống với người đời nếu cái điều anh vừa đề cập kia là mới mẻ, độc đáo, là những quy luật thiết thực đối với đông đảo con người”. Có thể nói, bằng sự im lặng đầy nhân cách của mình, người thợ cắt tóc đã trở thành ngọn đèn soi chiếu, buộc người nghệ sĩ phải tự thanh lọc và tẩy rửa tâm hồn.
Chính ông đã từng quan niệm:“Nghệ thuật phải vì cuộc đời mà tồn tại. Nghệ thuật đích thực phải là nghệ thuật gắn với cuộc sống, không được tách rời cuộc sống. Nếu tác rời cuộc sống, nó sẽ không có giá trị hoặc là những giá trị giả tạo”. Qua đó, Nguyễn Minh Châu đã nâng hình tượng người thợ cắt tóc lên tầm vóc biểu tượng: hiện thân của lương tri, của nhân cách và lòng bao dung, một sức mạnh đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, có khả năng cảm hóa con người sâu sắc hơn mọi lời kết án. Chính vẻ đẹp ấy đã làm nên giá trị nhân văn cốt lõi của tác phẩm Bức tranh và khẳng định quan niệm nghệ thuật mới mẻ của Nguyễn Minh Châu về con người trong đời sống hậu chiến.
3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng người thợ cắt tóc
Thành công nổi bật của đoạn trích Bức tranh trước hết nằm ở nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật vô cùng tinh tế của Nguyễn Minh Châu. Nhà văn không dùng những lời bình trực tiếp mà để tâm lý nhân vật hiện lên qua những chi tiết nhỏ nhưng giàu sức gợi: ánh mắt, cử chỉ, sự im lặng, những câu trả lời ngắn gọn đến lạnh lùng. Đặc biệt, diễn biến ánh mắt của người thợ cắt tóc được miêu tả như một chuỗi chuyển động nội tâm sâu kín: từ cái nhìn “soi mói, ngạc nhiên”, thoáng “nghiêm mặt”, rồi nhanh chóng trở lại vẻ “từ tốn, điềm đạm, ân cần”. Chỉ trong khoảnh khắc “nhanh như một cái chớp mắt”, người đọc đã cảm nhận được cả một quá trình tự kiềm chế, tự chiến thắng nỗi đau và giận dữ để giữ lấy phẩm giá con người.
Bên cạnh đó, Nguyễn Minh Châu đã lựa chọn cách xây dựng nhân vật qua hành động, đối thoại và đặc biệt là sự im lặng. Người thợ cắt tóc hầu như không kể lể, không giải thích, không kết tội. Những câu trả lời như “Không”, “Anh cứ đến đây”, “Tôi cắt cho anh kỹ lắm” tưởng như vô cảm, nhưng thực chất lại hàm chứa một sức nặng đạo đức lớn lao. Chính sự im lặng ấy đã bộc lộ rõ bản chất nhân vật: một con người từng trải, biết nén đau thương cá nhân để giữ trọn nhân cách. Im lặng ở đây không phải là cam chịu, mà là một thái độ sống cao thượng, để người khác tự đối diện với lương tâm của mình.
Đáng chú ý, nhà văn còn biểu tượng hóa nghề nghiệp của nhân vật. Nghề cắt tóc công việc gắn với những động tác “vuốt ve”, “chăm sóc”, “tận tình” trở thành một ẩn dụ nhân văn sâu sắc cho tấm lòng nhân ái của người thợ. Trong khi người họa sĩ từng dùng nghệ thuật để tìm kiếm danh vọng, thì người thợ cắt tóc lại âm thầm thực hành một thứ “nghệ thuật sống”: làm việc tử tế, sống lặng lẽ, không phô trương, không đòi hỏi đền bù.
Đặc biệt, Nguyễn Minh Châu đã rất thành công khi tạo dựng thế đối lập giàu ý nghĩa nghệ thuật: một bên là người nghệ sĩ nổi tiếng, sống trong hào quang danh vọng; một bên là người thợ cắt tóc bình dị, sống âm thầm giữa đời thường. Chính sự đối lập giữa “hào quang” và “lặng thầm”, giữa danh tiếng và nhân cách, đã làm nổi bật vẻ đẹp đạo đức của người thợ cắt tóc con người không cần ánh sáng bên ngoài, bởi tự thân đã là một nguồn sáng lương tri.
Tất cả những thủ pháp ấy được nâng đỡ bởi giọng văn chiêm nghiệm, giàu chất triết lý, rất tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Minh Châu giai đoạn đổi mới. Nhà văn không kể chuyện để ca ngợi hay kết án, mà để đặt con người vào một tình huống đạo đức, buộc nhân vật và cả người đọc phải suy nghĩ về trách nhiệm, nhân cách và cách sống làm người. Nhờ đó, hình tượng người thợ cắt tóc không chỉ là một nhân vật trong truyện ngắn, mà trở thành một biểu tượng nhân văn sâu sắc về lương tri và sự cao thượng trong đời sống con người.
4. Tổng kết nội dung – nghệ thuật
Về nội dung, hình tượng người thợ cắt tóc hiện lên như một biểu tượng đẹp đẽ của con người Việt Nam sau chiến tranh: lương thiện, khiêm nhường, giàu lòng vị tha và bền bỉ gìn giữ nhân cách giữa đời thường. Anh sống âm thầm, không đòi hỏi sự ghi nhận, nhưng chính sự bao dung và im lặng có chiều sâu đạo đức ấy đã trở thành sức mạnh cảm hóa, buộc người họa sĩ phải đối diện với lương tâm và sửa chữa sai lầm. Nhân vật vì thế không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn gợi lên một chuẩn mực nhân văn về cách làm người.
Về nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã thành công với bút pháp phân tích tâm lý tinh tế, xây dựng nhân vật qua hành động, đối thoại và đặc biệt là sự im lặng giàu ý nghĩa. Thủ pháp tương phản, hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng cùng giọng văn chiêm nghiệm, giàu triết lí nhân bản đã làm nổi bật chiều sâu tư tưởng của tác phẩm, góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đổi mới.
III. KẾT BÀI
Người thợ cắt tóc trong truyện ngắn Bức tranh là một trong những hình tượng đẹp và ám ảnh nhất của văn xuôi Nguyễn Minh Châu thời kì đổi mới. Nhân vật không chỉ đại diện cho người lính trở về sau chiến tranh sống lặng lẽ giữa đời thường, mà còn là biểu tượng của lòng nhân ái, sự bao dung và phẩm giá con người. Qua hình tượng ấy, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc: trong đời sống, chính sự cao thượng và im lặng của những con người tử tế mới là sức mạnh bền bỉ nhất, có khả năng đánh thức lương tri và làm con người biết tự nhìn lại mình.
Bài viết tham khảo:
Nguyễn Minh Châu là cây bút được mệnh danh là “người mở đường tinh anh” của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, nhà văn sớm đưa văn xuôi rời khỏi quỹ đạo minh họa hiện thực để đi sâu khám phá những vấn đề đạo đức, nhân sinh phức tạp của con người. Truyện ngắn Bức tranh, sáng tác sau 1975, tiêu biểu cho giai đoạn Nguyễn Minh Châu đặc biệt quan tâm đến sự thức tỉnh lương tri và phẩm giá con người trong đời sống hậu chiến. Trong tác phẩm ấy, nhân vật người thợ cắt tóc nguyên là người lính từng được họa sĩ vẽ “chân dung chiến sĩ giải phóng”, nay trở về sống đời lao động âm thầm hiện lên như một tấm gương phản chiếu lương tâm, buộc người nghệ sĩ phải tự vấn về trách nhiệm và nhân cách. Phân tích hình tượng người thợ cắt tóc vì thế giúp làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách, phẩm chất đạo đức cao thượng và sự bao dung lặng thầm mà mạnh mẽ của con người Việt Nam sau chiến tranh.
Nguyễn Minh Châu (1930–1989) là một trong những gương mặt tiêu biểu và có vai trò bản lề của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Hành trình sáng tác của ông cho thấy một sự vận động tư tưởng rõ nét và đầy dũng cảm. Trước những năm 1980, Nguyễn Minh Châu chủ yếu viết trong cảm hứng sử thi – lãng mạn, hướng ngòi bút vào việc ngợi ca con người trong chiến tranh, ca ngợi vẻ đẹp tập thể và lí tưởng anh hùng. Nhưng khi chiến tranh lùi xa, nhà văn không bằng lòng với việc tiếp tục tán dương hào quang cũ. Ông tự ý thức về trách nhiệm của người cầm bút trước những vấn đề mới của đời sống và từ đó chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự, nhân bản, đi sâu khám phá đời sống nội tâm con người, những day dứt đạo đức và sự thức tỉnh lương tri sau chiến tranh. Nhân vật trong văn xuôi Nguyễn Minh Châu giai đoạn này không còn đứng trong ánh sáng tập thể mà bị đặt trước chính mình, buộc phải đối diện với những câu hỏi nghiêm khắc về nhân cách, trách nhiệm và giá trị làm người.Truyện ngắn Bức tranh in trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) là một tác phẩm tiêu biểu cho hướng đi ấy. Tác phẩm hầu như không có kịch tính bên ngoài, không xây dựng xung đột dữ dội theo lối thông thường, mà lặng lẽ xoáy sâu vào bi kịch tinh thần của con người, là bi kịch của sự tự vấn và tự phán xét. Trung tâm của đoạn trích là hình tượng người thợ cắt tóc, vốn là một chiến sĩ năm xưa từng giúp đỡ ông họa sĩ trong thời chiến.
Dưới ngòi bút Nguyễn Minh Châu, hình tượng người thợ cắt tóc trong Bức tranh trước hết hiện lên từ một xuất thân rất đỗi bình dị và chân thực: anh từng là một chiến sĩ giải phóng quân, chiến đấu nơi chiến trường miền Nam ác liệt, “hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B” . Chiến tranh khép lại, người lính năm xưa trở về đời thường không mang theo hào quang, huân chương hay khát vọng được tôn vinh, mà lặng lẽ hòa mình vào nhịp sống bình dân của xã hội hậu chiến. Anh chọn cho mình một nghề lao động nhỏ bé – cắt tóc – để mưu sinh, một lựa chọn giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Nguyễn Minh Châu không khắc họa nhân vật bằng những đường nét lớn lao, mà bằng những chi tiết rất nhỏ và rất đời: “chiếc ghế gỗ”, “cái gương và mấy cái chai lọ” , một hiệu cắt tóc nghèo nàn, khiêm tốn nhưng gọn gàng. Chính sự đơn sơ ấy đã làm nổi bật con đường trở về đời thường của người lính sau chiến tranh một con đường không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ tồn tại giữa dòng đời. Ẩn sau dáng vẻ bình dị ấy là một nghị lực sống bền bỉ và âm thầm. Người thợ cắt tóc mang trong mình những mất mát sâu sắc do chiến tranh để lại: sự bặt tin của anh khiến mẹ già “cứ khóc hoài” , để rồi “lòa đi đã chín năm” một nỗi đau kéo dài, âm ỉ, không lời than vãn mà dai dẳng suốt đời người. Nhưng điều đáng trân trọng là anh không để quá khứ đau thương biến thành sự cay cực hay oán trách. Trái lại, anh lựa chọn một cách sống lặng lẽ, lao động lương thiện bằng chính đôi tay của mình, giữ cho cuộc đời một nhịp điệu bình thường và tử tế. Nghề cắt tóc một nghề nhỏ bé trong đời sống xã hội dưới ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã vượt lên ý nghĩa mưu sinh thông thường để trở thành biểu tượng của thái độ sống nghiêm túc, của ý thức tự trọng và khát vọng được làm một con người có ích trong thời bình. Đó là vẻ đẹp của những con người không đòi hỏi sự ghi công, không tìm kiếm vinh quang, chỉ âm thầm sống đúng và sống tử tế. Từ điểm nhìn nhân văn ấy, có thể liên hệ đến quan niệm của Aimatov khi cho rằng nhà văn phải biết khơi dậy ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác và khát vọng bảo vệ những giá trị tốt đẹp. Nhân vật người thợ cắt tóc trong Bức tranh chính là hiện thân sinh động của quan niệm đó. Nguyễn Minh Châu không tìm đến những con người phi thường, mà hướng ngòi bút vào những số phận tưởng như rất nhỏ bé sau chiến tranh, nhưng lại mang trong mình những giá trị nhân cách lớn lao. Từ xuất thân bình dị và đời sống lao động âm thầm, người thợ cắt tóc dần hiện lên như một điểm tựa đạo đức lặng lẽ, để từ đó soi chiếu và đánh thức lương tri của những con người khác, đặc biệt là người nghệ sĩ từng vô tình phản bội lời hứa của chính mình.
M. Gorki từng khẳng định rằng chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn, và trong Bức tranh, Nguyễn Minh Châu đã cho thấy sự tinh luyện bậc thầy khi dồn bút lực khắc họa đôi mắt người thợ cắt tóc như một điểm hội tụ của chiều sâu nhân cách. Ông không miêu tả ngoại hình bằng những nét cầu kỳ hay ước lệ, mà chọn đôi mắt nơi cư trú của ký ức, của đau đớn, của lương tri và sự tự vấn. Ngay khoảnh khắc đối diện đầu tiên, ánh mắt ấy đã tạo nên một sức ép tâm lý nặng nề đối với nhân vật họa sĩ: “Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi” . Động từ “nhìn xói” mang sắc thái sắc lạnh, khoan thẳng, như mũi nhọn xuyên qua mọi lớp che đậy để chạm đến tận cùng lương tri. Đó không phải ánh nhìn của cơn giận bộc phát, mà là ánh nhìn của một con người đã đi qua chiến tranh, mất mát và chịu đựng đến độ nỗi đau lắng sâu, hóa thành sự nghiêm khắc âm thầm. Đáng chú ý hơn là những biến chuyển tinh vi trong ánh mắt khi anh nhận ra người xưa: thoáng soi mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại. Chuỗi chuyển động nhanh và khẽ ấy cho thấy phía sau vẻ bình thản là cả một thế giới cảm xúc phức tạp đang bị kìm nén: có bất ngờ của cuộc gặp, có nghiêm khắc của ký ức đau đớn ùa về, nhưng tuyệt nhiên không có sự bùng nổ oán trách. Như GS Nguyễn Đăng Mạnh từng nhấn mạnh, tình huống truyện là “nước rửa ảnh” làm hiện hình nhân vật; trong khoảnh khắc ấy, đôi mắt người thợ cắt tóc đã hiện lên trọn vẹn một đời chịu đựng, từng trải và tự trọng. Sau chớp mắt ấy, ánh nhìn nhanh chóng trở về trạng thái quen thuộc: từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ đứng đắn và yêu nghề. Sự tự chủ này không phải quên lãng, mà là kết quả của bản lĩnh đạo đức đã được tôi luyện: anh không để cảm xúc cá nhân chi phối hành vi, không biến nỗi đau riêng thành công cụ trừng phạt người khác. Chính sự tiết chế ấy nâng tầm nhân cách, khiến đôi mắt không chỉ “nhìn người” mà nhìn thấu lẽ đời: có đau mà không cay nghiệt, có nghiêm khắc mà không kết án, có ký ức mất mát mà không hằn thù. Sự im lặng toát ra từ ánh nhìn ấy trở thành sức mạnh đạo đức buộc người đối diện phải tự vấn và đối mặt với chính mình. Ở bình diện nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã biến đôi mắt nhân vật thành tấm gương nhân cách: không cần lời trách móc, không cần phán xét, mà vẫn soi chiếu trọn vẹn phẩm giá, bản lĩnh và lòng vị tha của con người đã đi qua chiến tranh và những tổn thương sâu sắc của đời sống.
Ẩn sâu trong dáng vẻ điềm đạm, lặng lẽ của người thợ cắt tóc là một ánh sáng nội tâm bền bỉ – ánh sáng của tình mẫu tử thiêng liêng và của nỗi đau thầm lặng không bao giờ nguôi mà anh mang theo suốt đời. Như Katrina Mayer từng nói: “Sắc đẹp không phải là vẻ bề ngoài. Nó là ánh sáng chiếu rọi từ bên trong”, vẻ đẹp của nhân vật không nằm ở hành động ồn ào hay lời nói bi tráng, mà tỏa ra từ chiều sâu yêu thương và hi sinh. Nguyễn Minh Châu không để người thợ cắt tóc trực tiếp giãi bày nỗi lòng, mà chỉ hé mở thế giới nội tâm ấy qua những chi tiết nhỏ nhưng giàu sức ám ảnh. Khi anh giấu bức tranh và nói với vợ: “Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy… Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo” , đó không chỉ là một lời giải thích giản dị. Ẩn sau cách nói vòng ấy là sự trân trọng ký ức người lính năm xưa, là khát vọng giữ lại một hình ảnh đẹp để bù đắp cho người mẹ già từng chịu đựng nỗi đau không gì bù đắp nổi. Bi kịch lớn nhất đời anh không nằm ở những năm tháng chiến tranh, mà nằm ở nỗi đau của người mẹ. Khi nhận tin con “hy sinh”, bà “đâm ốm”, “nửa đêm cũng trở dậy đi lang thang”, “cứ khóc hoài” cho đến khi “lòa đi đã chín năm” . Đó là nỗi đau của một người mẹ yêu con đến kiệt cùng, khóc cạn nước mắt mà mù lòa đôi mắt – một nỗi đau thầm lặng nhưng khủng khiếp. Số phận ấy gợi nhắc đến hình ảnh người mẹ tảo tần trong thơ ca Việt Nam:
“Bởi mẹ khổ làn da xạm nắng
Cả một đời gánh nặng nuôi con…”

Không chỉ là liên tưởng văn chương, đó còn là tiếng vọng của những người mẹ đã dồn cả đời mình cho con, để rồi khi mất con trong niềm tin đau đớn, chính họ là người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất. Đúng như Becton Brecht từng nói, nhân vật nghệ thuật không phải là bản sao đời sống mà là hình tượng được khắc họa theo ý đồ tư tưởng của nhà văn. Nguyễn Minh Châu không để người con kể về nỗi đau của mẹ mình, mà để nó vang lên qua lời người vợ, một cách kể gián tiếp khiến bi kịch càng lắng sâu, càng ám ảnh, bởi đó là nỗi đau đã được kìm nén đến độ không còn cần than thở.
Điều đáng trân trọng là người thợ cắt tóc không một lần kể lể hay oán trách trước mặt họa sĩ, người từng vô tình gây nên nỗi đau ấy. Sự im lặng của anh chính là biểu hiện cao nhất của lòng hiếu thảo và nhân cách. Anh chọn cách gánh chịu một mình, không biến nỗi đau riêng thành công cụ kết tội người khác. Nếu Nam Cao từng cảnh tỉnh về những kẻ nhân danh nỗi khổ của mình để hành hạ người khác, thì người thợ cắt tóc lại chọn con đường ngược lại: nhẫn nhịn, bao dung và giữ gìn phẩm giá. Như Nguyên Hồng từng bộc bạch: “Những gì tôi viết ra là những gì thương yêu nhất của tôi, những ước mong nhức nhối nhất của tôi”, hình tượng người thợ cắt tóc chính là kết tinh của những điều thương yêu và nhức nhối ấy. Sau tất cả, anh chỉ lặng lẽ sống để bù đắp, chăm sóc người mẹ già mù lòa, giữ gìn một nếp sống tử tế, âm thầm chịu đựng những tổn thương không thể gọi tên. Tình yêu dành cho mẹ không ồn ào, không phô bày bằng lời, mà thấm sâu trong từng lựa chọn sống, từng sự nhẫn nhịn và bao dung.
Trong hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở đi tìm “hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người”, bởi với ông, cái đẹp đích thực không áp đặt từ bên ngoài mà tự bộc lộ qua cách con người sống và ứng xử trước những thử thách đạo đức khắc nghiệt. Ở Bức tranh, vẻ đẹp ấy kết tinh rõ nét nhất trong tính cách cao thượng, lòng vị tha và sự lặng thầm tràn đầy yêu thương của người thợ cắt tóc. Anh là kẻ trực tiếp gánh chịu hậu quả từ sự thất hứa của người họa sĩ một sự lãng quên đã đẩy mẹ anh vào nỗi đau triền miên, khiến bà “cứ khóc hoài” rồi “lòa đi đã chín năm”. Thế nhưng, khi đối diện với người gây nên bi kịch ấy, anh không oán trách, không trả thù, không hề trưng ra nỗi đau của mình như một thứ vũ khí đạo đức. Ngay trong lần gặp lại đầu tiên, anh vẫn “đối xử bình thường”, vẫn “tận tình cắt tóc”, tuyệt nhiên không buông một lời cay độc. Đặc biệt, câu nói “Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều cống hiến cho xã hội” vang lên như một biểu hiện của khí phách lặng lẽ mà lớn lao: sự bao dung của một con người từng trải, biết phân biệt rạch ròi giữa sai lầm đạo đức cá nhân và giá trị lao động nghệ thuật, giữa nỗi đau riêng và trách nhiệm đối với con người khác.
Sekhov từng khẳng định: “Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái đẹp và cái nhân đạo của lòng người” . Nguyễn Minh Châu không chỉ phản ánh đời sống mà còn nâng niu, tôn vinh chính những phẩm chất cao quý ấy. Trong văn chương, lòng bao dung không phải là điều hiếm gặp, nhưng sự bao dung của người thợ cắt tóc trở nên lấp lánh bởi anh đã vượt qua được nỗi đau của chính mình để tha thứ cho người làm tổn thương mình. Điều đó gợi liên tưởng đến sự nhẫn nhịn và nhân hậu của người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa, hay đến ông Miêng trong Lời hứa thời gian của Nguyễn Quang Thiều những con người chọn yêu thương thay vì oán hận, chọn nâng đỡ thay vì hủy hoại. Như Nguyễn Khải từng nói: “Ở đời này, không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để vượt qua những ranh giới ấy”. Người thợ cắt tóc đã vượt qua ranh giới của thù hận và đau khổ để giữ trọn phẩm giá làm người. Không chỉ dừng lại ở sự vị tha trong cảm xúc, anh còn thể hiện bản lĩnh đạo đức nghề nghiệp vững vàng. Dù nhận ra người ngồi trước mặt mình chính là nguyên nhân của bi kịch lớn nhất đời mình, anh vẫn “từ tốn, điềm đạm”, vẫn nhẹ nhàng “mời bác ngồi”, vẫn làm việc với tất cả sự tận tâm: “Tôi cắt cho anh kĩ lắm, anh biết đấy”. Ở đây, cảm xúc cá nhân không lấn át trách nhiệm nghề nghiệp, nỗi đau riêng không biến thành sự đối xử bất công. Chính sự tự chủ ấy đã nâng nhân vật lên một tầm vóc đạo đức cao đẹp, khiến người họa sĩ phải tự thấy “da mặt dày cộm lên” không phải vì bị kết tội, mà vì lương tri bị soi chiếu. Đáng quý hơn cả là lựa chọn sống âm thầm và tự trọng của người thợ cắt tóc: anh không phơi bày sự thật, không đòi lại công bằng cho bản thân, không cần được minh oan hay vinh danh. Nhà văn nhấn mạnh rằng “anh vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công việc đã làm”. Sự im lặng ấy không phải là cam chịu yếu đuối, mà là thái độ sống đầy bản lĩnh, một niềm tin sâu sắc vào sức mạnh của lương tâm con người hơn mọi lời lên án ồn ào. Từ đó, người thợ cắt tóc hiện lên như một biểu tượng nhân sinh đẹp đẽ: vẻ đẹp của người lính trở về đời thường, không ồn ào, không phô trương, nhưng lấp lánh lòng nhân hậu, vị tha và sự cống hiến thầm lặng. Chính vẻ đẹp ấy làm nên chiều sâu tư tưởng của tác phẩm và khẳng định giá trị nhân bản bền vững trong sáng tác Nguyễn Minh Châu. Như Aimatov từng nhấn mạnh, nhà văn phải biết “khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác và khát vọng khôi phục, bảo vệ những điều tốt đẹp”.
Nhà văn Liên Xô Solokhov từng khẳng định: “Tôi muốn tác phẩm của tôi giúp mọi người trở nên tốt, có tâm hồn thuần khiết…”, và ở tầng sâu nhất của Bức tranh, hình tượng người thợ cắt tóc hiện lên đúng trong tinh thần ấy như một chuẩn mực đạo đức thầm lặng. Anh không lựa chọn cách kết tội hay phán xét người họa sĩ, dù chính mình là kẻ gánh chịu hậu quả đau đớn nhất từ sự thất hứa năm xưa. Trước những câu hỏi đầy hoảng sợ và tự vệ của người họa sĩ: “Anh có trách mắng tôi không?”, “Tôi có phải cút khỏi đây không?” , anh chỉ đáp lại bằng những câu nói ngắn gọn, dứt khoát mà hàm chứa sức nặng đạo đức ghê gớm: “Không.”, “Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kĩ lắm.” Đó không phải là sự tha thứ dễ dãi, mà là sự im lặng có trọng lượng, một cách ứng xử đặt con người trước tòa án nghiêm khắc nhất, tòa án của chính lương tri mình. Chính thái độ bình thản, điềm đạm và không lên án ấy đã trở thành bản án nặng nề nhất đối với người họa sĩ. Không bị mắng mỏ, không bị sỉ nhục, ông ta càng không còn chỗ dựa để tự bào chữa. Nguyễn Minh Châu tinh tế ghi lại phản ứng nội tâm ấy bằng chi tiết ám ảnh: “Da mặt tôi tự nhiên dày cộm lên” – cảm giác xấu hổ sâu sắc của một con người khi bị nhân cách người khác soi chiếu, khiến mọi lí lẽ biện minh trở nên trống rỗng. Sự cao thượng của người thợ cắt tóc vì thế không làm nhẹ đi lỗi lầm, mà buộc người đối diện phải tự vấn đau đớn về giới hạn đạo đức mà mình đã vượt qua. Nguyễn Minh Châu từng cho rằng, truyện ngắn phải giúp người đọc nhận ra những quy luật thiết thực của đời sống thường nhật, và trong Bức tranh, điều ông khám phá chính là sức mạnh đạo đức của sự im lặng, của nhân cách biết tự trọng và tin vào khả năng thức tỉnh của con người. Không phải những lời buộc tội ồn ào, mà chính sự lặng thầm ấy đã trở thành động lực tinh thần giúp người họa sĩ hoàn thành tác phẩm cuối cùng – bức tranh về “cái mặt người rất lớn… đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm”. Bức tranh ấy không còn là chân dung của một người lính cụ thể, mà đã hóa thành chân dung của lương tri, của sự tự vấn cần thiết trong đời sống hậu chiến. Văn học là nhân học, như M. Gorki từng khẳng định, và dưới ngòi bút Nguyễn Minh Châu, người thợ cắt tóc bằng nhân cách và sự im lặng của mình đã trở thành ngọn đèn soi chiếu, buộc con người phải tự thanh lọc tâm hồn. Chính từ quan niệm “nghệ thuật phải vì cuộc đời mà tồn tại”, nhà văn đã nâng hình tượng ấy lên tầm biểu tượng: biểu tượng của lòng bao dung, của nhân cách và lương tri một sức mạnh đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, có khả năng cảm hóa con người sâu sắc hơn mọi lời kết án. Như Ai-ma-top từng nói, “Tác phẩm chân chính không bao giờ kết thúc ở cuối trang”; và khi trang sách khép lại, hình tượng người thợ cắt tóc vẫn tiếp tục sống trong lòng người đọc như một lời nhắc nhở lặng lẽ mà nghiêm khắc về trách nhiệm đạo đức của con người đối với con người và về vẻ đẹp nhân văn sâu thẳm trong văn chương Nguyễn Minh Châu.
Thành công nổi bật của đoạn trích Bức tranh trước hết nằm ở nghệ thuật xây dựng hình tượng người thợ cắt tóc bằng bút pháp phân tích tâm lí tinh tế và giàu chiều sâu nhân văn của Nguyễn Minh Châu.
Là nhà văn luôn ý thức rằng văn học không chỉ phản ánh đời sống mà còn là cách nhìn đời sống, ông không áp đặt ý nghĩa bằng lời bình trực tiếp, mà để nhân vật tự bộc lộ qua những chi tiết nhỏ nhưng có sức gợi lớn: ánh mắt, cử chỉ, sự im lặng và những câu trả lời ngắn gọn đến lạnh lùng. Như Đốp-giên-cô từng nói: “Hai người cùng nhìn xuống, một người chỉ thấy vũng nước, người kia lại thấy những vì sao”, Nguyễn Minh Châu chính là người nhìn thấy “những vì sao” trong những khoảnh khắc tưởng như rất đời thường ấy. Đặc biệt, diễn biến ánh mắt của người thợ cắt tóc được miêu tả như một chuỗi chuyển động nội tâm tinh vi: từ cái nhìn “soi mói, ngạc nhiên”, thoáng “nghiêm mặt”, rồi nhanh chóng trở về vẻ “từ tốn, điềm đạm, ân cần”, tất cả chỉ diễn ra trong khoảnh khắc “nhanh như một cái chớp mắt”. Nhưng chính khoảnh khắc ngắn ngủi ấy lại đủ để hé lộ cả một quá trình tự kiềm chế, tự vượt thắng nỗi đau và cơn phẫn nộ trong tâm hồn nhân vật, để giữ trọn phẩm giá làm người. Ở đây, miêu tả tâm lí không phải là kể lể dài dòng, mà là chạm tới những rung động sâu kín nhất, nơi con người phải đấu tranh âm thầm với chính mình.
Bên cạnh đó, Nguyễn Minh Châu xây dựng nhân vật chủ yếu qua hành động, đối thoại và đặc biệt là qua sự im lặng. Người thợ cắt tóc hầu như không giải thích, không biện minh, không kết tội. Những câu trả lời như “Không”, “Anh cứ đến đây”, “Tôi cắt cho anh kĩ lắm” thoạt nghe tưởng như vô cảm, nhưng thực chất lại hàm chứa một sức nặng đạo đức lớn lao. Sự im lặng ấy không phải là cam chịu yếu đuối, mà là thái độ sống cao thượng của một con người từng trải, biết nén đau thương cá nhân để người khác phải tự đối diện với lương tâm mình. Đáng chú ý, nghề nghiệp của nhân vật cũng được nhà văn biểu tượng hóa một cách tinh tế. Nghề cắt tóc – công việc gắn với sự chăm sóc, vuốt ve, tận tụy và tỉ mỉ – được nâng lên thành ẩn dụ cho một “nghệ thuật sống”: sống tử tế, lặng lẽ, không phô trương, không đòi hỏi ghi công. Trong khi người họa sĩ từng dùng nghệ thuật như con đường dẫn tới danh vọng, thì người thợ cắt tóc lại âm thầm thực hành nghệ thuật nhân cách giữa đời thường. Cuối cùng, hình tượng người thợ cắt tóc được làm nổi bật nhờ thế đối lập giàu ý nghĩa: một bên là người nghệ sĩ nổi tiếng sống trong hào quang giải thưởng, một bên là người lao động bình dị sống âm thầm giữa đời thường. Chính sự đối lập giữa hào quang và lặng thầm, giữa danh tiếng và nhân cách ấy đã làm sáng lên vẻ đẹp đạo đức của người thợ cắt tóc, con người không cần ánh sáng bên ngoài, bởi tự thân đã là một nguồn sáng lương tri. Tất cả được nâng đỡ bởi giọng văn chiêm nghiệm, giàu chất triết lí, rất tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Minh Châu thời kì đổi mới. Nhà văn không kể chuyện để ca ngợi hay kết án, mà đặt con người vào một tình huống đạo đức, buộc nhân vật và cả người đọc phải suy nghĩ về trách nhiệm, nhân cách và cách sống làm người. Nhờ đó, hình tượng người thợ cắt tóc không chỉ là một nhân vật truyện ngắn, mà trở thành biểu tượng nhân văn sâu sắc về lương tri, sự cao thượng và vẻ đẹp thầm lặng của con người trong đời sống hậu chiến.
Hình tượng người thợ cắt tóc hiện lên như một biểu tượng đẹp đẽ và bền vững của con người Việt Nam sau chiến tranh. Đó là con người lương thiện, khiêm nhường, giàu lòng vị tha và có ý thức gìn giữ nhân cách giữa đời thường nhiều biến động. Anh sống âm thầm, không đòi hỏi sự ghi nhận, không cần được minh oan hay tôn vinh. Nhưng chính sự im lặng đầy chiều sâu đạo đức, chính cách ứng xử bao dung mà nghiêm khắc của anh lại trở thành một sức mạnh cảm hóa lớn lao. Không kết tội, không lên án, anh buộc người họa sĩ phải tự đối diện với lương tâm mình, phải nhìn thẳng vào những ngụy biện từng che đậy sai lầm và từ đó sửa chữa chính mình. Nhân vật vì thế không chỉ mang ý nghĩa cá nhân, mà còn gợi lên một chuẩn mực nhân văn sâu sắc về cách làm người, về phẩm giá và trách nhiệm đạo đức trong đời sống hậu chiến. Về nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã cho thấy một bút pháp phân tích tâm lý đặc biệt tinh tế. Nhân vật được xây dựng không bằng những lời bình trực tiếp, mà chủ yếu qua hành động, đối thoại và nhất là qua sự im lặng giàu ý nghĩa. Thủ pháp tương phản giữa hào quang nghệ thuật và đời sống lặng thầm, giữa danh tiếng và nhân cách, cùng hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng đã góp phần làm nổi bật chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Giọng văn chiêm nghiệm, giàu chất triết lí nhân bản không chỉ dẫn dắt câu chuyện mà còn mở ra những tầng suy nghĩ rộng lớn về con người, về lương tri và về trách nhiệm của nghệ thuật đối với đời sống. Tất cả những yếu tố ấy đã tạo nên dấu ấn phong cách rất riêng của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đổi mới.
Người thợ cắt tóc trong truyện ngắn Bức tranh là một trong những hình tượng đẹp đẽ và ám ảnh nhất của văn xuôi Nguyễn Minh Châu thời kì đổi mới. Nhân vật không chỉ đại diện cho người lính trở về sau chiến tranh, lặng lẽ sống giữa đời thường, mà còn là biểu tượng của lòng nhân ái, sự bao dung và phẩm giá con người. Qua hình tượng ấy, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc. Trong đời sống, không phải những lời phán xét ồn ào hay những bản án nghiêm khắc mới có sức cảm hóa con người, mà chính sự cao thượng và im lặng của những con người tử tế mới là sức mạnh bền bỉ nhất. Đó là sức mạnh có khả năng đánh thức lương tri, buộc con người biết tự nhìn lại mình, để từ đó sống nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn với người khác và với chính bản thân mình.