Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1 Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi 1-5
VĂN BẢN 1
Trong buổi sáng đó, vạn vật đều sống động. Khi chúng ta quan sát, có một niềm vui lớn lao, và bầu trời xanh, vầng dương đang từ từ đi lên trên những quả đồi và tỏa sáng. Khi chúng ta quan sát con chim nhại tiếng hót trên sợi dây điện, nó đang làm những trò vui của nó, nhảy vút lên cao, lộn nhào, rồi lại hạ xuống đúng chỗ cũ trên sợi dây thép. Khi chúng ta quan sát con chim đang tự mình thưởng thức trò vui, nhảy lên trong không khí, rồi lại lao xuống lượn vòng cùng những tiếng kêu rin rít của nó, niềm thích thú được sống của nó, chỉ có con chim kia tồn tại, người quan sát không hề tồn tại. Người quan sát không còn ở đó nữa, chỉ có con chim, bộ lông màu xám khoang trắng với một cái đuôi hơi dài. Sự quan sát đó không hề có bất cứ vận hành nào của tư tưởng, quan sát cảnh huyên náo của con chim đang tự mình vui hưởng.
Chúng ta chưa bao giờ quan sát cái gì lâu. Khi ta quan sát với sự kiên nhẫn lớn lao, quan sát mà không hề có bất cứ cảm giác nào về người quan sát, quan sát những con chim kia, những giọt nước tí hon kia đọng trên những chiếc lá rung rinh, bầy ong, những bông hoa, những đàn kiến dài, khi ấy thời gian ngừng lại, thời gian có một điểm dừng. Ta không bỏ thời gian ra, hoặc có sự kiên nhẫn để quan sát. Ta học được rất nhiều từ việc quan sát – quan sát mọi người, cách họ đi đứng, nói năng, cử chỉ. Bạn có thể nhìn thấu tính phù phiếm của họ, hay sự cẩu thả nơi thân xác họ. Họ thờ ơ, chai lỳ, nhẫn tâm.
Có một con chim đại bàng đang bay trên cao, lượn vòng không hề đập cánh, dòng không khí mang nó đi xa, ra phía sau những ngọn đồi, rồi mất hút. Quan sát, học hành là thế nào? Học hành có nghĩa là thời gian, nhưng quan sát không hề có thời gian. Hay là khi bạn lắng nghe, lắng nghe mà không cần có bất cứ sự phiên dịch giải nghĩa nào, bất cứ phản ứng nào, lắng nghe không thiên kiến. Lắng nghe tiếng sấm trên các tầng trời, tiếng sấm lượn vòng giữa các quả đồi. Chúng ta không bao giờ lắng nghe một cách hoàn toàn, luôn luôn bị ngắt quãng. Quan sát và lắng nghe là một nghệ thuật vĩ đại – quan sát và lắng nghe mà không phản ứng, không có ý thức cảm giác nào về người lắng nghe và người quan sát. Bằng việc quan sát và lắng nghe, ta học được nhiều hơn vô lượng so với bất cứ cuốn sách nào. Sách vở là cần thiết, nhưng quan sát và lắng nghe mài sắc các giác quan của bạn. Bởi lẽ xét cho cùng, bộ não là trung tâm của tất cả các phản ứng, các tư tưởng và những điều được ghi nhớ. Nếu các giác quan của bạn không tỉnh thức cao độ, bạn không thể thực sự quan sát, lắng nghe và cả học nữa, không chỉ học cách hành động ra sao mà còn học về chính sự học, đấy chính là mảnh đất cho hạt giống thiện có thể phát triển.
Khi nào có sự quan sát và lắng nghe giản dị rõ ràng này, khi ấy có một sự tỉnh thức – tỉnh thức về màu sắc của những bông hoa kia, đỏ, vàng, trắng, về những chiếc lá xuân, những thân cây, thật dịu dàng, thật thanh tú, tỉnh thức về bầu trời, về trái đất và những con người đang qua lại. Họ vẫn đang trò chuyện huyên thuyên dọc theo con đường, không khi nào nhìn ngắm cây cối, những bông hoa, bầu trời và những quả đồi kỳ vĩ. Thậm chí họ còn không biết cả những gì đang diễn ra quanh họ nữa. Họ nói rất nhiều về môi trường, chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ thiên nhiên… nhưng dường như họ không biết đến vẻ đẹp và sự tĩnh lặng của những quả đồi, sự nghiêm trang của một cội cổ thụ kỳ vĩ. Thậm chí họ còn không biết về những tư tưởng của chính họ, những phản ứng của chính họ, cũng như họ không biết về cách họ đi lại, về áo quần của họ. Việc ấy không có nghĩa rằng họ phải là trung tâm tự kỷ trong sự quan sát của họ, trong sự tỉnh thức của họ, mà chỉ là sự tỉnh thức, thế thôi.
...
Khi ta chú tâm vào tất cả, tỉnh thức không chọn lựa, khi ấy trí tuệ sẽ từ đó xuất hiện. Trí tuệ không phải là một hành động của trí nhớ, của sự liên tục nơi ký ức. Trí tuệ như một lóe sáng của ánh sáng. Bạn nhìn với sự trong sáng tuyệt đối tất cả những phức tạp, những hậu quả, những rắc rối hỗn loạn. Khi ấy, chính cái này là hành động, là toàn vẹn. Trong cái nhìn ấy, không hề có nuối tiếc, không ngoái lại, không có cảm giác bị đè nặng mệt nhọc, không phân biệt. Đây là cái nhìn rõ ràng, tinh khiết – một nhận thức mà không hề có bóng tối của hoài nghi nào.
Trích “Trò Chuyện Với Hiện Thể - Thứ Tư, Ngày 20 Tháng 4, 1983”
Người dịch: Hàn Thủy Giang
Câu 1 [1072833]: Tác giả cho rằng "sự tỉnh thức" mang lại điều gì cho con người?
A, Khả năng nhận thức rõ ràng và chính xác, không bị chi phối bởi cảm xúc tiêu cực hay hoài nghi, từ đó đạt được trí tuệ sâu sắc và hành động toàn vẹn mà không hối tiếc hay phân biệt.
B, Khả năng nhận thức rõ ràng và chính xác, tồn tại một trạng thái thoải mái về mặt tinh thần, giúp con người dễ dàng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
C, Khả năng nhận thức rõ ràng và chính xác, đạt được sự giải thoát khỏi tất cả các trách nhiệm trong cuộc sống, để theo đuổi một cuộc sống nhẹ nhàng và không áp lực.
D, Khả năng nhận thức rõ ràng và chính xác, đạt được trạng thái tự do hoàn toàn, không cần chú ý đến những vấn đề phức tạp hay những quyết định quan trọng trong cuộc sống.
Giải thích: Câu trả lời nằm trong đoạn cuối văn bản: “Khi ta chú tâm vào tất cả, tỉnh thức không chọn lựa, khi ấy trí tuệ sẽ từ đó xuất hiện... Trí tuệ như một lóe sáng... không nuối tiếc, không ngoái lại, không có cảm giác bị đè nặng mệt nhọc, không phân biệt... một nhận thức mà không hề có bóng tối của hoài nghi nào.”
Suy luận:
• "Sự tỉnh thức" giúp con người tiếp cận thế giới bằng nhận thức trong sáng, không có thiên kiến hay hoài nghi từ đó xuất hiện "trí tuệ" đích thực và "hành động toàn vẹn".
• Các phương án B, C, D làm lệch bản chất tỉnh thức vì đưa vào "giải thoát trách nhiệm" hay "thoát ly thực tại", không đúng với tinh thần của văn bản. Đáp án: A
Câu 2 [1072834]: Văn bản viết: " Họ nói rất nhiều về môi trường, chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ thiên nhiên… nhưng dường như họ không biết đến vẻ đẹp và sự tĩnh lặng của những quả đồi, sự nghiêm trang của một cội cổ thụ kỳ vĩ." Nhận định này phản ánh điều gì?
A, Con người thường tập trung vào các vấn đề lớn như bảo vệ môi trường, nhưng lại không chú ý và cảm nhận được vẻ đẹp giản dị, tĩnh lặng trong cuộc sống hàng ngày.
B, Việc bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu và cần được thực hiện, thậm chí có thể bỏ qua việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp giản dị, tĩnh lặng của thiên nhiên.
C, Việc bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu và cần được thực hiện, thậm chí có thể bỏ qua việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp giản dị, tĩnh lặng của thiên nhiên.
D, Mục tiêu bảo vệ môi trường nên được tách biệt khỏi việc chiêm ngưỡng cảnh quan và sự tĩnh lặng thiên nhiên, vì hai điều này không liên quan.
Giải thích: Câu gốc trích từ đoạn giữa văn bản: “Họ nói rất nhiều về môi trường... nhưng dường như họ không biết đến vẻ đẹp và sự tĩnh lặng của những quả đồi... Thậm chí họ còn không biết... những tư tưởng của chính họ…”
Suy luận:
• Văn bản phê phán sự mâu thuẫn: nói nhiều về “bảo vệ môi trường” nhưng lại “không biết đến vẻ đẹp và sự tĩnh lặng” quanh mình.
• Tác giả không phủ nhận giá trị của bảo vệ môi trường mà muốn nhấn mạnh: cần có cảm xúc và sự tỉnh thức với thiên nhiên chứ không chỉ nói suông. Đáp án: A
Câu 3 [1072835]: Nhận định nào KHÔNG đúng với ý nghĩa của "trí tuệ" được tác giả đề cập ở cuối văn bản?
A, Trí tuệ xuất hiện như một tia sáng đột ngột, giúp con người nhận thức rõ ràng và toàn diện về những phức tạp trong cuộc sống.
B, Trí tuệ được hình thành từ quá trình tích lũy ký ức và kiến thức qua thời gian dài.
C, Trí tuệ là khả năng hành động toàn vẹn, không chịu ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực hay sự hoài nghi.
D, Trí tuệ đòi hỏi sự quan sát và lắng nghe chân thật, không thiên kiến, để thấu hiểu bản chất của vấn đề.
Giải thích: Đoạn cuối văn bản nêu rõ: “Trí tuệ không phải là một hành động của trí nhớ, của sự liên tục nơi ký ức. Trí tuệ như một lóe sáng của ánh sáng…”
Suy luận:
• Trái ngược với phương án B: Trí tuệ không đến từ "tích lũy" hay "ký ức" mà đến từ "sự tỉnh thức", "quan sát – lắng nghe" không thiên kiến.
• Các phương án A, C, D đều khớp với mô tả trong đoạn cuối. Đáp án: B
Câu 4 [1072836]: Văn bản viết: "Bằng việc quan sát và lắng nghe, ta học được nhiều hơn vô lượng so với bất cứ cuốn sách nào." Câu nói này nhấn mạnh điều gì về quá trình học hỏi?
A, Sách vở là nguồn kiến thức quan trọng, nhưng không thể thay thế những bài học từ sự quan sát và lắng nghe thực tế.
B, Quan sát và lắng nghe trong thực tế mang lại những bài học sâu sắc hơn, giúp con người thấu hiểu bản chất cuộc sống nhiều hơn kiến thức nằm trong sách vở.
C, Học từ sách vở thường giới hạn hơn so với những kinh nghiệm thực tế mà con người trải qua qua quan sát và lắng nghe tỉ mỉ từ cuộc sống.
D, Chỉ những người có khả năng quan sát và lắng nghe tốt mới có thể tiếp cận và học hỏi kiến thức thực tế nhiều hơn so với kiến thức sách vở.
Giải thích: Trích dẫn ở giữa văn bản: “Bằng việc quan sát và lắng nghe, ta học được nhiều hơn vô lượng so với bất cứ cuốn sách nào... Quan sát và lắng nghe mài sắc các giác quan của bạn…”
Suy luận:
• Tác giả không phủ nhận sách vở, mà khẳng định giá trị sâu sắc và thực tiễn hơn từ trải nghiệm thực tế qua giác quan và sự tỉnh thức.
• So với phương án C (cũng đúng phần nào), phương án B đầy đủ và khái quát hơn. Đáp án: B
Câu 5 [1072837]: Theo tác giả: "Trí tuệ như một lóe sáng của ánh sáng." Làm thế nào để bạn tạo điều kiện cho trí tuệ này xuất hiện trong cuộc sống?
A, Rèn luyện tư duy thông qua việc quan sát thực tế và lắng nghe ý kiến của người khác một cách khách quan, không bị chi phối bởi thiên kiến hay định kiến.
B, Rèn luyện tư duy thông qua việc quan sát thực tế, tập trung học hỏi từ sách vở kết hợp với quan sát thực tế để tích lũy kiến thức, từ đó áp dụng vào việc đưa ra các quyết định trong cuộc sống.
C, Rèn luyện tư duy thông qua việc quan sát thực tế kết hợp với việc đưa ra các quyết định nhanh chóng để chớp cơ hội trong cuộc sống.
D, Rèn luyện tư duy thông qua việc quan sát thực tế, tránh tiếp xúc và đối mặt với các tình huống khó khăn để bảo toàn trạng thái bình an, tĩnh lặng trong tâm trí.
Giải thích:
• Dẫn chứng ở nhiều đoạn, nhất là phần gần cuối: “Quan sát và lắng nghe là một nghệ thuật vĩ đại... không phản ứng, không có ý thức cảm giác nào về người lắng nghe và người quan sát...” “Trí tuệ không phải là hành động của trí nhớ... Trí tuệ như một lóe sáng...”
Suy luận:
• Quan sát – lắng nghe không thiên kiến là tiền đề của trí tuệ → đòi hỏi sự rèn luyện và trung tính trong tư duy.
• Phương án B sai ở chỗ đề cao vai trò “tích lũy sách vở” đi ngược với quan điểm văn bản.
• Phương án D sai vì “tránh tiếp xúc tình huống khó” mâu thuẫn với “tỉnh thức không chọn lựa”. Đáp án: A
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I. 2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi 6 - 10
AI – Giải pháp mới chống biến đổi khí hậu
Với nhiều khả năng vượt trội, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra một cơ hội mới cho loài người trong công tác ứng phó và giảm thiểu hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra.
Công cụ hiệu quả
Trong bối cảnh thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu, AI lần đầu tiên được nhấn mạnh là một trong những giải pháp quan trọng và đầy tiềm năng để giải quyết các vấn đề khí hậu tại Hội nghị thượng đỉnh COP28 về biến đổi khí hậu vào tháng 11 – 2023. Báo cáo về AI xuất bản vào tháng 11 – 2023 của Boston Consulting Group (BCG) cho thấy thông qua việc tăng cường các ứng dụng và công nghệ đã được chứng minh là hiệu quả, công nghệ này có thể giúp giảm thiểu 5-10% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu vào năm 2030 – tương đương với tổng lượng khí thải hằng năm của Liên minh châu Âu.
Trong lĩnh vực dự báo và phòng ngừa thiên tai, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) cho biết các công nghệ dựa trên AI mang lại những khả năng chưa từng có trước đây cho việc xử lý lượng dữ liệu khổng lồ, trích xuất các thông tin có ích và cải thiện các mô hình dự đoán.
Theo báo Indian Express, tại COP28, Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) và Tập đoàn máy tính IBM đã giới thiệu công cụ AI watsonx.ai. Công cụ này cho phép người dùng giám sát Trái đất từ không gian, đo lường những thay đổi môi trường đang xảy ra và đưa ra dự báo. Với kho dữ liệu từ NASA và công nghệ AI của IBM, watsonx.ai giúp các nhà khoa học ước tính mức độ kể cả trong quá khứ và tương lai của cháy rừng, lũ lụt cũng như nhiệt độ tại các đô thị. […]
Đối với ngành vận tải, AI mang lại lợi ích khi giảm thiểu mức năng lượng cần tiêu thụ thông qua việc định hướng và xác định các tuyến đường tối ưu nhất.
Trong nông nghiệp, AI giúp tiết kiệm đáng kể lượng nước ngọt bị lãng phí khi nông dân nhờ ứng dụng công nghệ này có thể tối ưu hóa việc tưới tiêu cho cây trồng, việc thu hoạch cũng mang lại năng suất cao hơn. Ở Ấn Độ, với sự hỗ trợ của AI, vụ đậu phộng của nông dân đã tăng 30% năng suất.
Chính sách rất quan trọng
[…] Trọng tâm của “buổi đầu của công nghệ AI” hiện nay nằm trong tay của các nhà hoạch định chính sách. Trong thời gian gần đây, các nhà lập pháp ở Mỹ và nhiều quốc gia khác đang nỗ lực xây dựng các quy định cho việc phát triển AI an toàn. […] Cụ thể là các chính sách phải cho phép sự đổi mới và ứng dụng AI trong lĩnh vực khí hậu. […] Các nguồn lực cho công tác này cũng cần được phân bổ hiệu quả, cần xác định các lĩnh vực ưu tiên mà công nghệ AI có thể thúc đẩy hành động và mang lại hiệu quả ngay lập tức. Các nhà hoạch định chính sách cũng cần thúc đẩy việc ứng dụng AI cho công tác giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đối với các ngành công nghiệp có mức phát thải cao như hàng không, sản xuất, sản xuất điện năng, xây dựng…
Mặc dù vậy, hệ thống AI cần nhiều năng lượng hơn các hình thức tính toán khác nên nhu cầu năng lượng tăng thêm. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 10 – 2023 ước tính ngành công nghiệp AI tính đến năm 2027 có thể tiêu thụ lượng điện tương đương với nhu cầu của một quốc gia có quy mô như Hà Lan. Dưới điều kiện đó, chính sách cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo việc sử dụng năng lượng không phát thải để vận hành các tài nguyên cho việc phát triển AI.
Ngoài ra, nhiều chuyên gia công nghệ cũng lưu ý việc công nghệ AI phải được cung cấp với giá cả phải chăng và dễ tiếp cận đối với các quốc gia có thu nhập thấp, đặc biệt là các nước ở nhóm Global South, đang phải đối diện trực tiếp với khủng hoảng biến đổi khí hậu.
(Trích theo Nghi Vũ, https://tuoitre.vn, ngày 25/12/2023)
Câu 6 [1072838]: Công cụ AI watsonx.ai của NASA và IBM được giới thiệu tại COP28 có vai trò gì?
A, Giám sát Trái đất từ không gian và đo lường các thay đổi môi trường.
B, Dự báo chính xác tình hình cháy rừng và lũ lụt trong tương lai.
C, Phân tích dữ liệu để đưa ra các giải pháp giảm phát thải.
D, Cả A và B đều đúng.
Giải thích: Thông tin xuất hiện ở đoạn giữa, ngay sau phần nói về ứng dụng AI trong dự báo thiên tai: “... giới thiệu công cụ AI watsonx.ai. Công cụ này cho phép người dùng giám sát Trái đất từ không gian, đo lường những thay đổi môi trường đang xảy ra và đưa ra dự báo... giúp các nhà khoa học ước tính mức độ kể cả trong quá khứ và tương lai của cháy rừng, lũ lụt cũng như nhiệt độ tại các đô thị.”
• Như vậy:
o A đúng: watsonx.ai giúp giám sát Trái đất và đo lường thay đổi môi trường.
o B đúng: công cụ có khả năng dự báo hiện tượng như cháy rừng và lũ lụt.
• Do đó, cả A và B đều chính xác, chọn D. Đáp án: D
Câu 7 [1072839]: Tại sao AI được nhấn mạnh là một công cụ quan trọng tại Hội nghị COP28 về biến đổi khí hậu?
A, Vì AI giúp cải thiện dự báo thời tiết và phát triển các công nghệ giảm phát thải khí nhà kính.
B, Vì AI đã chứng minh khả năng giảm thiểu đến 50% lượng khí thải toàn cầu trong thời gian ngắn.
C, Vì AI mang lại những khả năng chưa từng có, có thể thay thế hoàn toàn các công cụ truyền thống trong công tác ứng phó biến đổi khí hậu.
D, Vì AI được xem là giải pháp duy nhất để giải quyết các vấn đề liên quan đến khí hậu toàn cầu, nâng cao khả năng dự báo các hiện tượng khí hậu.
Giải thích: Thông tin nằm trong đoạn đầu, phần nói về vai trò của AI tại COP28: “AI... là một trong những giải pháp quan trọng và đầy tiềm năng... có thể giúp giảm thiểu 5-10% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu...” “... mang lại những khả năng chưa từng có... xử lý lượng dữ liệu khổng lồ, trích xuất các thông tin có ích và cải thiện các mô hình dự đoán.”
• Như vậy, AI vừa góp phần giảm phát thải khí nhà kính, vừa nâng cao khả năng dự báo các hiện tượng khí hậu. Đáp án: A
Câu 8 [1072840]: Việc tiêu thụ năng lượng của ngành công nghiệp AI đến năm 2027 được ước tính như thế nào và điều này đặt ra thách thức gì?
A, Tiêu thụ lượng điện tương đương với nhu cầu của một quốc gia như Hà Lan; điều này đặt ra thách thức về đảm bảo nguồn cung năng lượng liên tục và ổn định.
B, Tiêu thụ lượng điện tương đương với nhu cầu của một quốc gia như Hà Lan; điều này đặt ra thách thức về việc phát triển các nguồn năng lượng không phát thải để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
C, Tiêu thụ lượng điện tương đương với nhu cầu của một quốc gia như Hà Lan; điều này đặt ra thách thức về chi phí vận hành và áp lực tài chính đối với các công ty công nghệ
D, Tiêu thụ năng lượng tăng gấp ba so với hiện tại; điều này đặt ra thách thức về việc giảm phát thải khí nhà kính trong quá trình vận hành hệ thống AI.
Giải thích: Trích dẫn từ đoạn gần cuối của văn bản: “Một nghiên cứu được công bố... ước tính ngành công nghiệp AI tính đến năm 2027 có thể tiêu thụ lượng điện tương đương với nhu cầu của một quốc gia có quy mô như Hà Lan... chính sách cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo việc sử dụng năng lượng không phát thải để vận hành các tài nguyên cho việc phát triển AI.”
• Do đó, điều đáng lo không chỉ là tăng lượng tiêu thụ điện mà là yêu cầu sử dụng năng lượng sạch, không phát thải.
• Phương án B là đầy đủ nhất về cả dữ kiện và lập luận chính. Đáp án: B
Câu 9 [1072841]: Bạn có đồng ý với quan điểm rằng AI vừa là giải pháp, vừa là thách thức trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu? Vì sao?
A, Đồng ý, vì AI cung cấp các giải pháp hiệu quả như dự báo thiên tai, tối ưu hóa năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính, nhưng đồng thời tiêu tốn nhiều năng lượng, đặc biệt nếu không sử dụng nguồn năng lượng sạch.
B, Đồng ý, vì AI cung cấp các giải pháp hiệu quả như dự báo thiên tai, tối ưu hóa năng lượng và gây ra ít tác động tiêu cực trong việc chống biến đổi khí hậu.
C, Đồng ý, vì AI giúp cải thiện năng suất và giảm tác động môi trường, cung cấp các giải pháp hiệu quả như dự báo thiên tai, tối ưu hóa năng lượng, nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư cao, gây khó khăn cho các quốc gia có thu nhập thấp.
D, Không đồng ý, vì AI hiện tại chưa đủ phát triển và chưa được áp dụng rộng rãi trong đời sống, chưa đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
Giải thích: Văn bản đưa ra hai mặt của AI:
o Mặt tích cực: AI được ứng dụng vào dự báo thiên tai, giám sát môi trường, tối ưu vận tải, tiết kiệm năng lượng, nâng năng suất nông nghiệp...
o Mặt thách thức: “... hệ thống AI cần nhiều năng lượng hơn... chính sách cần đảm bảo sử dụng năng lượng không phát thải.”

• Do đó, AI vừa giúp ích, vừa gây áp lực về năng lượng và môi trường nếu sử dụng không kiểm soát.
• Chỉ phương án A đề cập đầy đủ cả hai mặt của vấn đề. Đáp án: A
Câu 10 [1072842]: Văn bản viết: “Nhiều chuyên gia công nghệ lưu ý rằng công nghệ AI phải được cung cấp với giá cả phải chăng và dễ tiếp cận đối với các quốc gia có thu nhập thấp.” Theo bạn, tại sao điều này lại quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu?
A, Bởi vì các quốc gia thu nhập thấp thường không chịu ảnh hưởng nhiều từ biến đổi khí hậu nên không cần đầu tư vào AI.
B, Bởi vì các quốc gia thu nhập thấp cần cải thiện đời sống nhân dân, trước mắt nên tập trung phát triển tại các quốc gia phát triển vì họ có đủ nguồn lực để ứng dụng công nghệ này hiệu quả hơn.
C, Bởi vì việc tiếp cận AI giá rẻ giúp các quốc gia dễ dàng tham gia vào công tác chống biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng ứng phó của toàn cầu.
D, Bởi vì các quốc gia thu nhập thấp chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, chi phí của AI cao sẽ ảnh hưởng nhiều đến khả năng các quốc gia sử dụng công nghệ này
Thông tin căn cứ trong văn bản: Thông tin được tìm thấy trong đoạn cuối cùng của văn bản, cụ thể như sau: “Ngoài ra, nhiều chuyên gia công nghệ cũng lưu ý việc công nghệ AI phải được cung cấp với giá cả phải chăng và dễ tiếp cận đối với các quốc gia có thu nhập thấp, đặc biệt là các nước ở nhóm Global South, đang phải đối diện trực tiếp với khủng hoảng biến đổi khí hậu.”
Từ đây, có thể suy ra:
• Các quốc gia thu nhập thấp là nhóm bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu, do đó họ cần công nghệ để ứng phó hiệu quả.
• Tuy nhiên, rào cản chi phí khiến họ khó tiếp cận AI, nên việc cung cấp AI giá rẻ là cần thiết.
Đáp án C đúng vì:
• Nó nêu bật mối quan hệ giữa việc dễ tiếp cận công nghệ AI và khả năng của toàn cầu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
• Việc để các nước thu nhập thấp dễ tiếp cận AI sẽ tăng cường năng lực phòng ngừa, thích ứng và giảm nhẹ thiên tai, từ đó góp phần vào nỗ lực chung toàn cầu. Đáp án: C
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1072844]: Trong bài phát biểu của mình CEO Tesla Elon Musk nhận định:

“Chúng tôi không quan tâm bạn đã học ở trường nào, thậm chí bạn có từng đến trường hay không hoặc bạn từng làm việc ở công ty tên tuổi nào. Hãy chỉ cho chúng tôi xem mã của bạn.”

Từ thông điệp gợi từ câu nói trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm “Không cần bằng cấp, chỉ cần năng lực thực tế”.
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
▪ Bằng cấp từng là “tấm vé thông hành” trong xã hội truyền thống.
▪ Thời đại khoa học – công nghệ và toàn cầu hóa làm thay đổi tiêu chí đánh giá con người.
▪ Dẫn câu nói của Elon Musk nêu ra vấn đề: đề cao năng lực thực tế hơn bằng cấp.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích

“Bằng cấp” là giấy chứng nhận hoàn thành chương trình đào tạo, thể hiện trình độ học vấn của một cá nhân. “Năng lực thực tế” là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để giải quyết vấn đề và tạo ra kết quả cụ thể trong đời sống hay công việc. → Câu nói của Elon Musk nhấn mạnh trong thế giới hiện nay, điều quyết định giá trị con người không phải là tấm bằng, mà là năng lực thực tế và kết quả họ mang lại.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
▪ Chúng ta không thể phủ nhận vấn đề bằng cấp cũng vô cùng quan trọng vì đó được xem là thước đo để đánh giá năng lực và kiến thức chuyên môn của mỗi người. Tuy nhiên bằng cấp giỏi không đồng nghĩa với việc năng lực thực tế cũng tương xứng như vậy. Do đó trong xã hội hiện tại năng lực thực tế có phần được đánh giá cao hơn bởi đa phần các doanh nghiệp cần quan tâm tới kết quả thực tiễn.
▪ Trong thực tế, nhiều môi trường lao động không cần những bảng thành tích đẹp trên giấy, mà cần những con người giải quyết được vấn đề, tạo ra giá trị cụ thể và thích ứng nhanh với yêu cầu công việc.
▪ năng lực thực tế chính là thước đo chân thực nhất của giá trị con người, bởi một tấm bằng có thể chứng minh bạn đã học, nhưng chỉ kết quả công việc mới chứng minh bạn làm được.Một tấm bằng có thể chứng minh bạn đã học, nhưng chỉ kết quả công việc mới chứng minh bạn làm được. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, doanh nghiệp cần những con người có khả năng tư duy linh hoạt, xử lí tình huống thực tế và tạo ra hiệu quả bền vững, chứ không chỉ nắm giữ tri thức lí thuyết.
▪ Năng lực ấy không tự nhiên mà có, nó phản ánh tinh thần tự học, sự sáng tạo và ý chí dám thử thách bản thân trong quá trình rèn luyện không ngừng. Như Henry Ford từng nói “Ai ngừng học là già, ai còn học sẽ luôn trẻ”, một lời nhấn mạnh rằng trong thời đại tri thức luôn đổi mới, giá trị của con người nằm ở khả năng học hỏi liên tục và thích ứng nhanh, chứ không phải ở một chứng chỉ cố định, lỗi thời.
▪ Đề cao năng lực thực tế cũng khuyến khích tư duy công bằng trong tuyển dụng và phát triển. Khi năng lực được đặt lên hàng đầu, xuất thân hay trường lớp không còn là rào cản tuyệt đối, bất cứ ai có khả năng thật sự đều có cơ hội khẳng định mình. Đó cũng chính là tinh thần của thời đại 4.0, một thời đại đề cao kĩ năng, hiệu quả và đóng góp thực chất, nơi con người được đánh giá không phải bởi họ có gì trên hồ sơ, mà bởi họ làm được gì cho cộng đồng và xã hội.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
Bill Gates rời đại học Harvard để theo đuổi đam mê công nghệ, từ đó xây dựng nên đế chế Microsoft toàn cầu.
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
▪ Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng bằng cấp vẫn có giá trị nhất định nó là nền tảng tri thức ban đầu, giúp con người tiếp cận hệ thống kiến thức cơ bản, phát triển tư duy và có định hướng nghề nghiệp.
▪ Vấn đề không nằm ở “bằng cấp hay năng lực”, mà ở cách con người sử dụng tri thức để tạo ra giá trị thực. Một người có bằng cấp mà không biết vận dụng tri thức thì vô ích; ngược lại, người có năng lực nhưng thiếu học hỏi, thiếu nền tảng cũng dễ dừng lại. Do đó, cần có sự dung hòa: bằng cấp là “cửa ngõ”, còn năng lực thực tế là “hành trình” khẳng định bản thân.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
▪ Mỗi người trẻ cần hiểu rằng bằng cấp không phải đích đến, mà chỉ là phương tiện để trang bị tri thức.
▪ Quan trọng hơn là phải biến kiến thức thành năng lực hành động, không ngừng học hỏi, rèn kỹ năng, làm việc thực tế và nâng cao giá trị bản thân.
▪ Cần chủ động học thêm ngoài sách vở: học từ công việc, từ trải nghiệm, từ thất bại và từ những người xung quanh. Người có năng lực thực sự sẽ luôn được công nhận, dù họ có tấm bằng hay không.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Câu nói của Elon Musk mang tinh thần thực tiễn và tiến bộ của thời đại mới: giá trị con người nằm ở việc họ làm được gì, chứ không chỉ ở nơi họ học. Trong xã hội 4.0, bằng cấp có thể mở cánh cửa, nhưng chính năng lực thực tế mới giúp con người bước qua ngưỡng cửa ấy và đi xa hơn. Bởi lẽ, trong thế giới của hành động, “làm được” luôn quý hơn “nói được.”
Viết đoạn văn tham khảo:
Trong xã hội hiện đại, khi khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, giá trị của con người không còn được đo bằng tấm bằng treo trên tường mà ở khả năng tạo ra kết quả thực tế. Vì vậy, phát biểu của Elon Musk: “Chúng tôi không quan tâm bạn đã học ở trường nào… Hãy chỉ cho chúng tôi xem mã của bạn.” đã nêu bật một quan điểm của thời đại đó là “Không cần bằng cấp, chỉ cần năng lực thực tế”. “Bằng cấp” là minh chứng cho quá trình học tập và nền tảng tri thức cơ bản; còn “năng lực thực tế” là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng để tạo ra kết quả cụ thể, đó là thứ mà doanh nghiệp và xã hội thật sự cần. Quan điểm nhấn mạnh rằng trong thế giới cạnh tranh khốc liệt hiện nay, giá trị của con người nằm ở những gì họ làm được, chứ không nằm ở những gì họ được cấp. Như Thomas Edison từng nói: “Giá trị của một ý tưởng nằm ở việc nó được thực hiện.” Một tấm bằng có thể cho thấy bạn đã học, nhưng chỉ năng lực thực tế mới cho thấy bạn có thể đóng góp được gì. Chúng ta không thể phủ nhận vấn đề bằng cấp cũng vô cùng quan trọng vì đó được xem là thước đo để đánh giá năng lực và kiến thức chuyên môn của mỗi người. Tuy nhiên bằng cấp giỏi không đồng nghĩa với việc năng lực thực tế cũng tương xứng như vậy. Do đó trong xã hội hiện tại năng lực thực tế có phần được đánh giá cao hơn bởi đa phần các doanh nghiệp cần quan tâm tới kết quả thực tiễn. Bởi vậy, trong thời đại 4.0, năng lực thực tế được xem là “thước đo vàng” của giá trị cá nhân. Năng lực thực tế phản ánh tinh thần tự học, sáng tạo và dám thử thách, rèn luyện, thực hành và khẳng định sự tiến bộ, cầu tiến của mỗi cá nhân. Khi công nghệ, tri thức luôn đổi mới từng ngày, việc tự trau dồi và thích ứng nhanh quan trọng hơn việc dựa vào một chứng chỉ cố định. Người có năng lực là người biết tự học, dám thử thách, dám làm, dám chịu trách nhiệm với công việc của mình. Và khi tri thức thay đổi từng ngày, ai không liên tục rèn luyện kỹ năng sẽ bị bỏ lại phía sau, dù họ có trong tay bao nhiêu tấm bằng đi nữa. Như Henry Ford từng khẳng định: “Ai ngừng học là già; ai còn học sẽ luôn trẻ”. Đề cao năng lực thực tế cũng tạo ra sự công bằng trong cơ hội bởi bạn xuất thân từ đâu, học ở trường nào không quan trọng bằng việc bạn có thể làm được gì. Trong thực tế, không thiếu những con người đã chứng minh rằng giá trị không nằm ở tấm bằng, mà ở khả năng tạo ra kết quả thật. Có những lựa chọn tưởng như đi ngược chuẩn mực, nhưng chính sự dám rẽ lối ấy lại mở ra một con đường mới cho cả thế giới. Bill Gates chính là minh chứng tiêu biểu, ông rời bỏ Harvard để theo đuổi đam mê lập trình và sau đó sáng lập Microsoft và biến tập đoàn công nghệ này thành sản phẩm mang tính bước ngoặt làm thay đổi cách nhân loại sống và làm việc. Một quyết định táo bạo, nhưng đủ sức chứng minh sức mạnh của năng lực thực sự. Tuy nhiên, điều đó cũng không đồng nghĩa với việc chúng ta phủ nhận hoàn toàn vai trò của bằng cấp. Bằng cấp vẫn là nền tảng tri thức ban đầu, cung cấp cho con người hệ thống kiến thức căn bản và định hướng nghề nghiệp rõ ràng, chuyên nghiệp. Một cá nhân dù có tố chất nhưng thiếu nền tảng học thuật vẫn dễ rơi vào sai lầm khi xử lí vấn đề hoặc chững lại trước những thách thức lớn hơn nếu không có kiến thức. Vì thế, bản chất của vấn đề không phải là chọn bằng cấp hay năng lực, mà là cách mỗi người vận dụng tri thức để tạo ra giá trị thực trong công việc và cuộc sống. Bằng cấp có thể xem như “cửa ngõ”, còn năng lực thực tế mới chính là “hành trình” dài hơi để khẳng định bản thân trong đời sống và công việc. Bởi vậy, người trẻ cần hiểu rằng bằng cấp không phải đích đến cuối cùng. Quan trọng hơn là biết chuyển hoá tri thức thành kỹ năng, biến lý thuyết thành hành động, và liên tục học hỏi từ trải nghiệm, từ công việc, từ thất bại lẫn những người xung quanh. Bởi trong thế giới của hành động, giá trị thật luôn thuộc về người làm được việc, và người có năng lực thực sự sẽ được công nhận, dù họ có tấm bằng hay không. Bằng cấp có thể mở một cánh cửa, nhưng chính năng lực thực tế mới giúp chúng ta bước qua và đi thật xa. Bởi lẽ, trong thế giới của hành động, “làm được” luôn quý hơn “nói được.”
Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
Câu 12 [1072845]: Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:

Ở giữa cây và nền trời

Dường như là chưa có buổi chiều nào
Xanh như buổi chiều nay, xanh ngát mãi
Cây cứ đứng với nền trời khát khao
Nâng chiếc mầm trên tận đỉnh cây cao.
Sau chiều nay ta phải tốt lên nhiều
Thiên nhiên ở với mình cao cả quá
Tiếng lá động ân cần như tiếng mẹ
Và vòm trời mong ngóng lại như cha.
Đừng phút giây quên đối mặt quân thù
Đừng hờ hững với đời như bọt bể
Sắc diệp lục um tùm đang nói thế
Sắc trời xanh day dứt chẳng vô tình.
Trời thì xanh như rút ruột mà xanh
Cây thì biếc như vặn mình mà biếc
Mặt trời tỏa như trái tim nồng nhiệt
Trong cái chiều nhân nghĩa đến sâu xa.
Một tên NGƯỜI ai gọi cứ ngân nga…
(Thi Hoàng, Trích Những mảnh ghép của huyền thoại, Nguyễn Thanh Tâm tuyển chọn - giới thiệu 141 tác giả thơ Việt Nam đương đại, NXB Văn học, 2024, tr.504)
DÀN Ý CHI TIẾT PHÂN TÍCH BÀI THƠ
Ở giữa cây và nền trời – Thi Hoàng**
I. MỞ BÀI
Giới thiệu đề tài: Thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng lớn của thơ ca Việt Nam, không chỉ đẹp đẽ mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân sinh.
Giới thiệu tác giả Thi Hoàng: nhà thơ đương đại giàu sức liên tưởng, giàu cảm xúc nhân văn, nổi bật với phong cách thơ trầm lắng nhưng sâu sắc.
Giới thiệu bài thơ Ở giữa cây và nền trời: in trong tuyển tập thơ Việt Nam đương đại (2024), tiêu biểu cho phong cách giàu chiêm nghiệm của Thi Hoàng.
Dẫn ý: Bài thơ không chỉ vẽ ra một buổi chiều xanh ngát mà còn gửi gắm bài học sống, khơi dậy ý thức trách nhiệm và tình yêu đời nơi mỗi con người.
II. THÂN BÀI
1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm.

Trước khi đi vào phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ, cần khái quát đôi nét về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Thi Hoàng (tên khai sinh Hoàng Văn Bô), quê ở Hải Phòng, là một gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam đương đại, có nhiều đóng góp bền bỉ và được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Thơ ông mang phong cách riêng khó trộn lẫn: giàu hình ảnh, dày đặc liên tưởng, giàu chất suy tưởng và thấm đẫm tinh thần nhân văn. Thi Hoàng thường không chỉ miêu tả thiên nhiên như một đối tượng thẩm mĩ, mà xem thiên nhiên là không gian đạo đức, là nơi con người soi chiếu lại chính mình, từ đó thức tỉnh trách nhiệm sống và ý thức làm người.
Bài thơ Ở giữa cây và nền trời là một sáng tác tiêu biểu cho phong cách ấy. Được tuyển chọn trong những năm gần đây, tác phẩm không chỉ ghi lại một khoảnh khắc thiên nhiên trong trẻo của buổi chiều xanh thẳm, mà còn mở ra một chiều sâu suy tưởng về nhân cách con người trước cái cao cả, bền bỉ và nhân nghĩa của tự nhiên. Trong bài thơ, thiên nhiên hiện lên như một tấm gương lớn, lặng lẽ mà nghiêm khắc, buộc con người phải tự vấn, phải “tốt lên”, phải sống xứng đáng hơn với tên gọi NGƯỜI. Chính từ điểm nhìn ấy, bài thơ vượt ra khỏi khuôn khổ của một bức tranh phong cảnh để trở thành một thi phẩm giàu ý nghĩa triết lí và nhân sinh.
2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG
▪ Luận điểm 1: Bức tranh thiên nhiên buổi chiều xanh ngát mở ra một không gian tinh khiết, tràn đầy sức sống và khát vọng vươn lên
▪ Những câu thơ mở đầu đã dựng lên một bức tranh thiên nhiên khoáng đạt, trong trẻo và giàu sức gợi: “Ở giữa cây và nền trời Dường như là chưa có buổi chiều nào Xanh như buổi chiều nay, xanh ngát mãi”. Việc lặp lại và nhấn mạnh các từ ngữ “xanh”, “xanh ngát”, “xanh mãi” tạo cảm giác màu xanh lan tỏa, trùm phủ khắp không gian, kéo dài vô hạn trong chiều sâu cảm xúc. Cách nói “chưa có buổi chiều nào” không nhằm so sánh đơn thuần, mà là một lối nói giàu cảm xúc, nhấn mạnh khoảnh khắc hiện tại như một giây phút thiên nhiên đạt đến độ viên mãn, tinh khôi hiếm có. Màu xanh ở đây không chỉ là màu sắc thị giác, mà còn là biểu tượng của sự sống, của hy vọng, của trạng thái tinh thần thanh sạch và hướng thiện.
▪ Không dừng lại ở vẻ đẹp tĩnh tại, thiên nhiên trong thơ Thi Hoàng còn mang dáng vẻ vận động và khát vọng sống mạnh mẽ: “Cây cứ đứng với nền trời khát khao Nâng chiếc mầm trên tận đỉnh cây cao.” Những động từ và tính từ như “đứng”, “khát khao”, “nâng” đã nhân hóa hình ảnh cây, khiến thiên nhiên hiện lên như một sinh thể có ý chí, có ước vọng vươn lên không ngừng. Hình ảnh “chiếc mầm” được nâng lên “tận đỉnh cây cao” trở thành biểu tượng đẹp cho sức sống bền bỉ, cho khát vọng vươn tới những giá trị cao hơn. Qua đó, bức tranh thiên nhiên không chỉ mang vẻ đẹp thuần khiết mà còn ẩn chứa một thông điệp nhân văn sâu sắc: thiên nhiên luôn vận động, hướng thượng và chính điều ấy đã âm thầm truyền cảm hứng sống tích cực, thôi thúc con người vươn lên, hoàn thiện mình trong cuộc đời.
▪ Luận điểm 2: Thiên nhiên cao cả, lớn lao, bao dung hiền hòa trở thành tấm gương nhắc nhở con người sống tốt hơn,có ý thức trách nhiệm hơn
▪ Sau bức tranh thiên nhiên xanh ngát tràn đầy sức sống, mạch thơ chuyển dần từ cảm xúc thẩm mĩ sang suy ngẫm đạo đức, khi con người đứng trước vẻ đẹp lớn lao của thiên nhiên để tự vấn chính mình: “Sau chiều nay ta phải tốt lên nhiều Thiên nhiên ở với mình cao cả quá.” Câu thơ không miêu tả mà trực tiếp bộc lộ tâm thế của cái tôi trữ tình. Từ “phải” vang lên như một mệnh lệnh của lương tâm, cho thấy vẻ đẹp thiên nhiên không chỉ làm say mê cảm xúc mà còn đánh thức ý thức sống. Thiên nhiên càng trong trẻo, cao cả bao nhiêu thì con người càng thấy mình cần sống tốt hơn, xứng đáng hơn bấy nhiêu. Đó là sự thức tỉnh đạo đức tự nhiên, không áp đặt, nhưng thấm sâu và bền bỉ.
▪ Cảm nhận ấy tiếp tục được cụ thể hóa bằng những liên tưởng nhân hóa giàu tính biểu tượng: “Tiếng lá động ân cần như tiếng mẹ Và vòm trời mong ngóng lại như cha.” Hình ảnh lá – mẹ, trời – cha đã đưa thiên nhiên từ không gian rộng lớn trở về mái ấm tinh thần thân thuộc. “Tiếng lá động ân cần” gợi sự dịu dàng, chở che, nhắc nhở nhẹ nhàng như tình mẹ; còn “vòm trời mong ngóng” mang dáng dấp của tình cha bao dung, lặng lẽ dõi theo. Thiên nhiên vì thế không còn xa vời mà trở thành điểm tựa tinh thần, nuôi dưỡng nhân cách con người bằng sự hiền hòa, nhẫn nại và yêu thương vô điều kiện.
▪ Qua những câu thơ ấy, Thi Hoàng đã nâng thiên nhiên lên thành một chuẩn mực đạo đức sống, một “người thầy thầm lặng” nhắc nhở con người biết hướng thiện, biết sống tử tế và trưởng thành hơn mỗi ngày. Thiên nhiên không dạy bằng lời, mà dạy bằng chính vẻ đẹp cao cả của sự tồn tại.
▪ Luận điểm 3: Thiên nhiên nhắc nhở con người sống có trách nhiệm, dũng cảm, biết yêu thương, sẻ chia và nhân ái.
▪ Nếu ở những câu thơ trước, thiên nhiên hiện lên như nguồn cảm hứng sống và tấm gương đạo đức hiền hòa, thì đến đây, giọng thơ đột ngột chuyển sang sắc thái thức tỉnh và cảnh tỉnh: “Đừng phút giây quên đối mặt quân thù Đừng hờ hững với đời như bọt bể.” Điệp ngữ “đừng” vang lên dồn dập như một lời nhắc nhở khẩn thiết. Không còn là cảm xúc chiêm ngưỡng, con người được đặt trước yêu cầu phải sống tỉnh táo, có bản lĩnh, không né tránh trách nhiệm trước những thử thách của đời sống. Hình ảnh “bọt bể” gợi một tồn tại mong manh, trôi nổi, vô nghĩa, từ đó cảnh báo lối sống hời hợt, thờ ơ, buông xuôi trước thực tại. Con người không được phép sống như một lớp bọt tan biến, mà phải đối diện, dấn thân và lựa chọn.
▪ Lời nhắc nhở ấy không xuất phát từ một mệnh lệnh bên ngoài, mà dường như cất lên từ chính thiên nhiên: “Sắc diệp lục um tùm đang nói thế Sắc trời xanh day dứt chẳng vô tình.” Những sắc màu quen thuộc của sự sống – diệp lục, trời xanh – được nhân hóa như mang tiếng nói đạo lí. Thiên nhiên không vô tri, vô cảm, mà “day dứt”, trăn trở cùng con người. Màu xanh không chỉ là vẻ đẹp thị giác, mà trở thành biểu tượng của sự sống bền bỉ, của trách nhiệm, của lời gọi thầm nhắc con người phải sống xứng đáng với những gì thiên nhiên đã trao tặng.
Qua đó, Thi Hoàng đã gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc: thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng sự sống, mà còn nuôi dưỡng lương tri. Đứng giữa cây và nền trời, con người không thể thờ ơ, không thể nhỏ bé, mà phải sống có ý nghĩa, có dũng khí, biết yêu thương và sẻ chia với đời.
▪ Luận điểm 4: Nhà thơ tôn vinh vẻ đẹp sống mãnh liệt của thiên nhiên, từ đó ngợi ca và nâng cao giá trị “NGƯỜI” như một lý tưởng nhân văn cao cả
▪ Ở những câu thơ cuối, thiên nhiên hiện lên không chỉ đẹp mà còn đạt tới độ căng tràn của sự sống, như dồn nén toàn bộ năng lượng cho một khoảnh khắc thăng hoa: “Trời thì xanh như rút ruột mà xanh Cây thì biếc như vặn mình mà biếc.” Những so sánh cường điệu “rút ruột”, “vặn mình” diễn tả sự sống ở mức tận cùng, mãnh liệt và tự hiến. Màu xanh không còn là sắc màu tĩnh tại, mà là kết quả của một quá trình dâng hiến, như thể thiên nhiên đang sống hết mình để tồn tại, để đẹp, để trao đi. Qua đó, vẻ đẹp của trời và cây không chỉ là vẻ đẹp thị giác mà còn mang chiều sâu đạo đức của sự sống có ý thức, có trách nhiệm.
▪ Sức sống ấy tiếp tục được đẩy lên đỉnh điểm khi mặt trời được nhìn như một thực thể giàu cảm xúc và nhân tính: “Mặt trời tỏa như trái tim nồng nhiệt Trong cái chiều nhân nghĩa đến sâu xa.” So sánh mặt trời với “trái tim nồng nhiệt” khiến thiên nhiên mang hình hài của tình yêu và hơi ấm. Đặc biệt, cụm từ “chiều nhân nghĩa” đã gán cho không gian tự nhiên một phẩm chất đạo đức, khiến buổi chiều không chỉ là thời khắc của ngày mà trở thành một khoảnh khắc nhân văn, nơi con người được nhắc nhở phải sống tử tế, yêu thương và biết hiến dâng như chính thiên nhiên.
Chính từ nền tảng ấy, câu thơ kết vang lên như một lời gọi thiêng liêng: “Một tên NGƯỜI ai gọi cứ ngân nga…” Chữ “NGƯỜI” được viết hoa không chỉ để chỉ con người sinh học, mà để tôn vinh giá trị làm người: nhân nghĩa, bản lĩnh, dấn thân và sống có trách nhiệm. Âm hưởng “ngân nga” khiến tiếng gọi ấy lan xa, bền bỉ, như một lý tưởng sống được vang lên giữa trời xanh, không áp đặt mà lay động sâu thẳm.
→ Qua việc ca ngợi thiên nhiên ở trạng thái sống cao độ nhất, Thi Hoàng đã soi chiếu và nâng đỡ giá trị “NGƯỜI”, khẳng định rằng con người chỉ thực sự xứng đáng khi sống nhân nghĩa, mãnh liệt và có ý thức về trách nhiệm của mình giữa đời sống rộng lớn.
3. PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT CỦA BÀI THƠ
a. Thể thơ

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, với những dòng thơ dài ngắn linh hoạt, không bị ràng buộc bởi niêm luật cố định. Chính sự phóng khoáng ấy đã tạo điều kiện để mạch cảm xúc và mạch suy tưởng của nhà thơ được triển khai tự nhiên, liền mạch. Các câu thơ có lúc trải rộng để miêu tả thiên nhiên mênh mang, có lúc ngắn lại, dồn nén khi chuyển sang những lời tự vấn, nhắc nhở con người. Thể thơ tự do vì thế rất phù hợp với cảm hứng chiêm nghiệm, liên tưởng và suy tư nhân sinh – đặc trưng trong phong cách thơ Thi Hoàng, nơi thơ không chỉ để ngắm cảnh mà còn để suy nghĩ về cách làm người.
b. Cấu tứ
Bài thơ được tổ chức theo một cấu tứ ba tầng rõ nét, vận động từ cảnh đến người, từ cảm xúc đến triết lí. Ở tầng thứ nhất, nhà thơ mở ra bức tranh thiên nhiên buổi chiều xanh ngát, tràn đầy sức sống với cây, trời, mầm non, mặt trời – một thế giới vừa đẹp vừa căng tràn khát vọng vươn lên. Từ nền thiên nhiên ấy, bài thơ chuyển sang tầng thứ hai, nơi thiên nhiên được nhân hóa như cha mẹ, như người bạn đạo đức, âm thầm nhắc nhở con người phải sống tốt hơn, không hờ hững, không trốn tránh trách nhiệm trước đời sống và lịch sử. Ở tầng cuối cùng, từ sự chiêm ngưỡng và đối thoại với thiên nhiên, nhà thơ đi tới suy ngẫm nhân sinh sâu sắc, tôn vinh tên gọi “NGƯỜI” như một giá trị tinh thần cao quý, gắn với nhân nghĩa, bản lĩnh và ý thức sống có trách nhiệm. Cấu tứ của bài thơ vì thế vận động theo chiều sâu tư tưởng, đi từ ngoại cảnh thiên nhiên đến nội tâm con người, rồi kết tinh thành triết lí nhân văn, tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật hài hòa, giàu sức gợi và dư ba suy ngẫm.
c. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ thơ Thi Hoàng giàu sức gợi và mang đậm tính tạo hình, nổi bật với việc sử dụng nhiều động từ mạnh như “vặn mình”, “rút ruột”, “nâng mầm”. Những động từ ấy không chỉ miêu tả trạng thái vận động của thiên nhiên mà còn truyền vào cảnh vật một nguồn sinh lực căng tràn, dữ dội và quyết liệt. Thiên nhiên trong bài thơ không đứng yên mà luôn vươn lên, dâng hiến, tự hi sinh để làm nên vẻ đẹp và sự sống. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng và liên tưởng, mỗi từ ngữ đều mở ra một tầng nghĩa nhân sinh, khiến cảnh vật trở thành nơi gửi gắm suy tư về con người. Đặc biệt, sự đan xen giữa câu cảm thán bộc lộ rung động mạnh mẽ và câu mệnh lệnh mang sắc thái nhắc nhở, thôi thúc đã tạo nên giọng điệu vừa tha thiết vừa nghiêm cẩn, làm tăng sức lay động và chiều sâu tư tưởng của bài thơ.
d. Hình ảnh
Hệ thống hình ảnh trong bài thơ được xây dựng nhất quán và giàu ý nghĩa biểu tượng, nổi bật nhất là màu xanh xuyên suốt với các sắc độ khác nhau như “xanh ngát”, “xanh mãi”, “biếc”, “diệp lục”. Màu xanh ấy không chỉ là màu của thiên nhiên mà còn trở thành biểu tượng cho sự sống, hi vọng, sự thanh tân và khát vọng vươn lên không ngừng. Thiên nhiên còn được nhân hóa một cách tinh tế và giàu cảm xúc khi lá mang dáng dấp của người mẹ ân cần, vòm trời hiện lên như người cha mong ngóng, còn mặt trời được ví như “trái tim nồng nhiệt” tỏa hơi ấm cho đời. Bên cạnh đó, nhiều hình ảnh mang tính ẩn dụ triết lí sâu sắc như “bọt bể” gợi lối sống hời hợt, vô nghĩa; “mầm” tượng trưng cho sự sống non trẻ cần được nâng đỡ; “chiều nhân nghĩa” gán cho thiên nhiên một phẩm chất đạo đức, qua đó khẳng định thiên nhiên không chỉ đẹp mà còn là chuẩn mực để con người soi chiếu và hoàn thiện chính mình.
e. Phong cách Thi Hoàng
Qua bài thơ Ở giữa cây và nền trời, phong cách thơ Thi Hoàng hiện lên rõ nét với khả năng liên tưởng phong phú và táo bạo. Từ những hình ảnh rất cụ thể của thiên nhiên như cây, trời, lá, mầm, mặt trời, nhà thơ mở ra những tầng nghĩa sâu xa về con người và đạo lí sống. Giọng thơ mang đậm chất trữ tình nhưng không dừng lại ở cảm xúc thuần túy, mà luôn được nâng đỡ bởi chiều sâu triết lí, khiến mỗi rung động trước cảnh vật đều dẫn đến sự tự vấn nội tâm. Đặc biệt, thơ Thi Hoàng thấm đẫm tinh thần nhân văn khi thiên nhiên không chỉ được ngợi ca như một vẻ đẹp ngoại giới mà còn trở thành tấm gương đạo đức, khơi gợi trong con người ý thức sống nhân nghĩa, trách nhiệm và xứng đáng với tên gọi “Người”.
III. TỔNG KẾT NỘI DUNG – NGHỆ THUẬT
Nội dung

Bài thơ Ở giữa cây và nền trời đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên trong trẻo, mãnh liệt và giàu nhân nghĩa, nơi cây cối, bầu trời, ánh sáng đều mang sức sống căng tràn và tình cảm bao dung. Từ vẻ đẹp ấy, nhà thơ khơi dậy trong con người ý thức tự hoàn thiện bản thân, biết sống tốt hơn, sống có trách nhiệm, không hờ hững hay buông xuôi trước đời sống nhiều biến động. Qua đó, tác phẩm khẳng định và tôn vinh phẩm giá “Người” – giá trị nhân bản cao đẹp được soi sáng từ chính sự hòa điệu giữa con người và thiên nhiên.
Nghệ thuật
Thành công của bài thơ trước hết nằm ở việc sử dụng thể thơ tự do linh hoạt, phù hợp với dòng cảm xúc chiêm nghiệm và mạch liên tưởng rộng mở. Giọng thơ trữ tình hòa quyện với chất triết lí tạo nên chiều sâu tư tưởng. Hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, được nhân hóa táo bạo và xây dựng bằng những liên tưởng độc đáo, đã biến thiên nhiên thành một chủ thể mang tiếng nói đạo đức. Ngôn ngữ thơ tinh luyện, giàu nhạc điệu và sắc màu, góp phần tạo nên sức lan tỏa bền bỉ cho cảm xúc và thông điệp nhân sinh của tác phẩm.a
IV. KẾT BÀI
Ở giữa cây và nền trời là một thi phẩm đẹp của Thi Hoàng, vừa giàu hình ảnh, vừa thấm đẫm suy tư nhân sinh. Bài thơ không chỉ giúp người đọc chiêm ngưỡng vẻ đẹp rực rỡ và cao cả của thiên nhiên, mà còn dẫn dắt con người soi chiếu lại chính mình để sống tốt hơn, nhân nghĩa hơn giữa cuộc đời rộng lớn. Qua tác phẩm, tài năng và phong cách thơ giàu tính nhân văn của Thi Hoàng trong nền thơ ca đương đại được khẳng định một cách rõ nét và thuyết phục.
Bài viết tham khảo:
Thiên nhiên từ lâu đã trở thành mạch nguồn cảm hứng bền bỉ của thơ ca Việt Nam, không chỉ bởi vẻ đẹp trong trẻo của đất trời mà còn bởi khả năng đánh thức những suy tư sâu xa về cách sống và cách làm người. Trong dòng chảy ấy, Thi Hoàng hiện lên như một nhà thơ đương đại giàu sức liên tưởng, giọng thơ trầm lắng mà thấm đẫm tinh thần nhân văn, luôn nhìn thiên nhiên như một không gian đạo đức để con người soi chiếu chính mình. Bài thơ Ở giữa cây và nền trời, in trong tuyển tập thơ Việt Nam đương đại năm 2024, là một thi phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Không dừng lại ở việc phác họa một buổi chiều xanh ngát, trong trẻo, bài thơ còn mở ra chiều sâu chiêm nghiệm, gửi gắm bài học sống về trách nhiệm, bản lĩnh và tình yêu đời, qua đó khơi dậy ý thức làm Người giữa cuộc đời rộng lớn.
Thi Hoàng tên khai sinh Hoàng Văn Bô quê ở Vĩnh Bảo Hải Phòng là một gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam đương đại gắn bó bền bỉ với lao động nghệ thuật và từng được trao Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1996 cùng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Dấu ấn Thi Hoàng không nằm ở danh vị mà ở một phong cách thơ khó trộn lẫn giàu hình ảnh dày đặc liên tưởng đậm chất suy tưởng và thấm sâu tinh thần nhân văn. Với ông thiên nhiên không phải đối tượng đẹp để ngắm mà là một không gian đạo đức nơi con người soi chiếu và tự vấn chính mình. Bài thơ Ở giữa cây và nền trời in trong tuyển chọn 141 tác giả thơ Việt Nam đương đại năm 2024 là sự kết tinh rõ nét của phong cách ấy. Khởi đi từ một khoảnh khắc thiên nhiên rất cụ thể buổi chiều xanh thẳm cây đứng im mà khát khao nâng mầm lên đỉnh cao bài thơ nhanh chóng vượt ra khỏi khuôn khổ một bức tranh phong cảnh để trở thành một tình huống tinh thần. Thiên nhiên hiện lên trong trẻo mà nghiêm khắc cao cả mà gần gũi buộc con người phải tự hỏi mình sau chiều nay ta phải tốt lên nhiều phải sống sao cho xứng với chiều nhân nghĩa đến sâu xa không hờ hững không buông xuôi trước đời sống. Từ sắc xanh của trời cây thi phẩm đánh thức một tên NGƯỜI ngân nga trong tâm thức qua đó khẳng định chiều sâu triết lí và giá trị nhân sinh bền vững của thơ Thi Hoàng.
Thiên nhiên từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca bởi trong vẻ đẹp của đất trời con người không chỉ tìm thấy sự thư thái thẩm mĩ mà còn bắt gặp nhịp đập của sự sống và khát vọng tồn tại. Với Thi Hoàng thiên nhiên không hiện lên như một phông nền tĩnh tại để chiêm ngưỡng mà mang một sức sống nội tại mãnh liệt có khả năng lay động và thức tỉnh con người từ bên trong. Ngay ở những dòng mở đầu bài thơ Ở giữa cây và nền trời nhà thơ đã dựng lên bức tranh buổi chiều xanh ngát trong trẻo và tràn đầy sinh khí qua những câu thơ “Ở giữa cây và nền trời / Dường như là chưa có buổi chiều nào / Xanh như buổi chiều nay xanh ngát mãi”. Sự lặp lại và tăng tiến của sắc xanh tạo cảm giác màu xanh lan tỏa trùm phủ khắp không gian kéo dài vô hạn trong chiều sâu cảm xúc khiến buổi chiều hiện lên như một khoảnh khắc thiên nhiên đạt tới độ viên mãn hiếm có. Màu xanh ở đây không chỉ là cảm giác thị giác mà trở thành biểu tượng của sự sống của hi vọng của trạng thái tinh thần thanh sạch và hướng thiện. Người đọc dường như gặp gỡ vẻ đẹp trong trẻo, nên thơ, tươi mát tinh khôi đó trong những trang thơ của Hàn Mặc Tử khi ông viết “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên / Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” nơi màu xanh cũng vượt khỏi tả thực để trở thành miền cảm xúc tinh khiết nâng đỡ tâm hồn con người. Tuy nhiên thiên nhiên trong thơ Thi Hoàng không dừng lại ở vẻ đẹp tĩnh tại mà mang dáng vẻ vận động và ý chí vươn lên mạnh mẽ khi “Cây cứ đứng với nền trời khát khao / Nâng chiếc mầm trên tận đỉnh cây cao”. Những động từ giàu sức gợi như đứng khát khao nâng đã nhân hóa hình ảnh cây khiến thiên nhiên hiện lên như một sinh thể có ý chí có ước vọng không ngừng hướng tới những tầng cao rộng. Hình ảnh chiếc mầm được nâng lên tận đỉnh cây cao trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ cho khát vọng vươn tới những giá trị tốt đẹp hơn. Qua bức tranh buổi chiều xanh ngát ấy Thi Hoàng không chỉ khắc họa một khoảnh khắc thiên nhiên tinh khiết mà còn gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu xa rằng thiên nhiên luôn âm thầm vận động hướng tới hoàn thiện và chính vẻ đẹp giàu sinh khí ấy đã trở thành nguồn cảm hứng sống tích cực thôi thúc con người tự vượt mình để sống xứng đáng với sự cao cả của đất trời. Phải chăng ta cũng gặp gỡ triết lí sâu sắc với con sóng trong thơ Xuân Quỳnh khi sóng “không hiểu nổi mình / sóng tìm ra tận bể”. Nếu con sóng là biểu tượng cho khát vọng vượt khỏi những giới hạn chật hẹp thì chiếc mầm được nâng lên tận đỉnh cao trong thơ Thi Hoàng cũng mang tinh thần hướng thượng tương tự. Ở cả hai thi phẩm thiên nhiên đều không đứng yên mà luôn vươn lên tìm kiếm, vận động đến những chân trời rộng lớn qua đó trở thành ẩn dụ giàu ý nghĩa cho hành trình tự hoàn thiện và khẳng định giá trị sống của con người giữa cuộc đời rộng lớn.
Nếu ở tầng đầu tiên thiên nhiên hiện ra với vẻ đẹp rực rỡ của sự sống thì ở tầng sâu hơn thơ ca của Thi Hoàng đã nâng thiên nhiên lên thành một tấm gương đạo đức để con người soi chiếu chính mình. Từ bức tranh buổi chiều xanh biếc tràn đầy sinh khí mạch thơ dần chuyển từ cảm xúc thẩm mĩ sang suy ngẫm nhân sinh khi con người đứng trước vẻ đẹp lớn lao của đất trời để đối thoại với lương tâm mình “Sau chiều nay ta phải tốt lên nhiều / Thiên nhiên ở với mình cao cả quá”. Câu thơ không còn là lời cảm thán đơn thuần mà trở thành một mệnh lệnh nội tâm bởi chữ “phải” vang lên như tiếng gọi nghiêm khắc của ý thức đạo đức. Thiên nhiên càng trong trẻo và cao cả bao nhiêu thì con người càng thấy mình cần sống tốt hơn xứng đáng hơn bấy nhiêu. Đó là sự thức tỉnh không đến từ giáo điều hay áp đặt mà nảy sinh rất tự nhiên từ rung động trước cái đẹp đúng như Albert Schweitzer từng nói “Đạo đức bắt đầu từ sự tôn trọng sự sống”. Cảm nhận ấy tiếp tục được cụ thể hóa qua những liên tưởng nhân hóa giàu sức gợi “Tiếng lá động ân cần như tiếng mẹ / Và vòm trời mong ngóng lại như cha”. Lá mang dáng dấp của người mẹ dịu dàng chở che còn vòm trời mang dáng dấp của người cha bao dung lặng lẽ dõi theo khiến thiên nhiên từ không gian rộng lớn trở về mái ấm tinh thần thân thuộc. Thiên nhiên vì thế không còn vô tri mà trở thành điểm tựa nuôi dưỡng nhân cách con người bằng sự hiền hòa nhẫn nại và yêu thương vô điều kiện như một người thầy thầm lặng không cần lời răn dạy nhưng đủ sức khiến con người tự điều chỉnh mình. Lúc này, thiên nhiên hiện lên như một người bạn tri âm tri kỉ gắn bó bền chặt với đời sống tinh thần con người gợi nhớ đến Nguyễn Duy trong Ánh trăng “Ngửa mặt lên nhìn mặt / có cái gì rưng rưng / như là đồng là bể / như là sông là rừng”. Dù trong thời bình hay chiến tranh thiên nhiên vẫn âm thầm đồng hành che chở và hi sinh, sát cánh bên con người “Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”(Việt Bắc - Tố Hữu). Từ thơ ca đến đời sống từ cảm xúc cá nhân đến lịch sử dân tộc thiên nhiên luôn hiện diện như một nguồn đạo đức bền bỉ vừa hiền hòa vừa kiên cường. Bởi vậy trong Ở giữa cây và nền trời thiên nhiên không chỉ là đối tượng thẩm mĩ mà trở thành không gian đạo đức nơi con người buộc phải soi lại mình tự hỏi đã sống đủ tốt hay chưa đã xứng đáng với sự sống đang bao bọc mình hay chưa. Chính ở điểm này thơ Thi Hoàng vượt ra khỏi việc tả cảnh thuần túy để trở thành một tiếng gọi nhân sinh sâu lắng đánh thức trong con người ý thức sống hướng thiện sống nhân nghĩa và sống có trách nhiệm hơn mỗi ngày.
Văn học chân chính không ru ngủ con người trong cảm xúc yên bình mà luôn hướng tới việc đánh thức ý thức và bản lĩnh sống. Tiếp nối mạch suy tưởng ấy, trong Ở giữa cây và nền trời, Thi Hoàng để thiên nhiên cất lên tiếng nói nghiêm nghị, thôi thúc con người không được hờ hững hay vô cảm trước đời sống. Từ bức tranh buổi chiều “xanh ngát mãi”, giọng thơ bất ngờ chuyển sang sắc thái cảnh tỉnh rõ rệt “Đừng phút giây quên đối mặt quân thù / Đừng hờ hững với đời như bọt bể”. Điệp ngữ “đừng” vang lên dồn dập như nhịp thúc của lương tri, đặt con người vào tư thế phải lựa chọn, phải dấn thân và phải chịu trách nhiệm. “Đối mặt quân thù” không chỉ gợi hiện thực đấu tranh cụ thể mà còn mở rộng thành một thái độ sống tỉnh táo, dũng cảm, không né tránh thử thách và biến động của đời sống. Hình ảnh “bọt bể” mong manh, trôi nổi, tan biến không để lại dấu vết đã trở thành một ẩn dụ phê phán sâu cay cho lối sống hời hợt, vô nghĩa, tồn tại mà không gắn với nghĩa vụ, với đúng sai, với những giá trị cần gìn giữ. Làm người, theo Thi Hoàng, không thể sống nhẹ tênh như bọt nước, mà phải biết đối diện, gánh vác và lựa chọn. Cảm hứng ấy gặp gỡ với Nguyễn Duy trong Ánh trăng, nơi thiên nhiên không lên tiếng bằng lời răn dạy mà bằng sự im lặng ám ảnh “Ánh trăng im phăng phắc / Đủ cho ta giật mình”. Nếu Thi Hoàng cảnh tỉnh trực diện bằng mệnh lệnh đạo đức, thì Nguyễn Duy lại đánh thức lương tri bằng im lặng, nhưng cả hai đều gặp nhau ở điểm cốt lõi: thiên nhiên không ru ngủ cảm xúc mà trở thành tấm gương đạo đức buộc con người phải tự vấn. Lời nhắc nhở ấy trong thơ Thi Hoàng không đến từ một mệnh lệnh áp đặt bên ngoài mà dường như cất lên từ chính nhịp thở của thiên nhiên “Sắc diệp lục um tùm đang nói thế / Sắc trời xanh day dứt chẳng vô tình”. Diệp lục và trời xanh được nhân hóa như mang lương tri, biết “nói”, biết “day dứt”, khiến màu xanh không còn thuần túy là vẻ đẹp thị giác mà hóa thành biểu tượng của sự sống bền bỉ, của trách nhiệm và lời gọi thầm yêu cầu con người sống xứng đáng với những gì thiên nhiên, cuộc đời ban tặng. Qua đó, thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng sự sống mà còn nuôi dưỡng lương tri. Đứng giữa cây và nền trời, con người không thể thờ ơ hay nhỏ bé trong vô cảm mà phải tự nâng mình lên, sống có ý nghĩa, có dũng khí, biết yêu thương và sẻ chia với đời.
Ở những câu thơ cuối của Ở giữa cây và nền trời, Thi Hoàng đã đẩy hình ảnh thiên nhiên tới độ căng tràn của sự sống, nơi mọi sinh lực của đất trời như được dồn nén và bộc lộ trong một khoảnh khắc thăng hoa hiếm có. “Trời thì xanh như rút ruột mà xanh / Cây thì biếc như vặn mình mà biếc” không chỉ là những so sánh giàu sức gợi về màu sắc, mà còn khắc họa một trạng thái sống mãnh liệt đến tận cùng. Màu xanh ở đây không phải là sự tồn tại thụ động, nhàn tản, mà là kết quả của một quá trình tự hiến, tự dâng hiến toàn bộ sinh lực để được sống, được vươn lên và được đẹp. Thiên nhiên hiện ra như đang sống hết mình, không giữ lại cho riêng mình, không tính toán thiệt hơn. Bởi thế, vẻ đẹp của trời và cây đã vượt khỏi bình diện thẩm mĩ để mang chiều sâu đạo đức của một sự sống có ý thức, có trách nhiệm và giàu khát vọng sống, cống hiến, hi sinh. Cảm hứng ấy gặp gỡ tự nhiên với quan niệm sống nhân văn trong thơ Tố Hữu: “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình” nơi sự tồn tại chỉ thực sự có ý nghĩa khi biết trao đi và dâng hiến. Thiên nhiên trong thơ Thi Hoàng cũng mang tinh thần ấy. Trời xanh, cây biếc không chỉ để làm đẹp cho đời, mà trở thành biểu hiện của một triết lí sống cao cả, sống là hiến dâng, là tự vượt lên chính mình để hoàn thiện. Đặt con người trước vẻ đẹp sống mãnh liệt ấy, nhà thơ buộc chúng ta phải tự vấn về cách mình đang tồn tại, đã sống đủ sâu, đủ đầy và đủ có ích hay chưa. Sức sống ấy được nâng lên đến đỉnh điểm khi mặt trời hiện ra “như trái tim nồng nhiệt / Trong cái chiều nhân nghĩa đến sâu xa”. So sánh mặt trời với trái tim đã trao cho thiên nhiên một hình hài nhân tính, một trung tâm tỏa sáng của tình yêu và hơi ấm. Đặc biệt, “chiều nhân nghĩa” không còn là một khoảnh khắc thời gian thuần túy, mà trở thành một giá trị đạo đức, nơi thiên nhiên bằng chính sự sống mãnh liệt và bao dung của mình đã nâng đỡ, nhắc nhở và soi chiếu con người. Trong không gian ấy, giá trị “Người” được đặt lên cao nhất. Làm người không chỉ là tồn tại giữa đất trời, mà là sống nhân nghĩa, biết yêu thương, biết hiến dâng và biết tự nâng mình lên ngang tầm với sự cao cả của thiên nhiên. Qua đó, Thi Hoàng không chỉ ngợi ca vẻ đẹp sống mãnh liệt của đất trời, mà còn tôn vinh con người như một lí tưởng nhân văn, một sinh thể có khả năng vươn tới cái cao đẹp khi biết sống xứng đáng với những gì thiên nhiên đã trao ban.
Câu thơ “Một tên NGƯỜI ai gọi cứ ngân nga…” có thể xem là điểm lắng tư tưởng sâu sắc nhất của toàn bài thơ, nơi Thi Hoàng nâng khái niệm con người từ một danh xưng quen thuộc lên thành một giá trị đạo đức và nhân văn mang ý nghĩa lý tưởng. Chữ “NGƯỜI” được viết hoa không nhằm chỉ một cá nhân cụ thể nào, mà gợi lên phẩm giá làm người, những giá trị cốt lõi cấu thành nhân tính mà con người phải không ngừng hướng tới. Đặt trong mạch thơ trước đó, khi thiên nhiên hiện lên với dáng vẻ ân cần và chở che như cha mẹ qua những hình ảnh “tiếng lá động ân cần như tiếng mẹ”, “vòm trời mong ngóng lại như cha”, thì “NGƯỜI” ở đây còn là một lời nhắc nhở lặng lẽ mà nghiêm khắc đồng thời thể hiện sự trân trọng nâng niu với những gì thiên nhiên, tạo hóa đã ban tặng cho con người. Con người được nuôi dưỡng, bao bọc bởi trời đất, bởi sự sống bao dung của thiên nhiên, thì cũng phải biết sống sao cho xứng đáng với sự chở che ấy. Động từ “gọi” trong câu thơ không mang sắc thái mệnh lệnh hay áp đặt, mà như một tiếng đánh thức lương tri, một lời nhắc khẽ nhưng sâu sắc. Còn “ngân nga” lại gợi sự vang vọng bền bỉ, âm thầm mà dai dẳng, giống như tiếng nói của đạo lí không ngừng vọng lên trong tâm thức con người, dù ở bất cứ thời điểm hay hoàn cảnh nào. Như Erich Fromm từng nói “Làm người không phải là tồn tại, mà là trở thành”. “NGƯỜI” trong thơ Thi Hoàng vì thế không phải là một danh xưng sẵn có, mà là một lý tưởng đạo đức phải không ngừng vươn tới. Qua câu thơ này, nhà thơ khẳng định rằng làm người không chỉ là hiện hữu giữa cuộc đời, mà là một quá trình tự ý thức, tự đối diện và tự hoàn thiện mình trong mối quan hệ với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính lương tâm. Bởi vậy, bài thơ khép lại không bằng một hình ảnh cụ thể, mà bằng một dư âm triết lí sâu xa, để lại trong người đọc không chỉ cảm giác rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn là sự thôi thúc suy ngẫm về ý nghĩa và trách nhiệm của việc mang “tên NGƯỜI” trong cuộc đời rộng lớn này.
“Đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh ta là một nửa việc làm. Dù bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp. Không chỉ đơn giản là đẹp mà còn đẹp một cách riêng. Đối với nhà thơ, tìm cho ra bút pháp của mình nghĩa là trở thành nhà thơ” (Raxun Gamzatốp). Thật vậy, để chuyển tải những tầng ý nghĩa giàu tính nhân sinh trong Ở giữa cây và nền trời, ông không lựa chọn lối biểu đạt trực tiếp hay giảng giải khô cứng, mà gửi gắm tư tưởng qua một chỉnh thể nghệ thuật giàu tính biểu tượng, nơi thể thơ, cấu tứ và giọng điệu hòa quyện chặt chẽ. Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ với độ dài vừa phải, tạo nên nhịp điệu chậm rãi, khoan thai, rất phù hợp với giọng thơ chiêm nghiệm, trầm lắng vốn là nét đặc trưng trong phong cách Thi Hoàng. Chính nhịp điệu ấy giúp cảm xúc không bị dồn nén gấp gáp, cũng không buông lơi hời hợt, mà lan tỏa đều đặn theo dòng liên tưởng từ cảnh sắc thiên nhiên đến những suy tư về cách làm người. Trên nền thể thơ ấy, cấu tứ bài thơ được tổ chức một cách tự nhiên nhưng có định hướng rõ ràng, vận động từ cảnh đến người, từ cảm xúc thẩm mĩ đến chiều sâu triết lí. Trước hết là bức tranh buổi chiều xanh ngát, nơi cây, trời, mầm non và mặt trời hiện lên trong trạng thái căng tràn sức sống và khát vọng vươn lên. Từ đó, thiên nhiên dần được nhân hóa, trở thành cha mẹ, thành người bạn đạo đức hiền hòa, âm thầm nhắc nhở con người phải sống tốt hơn, không hờ hững, không trốn tránh trách nhiệm. Cuối cùng, từ cuộc đối thoại lặng lẽ với thiên nhiên, bài thơ đi tới suy ngẫm nhân sinh sâu sắc, tôn vinh tên gọi “Người” như một giá trị tinh thần cao quý gắn với nhân nghĩa, bản lĩnh và ý thức sống có trách nhiệm. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa thể thơ tám chữ ổn định, cấu tứ ba tầng có chiều sâu và giọng thơ giàu liên tưởng, Ở giữa cây và nền trời không chỉ đẹp ở cảnh sắc, mà còn bền vững ở tư tưởng, dẫn người đọc từ một khoảnh khắc thiên nhiên cụ thể đến một suy tưởng lớn về phẩm giá và lý tưởng làm người.
Ngôn ngữ và hình ảnh trong Ở giữa cây và nền trời là hai phương diện nghệ thuật gắn bó chặt chẽ, cùng góp phần tạo nên chiều sâu tư tưởng và sức lay động bền bỉ của thi phẩm. Thi Hoàng sử dụng ngôn ngữ thơ một cách tinh luyện, giàu sức gợi và đậm tính biểu tượng, khiến thiên nhiên không chỉ hiện ra bằng màu sắc và hình khối mà còn bằng nhịp đập của cảm xúc và suy tưởng. Hệ thống động từ mạnh như “vặn mình”, “rút ruột”, “nâng mầm” không đơn thuần miêu tả trạng thái vận động mà truyền vào cảnh vật một nguồn sinh lực căng tràn, quyết liệt, gợi cảm giác thiên nhiên đang tự hiến dâng để làm nên sự sống và vẻ đẹp. Ngôn ngữ vì thế mang tính tạo hình rõ nét, vừa giàu nhạc điệu vừa hàm chứa chiều sâu nhân sinh, đặc biệt khi được đặt trong sự đan xen giữa những câu thơ cảm thán giàu rung động và những câu thơ mang sắc thái nhắc nhở, thôi thúc, tạo nên một giọng điệu vừa tha thiết vừa nghiêm cẩn. Trên nền ngôn ngữ ấy, hệ thống hình ảnh thơ được xây dựng nhất quán và giàu ý nghĩa biểu tượng. Sắc xanh xuất hiện với nhiều cung bậc “xanh ngát”, “xanh mãi”, “biếc”, “diệp lục” không chỉ là màu của cỏ cây trời đất mà trở thành biểu tượng của sự sống, hi vọng và khát vọng vươn lên không ngừng. Thiên nhiên còn được nhân hóa tinh tế khi lá mang dáng dấp người mẹ ân cần, vòm trời như người cha mong ngóng, mặt trời được ví như “trái tim nồng nhiệt”, từ đó khoác lên cảnh vật những phẩm chất, tâm hồn, tính cách của con người, biến thiên nhiên thành điểm tựa tinh thần và chuẩn mực đạo đức cho con người. Bên cạnh vẻ đẹp trữ tình, các hình ảnh ẩn dụ như “bọt bể”, “mầm”, “chiều nhân nghĩa” mở ra chiều sâu triết lí, vừa phê phán lối sống hời hợt, vô nghĩa, vừa khẳng định trách nhiệm nâng đỡ, gìn giữ sự sống và nhân cách. Qua ngôn ngữ giàu sức gợi và hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng ấy, Thi Hoàng khẳng định thiên nhiên không chỉ để chiêm ngưỡng, mà còn là tấm gương lớn để con người soi chiếu, tự vấn và hoàn thiện mình trong hành trình làm Người.
Ở giữa cây và nền trời vừa là một bức tranh thiên nhiên trong trẻo, mãnh liệt, vừa là một suy tưởng nhân sinh sâu sắc của Thi Hoàng. Thiên nhiên trong bài thơ không chỉ đẹp để chiêm ngưỡng mà còn mang dáng vẻ của những sinh thể sống động, biết vươn lên, biết hiến dâng và bao dung, từ đó âm thầm soi chiếu và thức tỉnh con người. Trước vẻ đẹp cao cả ấy, con người không thể hờ hững hay buông xuôi, mà bị thôi thúc phải tự hoàn thiện mình, phải sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn, xứng đáng với sự sống đang bao bọc mình. Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi giọng thơ trữ tình hòa quyện với chất triết lí, hệ thống hình ảnh giàu sức gợi và ngôn ngữ tinh luyện, giàu nhạc tính và chiều sâu suy tưởng. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung nhân văn và hình thức biểu đạt giàu liên tưởng đã làm cho thi phẩm không chỉ đẹp ở cảm xúc mà còn bền bỉ như một lời nhắc nhở về phẩm giá và cách làm Người giữa đất trời rộng lớn.
Ở giữa cây và nền trời khép lại bằng một dư âm lặng lẽ mà sâu xa, nơi vẻ đẹp của thiên nhiên hòa vào tiếng gọi của lương tri con người. Từ sắc xanh của trời cây, Thi Hoàng không chỉ gợi lên một thế giới sống động và cao cả, mà còn âm thầm nâng con người lên trước câu hỏi về cách sống, về trách nhiệm và phẩm giá làm Người. Bài thơ vì thế vượt ra khỏi khuôn khổ của một bức tranh phong cảnh để trở thành một suy tưởng nhân sinh giàu tính thức tỉnh, để lại trong lòng người đọc một lời nhắc nhở bền bỉ rằng chỉ khi sống nhân nghĩa, dấn thân và biết tự hoàn thiện trong cuộc sống hiện nay.