Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
VĂN BẢN 1
Cơ hội là điều có thật chứ không phải là kết quả của một sự may mắn hay tình cờ nào đó. Cơ hội luôn hiện hữu xung quanh chúng ta nhưng thường núp dưới cải bóng rủi ro hoặc thất bại tạm thời. Đó là lý do khiến rất nhiều người bỏ lỡ cơ hội của mình. Gục ngã hoàn toàn sau thất bại đầu tiên và không bao giờ đứng dậy được nữa, họ không nhận ra rằng, đằng sau mỗi thất bại luôn ẩn chứa một cơ hội mới.
Nhiều người tin rằng thành công là kết quả của những bước ngoặt may mắn. Dù không thể phủ nhận sự may mắn, nhưng nếu chỉ trông chờ vào yếu tố này, thì gần như bạn sẽ luôn thất vọng. Bước ngoặt duy nhất mà bất kì ai cũng có thể dựa vào là bước ngoặt do chính họ tạo ra hoặc biết nắm bắt cơ hội mà cuộc sống mang đến cho mình.
Để làm được điều này, trước hết bạn hãy cố gắng nhận ra cơ hội của mình, đồng thời phân tích những thuận lợi và thách thức mà nó mang lại. Biến cơ hội thành hiện thực nghĩa là bạn sẵn lòng làm những công việc, từ đơn giản nhất, và cố gắng hoàn thành chúng một cách triệt để. Điều này cũng đồng nghĩa với việc bạn phải biết tận dụng từng phút giây quý báu của mình và làm phần việc được giao tốt hơn phạm vi trách nhiệm của bạn.
Những việc lớn lao thường tiềm ẩn và bắt đầu từ những cơ hội nhỏ nhặt mà chỉ người can đảm, kiên nhẫn mới có thể nhìn thấy. Nếu bỏ lỡ hoặc không nhận ra cơ hội trong quá khứ thì bạn sẽ khó lòng nắm bắt được cơ hội trong tương lai, khi chúng ngụy trang dưới những dạng thức khác nhau. Khi biết tận dụng cơ hội nhỏ nhất thì những cơ hội lớn sẽ đến với bạn một cách tự nhiên, và bạn hoàn toàn có thể nắm bắt được chúng. Cuộc sống hiện đại mang đến cho con người nhiều cơ hội để vươn lên và tự khẳng định bản thân. Bạn sẽ làm gì với những cơ hội ấy, nắm bắt và tận dụng chúng hay để chúng trôi qua trong vô nghĩa? Cơ hội luôn nằm trong tầm tay những người can đảm và kiên nhẫn nhưng lại thành “chuyện đã rồi” của kẻ hèn nhát. Thế nên, hãy tìm kiếm cơ hội của mình bằng cách chịu khó suy nghĩ, lắng nghe và quan sát cuộc sống xung quanh.
(Không gì là không thể - George Matthew Adams, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr.60-61)
Câu 1 [1072898]: Theo văn bản, cơ hội thường ẩn chứa dưới những hình thức nào?
A, Cơ hội thường xuất hiện dưới dạng các phần thưởng rõ ràng và lớn lao, dễ nhận biết trong cuộc sống.
B, Cơ hội thường ẩn giấu dưới bóng rủi ro hoặc thất bại tạm thời, khiến nhiều người không nhận ra hoặc e ngại khi đối mặt với nó.
C, Cơ hội thường đến từ những sự kiện may mắn, mang tính bất ngờ hơi có chút rủi ro mà con người không cần phải nỗ lực để tạo ra.
D, Cơ hội thường ẩn giấu dưới bóng của sự thất bại tạm thời, thường được nhìn thấy thông qua thành công hoặc thành tựu của những người đi trước, trở thành động lực để người khác noi theo.
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn mở đầu: “Cơ hội luôn hiện hữu xung quanh chúng ta nhưng thường núp dưới cái bóng rủi ro hoặc thất bại tạm thời… đằng sau mỗi thất bại luôn ẩn chứa một cơ hội mới.”
Từ đây, có thể suy ra:
• Cơ hội không lộ diện rõ ràng mà đi kèm rủi ro, thất bại.
• Vì bị “ngụy trang”, nhiều người ngại đối mặt nên không nhận ra.
Đáp án B đúng vì: Phù hợp trực tiếp với mô tả “núp dưới bóng rủi ro hoặc thất bại tạm thời”. Đáp án: B
Câu 2 [1072899]: Vì sao tác giả cho rằng nhiều người bỏ lỡ cơ hội?
A, Nhiều người bỏ lỡ cơ hội vì họ bị gục ngã sau thất bại đầu tiên, không đủ nhạy bén hoặc thông minh để nhận ra những cơ hội đang hiện hữu xung quanh mình.
B, Nhiều người bỏ lỡ cơ hội vì họ bị gục ngã sau thất bại đầu tiên và không đủ can đảm hoặc ý chí để đứng dậy, tiếp tục tìm kiếm những cơ hội mới.
C, Nhiều người bỏ lỡ cơ hội vì họ không nhận được sự hỗ trợ sau những thất bại đầu tiên và không được giúp đỡ từ những người khác, khiến họ thiếu tự tin để hành động.
D, Nhiều người bỏ lỡ cơ hội vì họ bị gục ngã sau thất bại đầu tiên, họ không tin tưởng vào khả năng của chính mình, dẫn đến việc không dám đối mặt với thách thức.
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn mở đầu: “Gục ngã hoàn toàn sau thất bại đầu tiên và không bao giờ đứng dậy được nữa… họ không nhận ra… đằng sau mỗi thất bại… cơ hội mới.”
Từ đây, có thể suy ra:
• Lý do bỏ lỡ cơ hội là buông xuôi sau cú ngã đầu, thiếu can đảm tiếp tục.
Đáp án B đúng vì: Nêu trúng nguyên nhân “không vượt qua được thất bại đầu tiên”. Đáp án: B
Câu 3 [1072900]: Câu nói "Cơ hội luôn nằm trong tầm tay những người can đảm và kiên nhẫn" gợi lên điều gì về phẩm chất cần thiết để đạt được thành công?
A, Thành công đòi hỏi mỗi cá nhân phải có sự dũng cảm đối mặt với những khó khăn, thách thức và đồng thời thể hiện sự kiên nhẫn để tìm kiếm và nắm bắt các cơ hội.
B, Thành công đòi hỏi mỗi cá nhân phải có sự dũng cảm đối mặt với những khó khăn, thách thức và đồng thời thể hiện sự kiên nhẫn để tìm kiếm và nắm bắt các cơ hội.
C, Thành công đòi hỏi mỗi cá nhân phải có sự dũng cảm đối mặt với những khó khăn, thách thức và kiên nhẫn chờ đợi vào sự may mắn do cơ hội mới mở ra.
D, Kiên nhẫn và dũng cảm thử sức với lĩnh vực mới là yếu tố duy nhất quyết định thành công
Thông tin căn cứ trong văn bản: Đoạn kết: “Cơ hội luôn nằm trong tầm tay những người can đảm và kiên nhẫn…”
Từ đây, có thể suy ra: Hai phẩm chất cốt lõi để nắm bắt cơ hội là dũng cảm đối diện thách thức và kiên nhẫn bền bỉ.
Đáp án A đúng vì: Giải thích đúng nội hàm “can đảm” và “kiên nhẫn” gắn với việc nhận ra và nắm bắt cơ hội. Đáp án: A
Câu 4 [1072901]: Văn bản cho rằng "Những việc lớn lao thường bắt đầu từ những cơ hội nhỏ nhặt." Điều này có ý nghĩa gì đối với cách bạn tiếp cận các công việc trong cuộc sống?
A, Những cơ hội nhỏ không thực sự quan trọng, bạn chỉ cần tập trung hoàn toàn vào những kế hoạch lớn và dài hạn để đạt được mục tiêu.
B, Những cơ hội nhỏ, nếu được tận dụng một cách triệt để, có thể trở thành bước đệm vững chắc cho các mục tiêu lớn. Vì vậy, cần nghiêm túc, tận tâm trong việc hoàn thành tốt mọi công việc, dù nhỏ nhặt nhất.
C, Hãy đầu tư toàn năng lực, thời gian phát triển những cơ hội nhỏ hướng tới những mục tiêu lớn hơn thì bạn mới có thể đạt được thành tựu nhanh chóng.
D, Những cơ hội nhỏ có thể mang lại lợi ích nên chúng ta không được bỏ qua, hãy tận dụng một cách triệt để mới không bị mất đi cơ hội trong tương lai.
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn 4: “Những việc lớn lao thường tiềm ẩn và bắt đầu từ những cơ hội nhỏ nhặt… Khi biết tận dụng cơ hội nhỏ nhất thì những cơ hội lớn sẽ đến…”
Đoạn 3: “Biến cơ hội thành hiện thực… làm những công việc từ đơn giản nhất… tận dụng từng phút giây… làm tốt hơn phạm vi trách nhiệm.”

Từ đây, có thể suy ra: Nghiêm túc với việc nhỏ tạo đà cho mục tiêu lớn.
Đáp án B đúng vì: Nhấn mạnh thái độ tận tâm với “cơ hội nhỏ” như nền tảng cho “việc lớn”. Đáp án: B
Câu 5 [1072902]: Tác giả viết: "Bạn sẽ làm gì với những cơ hội ấy, nắm bắt và tận dụng chúng hay để chúng trôi qua trong vô nghĩa?" Điều này khuyến khích chúng ta điều gì trong việc ra quyết định?
A, Cần có thái độ chủ động trong việc tìm kiếm và lắng nghe những cơ hội xung quanh mình, đồng thời phân tích kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định, thay vì chờ đợi cơ hội tự đến.
B, Nên chờ đợi cho đến khi cơ hội trở nên rõ ràng, chắc chắn và không còn rủi ro sau đó chủ động đưa ra quyết định chớp lấy cơ hội để tránh các sai lầm không đáng có.
C, Tránh quyết định một cách vội vàng và cảm tính, cần dành thời gian để cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ cần tập trung vào những cơ hội lớn hoặc quan trọng, không nên dành quá nhiều thời gian cho những điều nhỏ nhặt vì chúng không ảnh hưởng nhiều đến mục tiêu lớn.
D, Cần có thái độ chủ động trong việc tìm kiếm và lắng nghe những cơ hội xung quanh mình, tránh quyết định một cách vội vàng và cảm tính, cần dành thời gian để cân nhắc kỹ lưỡng, dù điều đó có thể khiến bạn bỏ qua một số cơ hội nhỏ.
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn 5 nêu câu hỏi định hướng: “Bạn sẽ làm gì với những cơ hội ấy, nắm bắt và tận dụng hay để chúng trôi qua…? Hãy tìm kiếm cơ hội của mình bằng cách suy nghĩ, lắng nghe và quan sát…”
Đoạn 3: “Nhận ra cơ hội, đồng thời phân tích những thuận lợi và thách thức…”

Từ đây, có thể suy ra:Thái độ đúng là chủ động tìm kiếm, lắng nghe, quan sát và phân tích trước khi quyết định.
Đáp án A đúng vì: Kết hợp cả yêu cầu chủ động nhận diện cơ hội và cân nhắc kỹ lưỡng trước hành động, đúng tinh thần các đoạn 3 và 5. Đáp án: A
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.
Tùy bút: Một thứ quà của lúa non: Cốm
Cơn gió mùa thu hạ lướt qua vùng sen trên hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá, như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết. Các bạn có ngửi thấy, khi đi qua những cánh đồng xanh, mà hạt thóc nếp đầu tiên làm trĩu thân lúa còn tươi, ngửi thấy cái mùi thơm mát của bông lúa non không? Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ. Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đông lại, bông lúc càng ngày càng cong xuống, nặng vì cái chất quý trong sạch của Trời.
Đợi đến lúc vừa nhất, mà chỉ riêng những người chuyên môn mới định được, người ta gặt mang về. Rồi đến một loạt cách chế biến, những cách thức làm, truyền tự đời này sang đời khác, một sự bí mật trân trọng và khe khắt giữ gìn, các cô gái Vòng làm ra thứ cốm dẻo và thơm ấy. Tất nhiên là nhiều nơi cũng biết cách thức làm cốm, nhưng không có đâu làm được cốm dẻo, thơm và ngon được ở làng Vòng, gần Hà Nội. Tiếng cốm Vòng đã lan khắp tất cả ba kỳ, và đến mùa cốm, các người ở Hà Nội 36 phố phường vẫn thường ngóng trông cô hàng cốm xinh xinh, áo quần gọn ghẽ, với cái dấu hiệu đặc biệt là cái đòn gánh hai đầu cong vút lên như chiếc thuyền rồng ...
Cốm là thức quà đặc biệt riêng của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ Việt Nam. Ai nghĩ đầu tiên dùng cốm để làm quà siêu tết? Không có gì hợp hơn với sự vương vít của tơ hồng, thức quà trong sạch, trung thành như các việc lễ nghi. Hồng cốm tốt đôi... Và không bao giờ có hai màu lại hòa hợp hơn nữa: màu xanh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng như ngọc lựu già. Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được lâu bền. (Thật đáng tiếc khi chúng ta thấy những tục lệ tốt đẹp ấy mất dần, và những thức quý của đất mình thay dần bằng những thức bóng bẩy hào nháng và thô kệch bắt chước nước ngoài: những kẻ mới giàu vô học có biết đâu thưởng thức được những vẻ cao quý kín đáo và nhũn nhặn?)
Cốm không phải là thức quà của người vội; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại cả trong hương vị ấy, cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc. Thêm vào cái mùi hơi ngát của lá sen già, ướp lấy từng hạt cốm một, còn giữ lại cái ấm áp của những ngày mùa hạ trên hồ. Chúng ta có thể nói rằng trời sinh lá sen để bao bọc cốm, cũng như trời sinh cốm nằm ủ trong lá sen, chúng ta thấy hiện ra từng lá cốm, sạch sẽ và tinh khiết, không có mảy may chút bụi nào. Hỡi các bà mua hàng! Chớ có thọc tay mân mê thức quà thần tiên ấy, hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ, chút chiu mà vuốt ve… Phải nên kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo léo của người, và sự cố tiềm tàng và nhẫn nại của thần Lúa. Sự thưởng thức của các bà sẽ được trang nhã và đẹp đẽ hơn và cái vui cũng sẽ tươi sáng hơn nhiều lắm.
Tác giả: Thạch Lam
Câu 6 [1072908]: Vì sao Thạch Lam cho rằng cốm là món quà không dành cho “người vội”?
A, Bởi khi thưởng thức cốm cần sự thong thả, nhẹ nhàng để cảm nhận hương vị độc đáo.
B, Bởi vì cốm gắn với những giá trị truyền thống, cần sự trân trọng và hiểu biết.
C, Do cốm không phải món ăn phổ biến mà chỉ xuất hiện vào mùa nhất định.
D, Bởi vì cốm có giá trị cao, chỉ dành cho những người biết thưởng thức tinh tế.
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn 4: “Cốm không phải là thức quà của người vội; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại cả trong hương vị ấy…”
Từ đây, có thể suy ra: Tác giả đòi hỏi cách thưởng thức chậm rãi, từ tốn để cảm hết hương, sắc và vị của cốm.
Đáp án A đúng vì:Nêu trúng yêu cầu “thong thả, nhẹ nhàng” khi ăn cốm để cảm nhận hương vị độc đáo. Đáp án: A
Câu 7 [1072909]: Tại sao Thạch Lam cho rằng “trời sinh lá sen để bao bọc cốm”?
A, Vì lá sen có màu sắc xanh hài hòa, tạo sự đồng điệu với màu sắc của cốm, giúp cốm trở nên bắt mắt hơn.
B, Vì lá sen bảo quản cốm sạch sẽ, giữ được sự tinh khiết và hương vị dịu mát đặc trưng, làm tôn thêm giá trị tự nhiên của cốm.
C, Vì lá sen góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ, làm cốm trở thành một món quà trân quý và đậm chất truyền thống.
D, Vì lá sen mang biểu tượng thanh tao, tạo sự liên kết tinh tế giữa vẻ đẹp của thiên nhiên và nét văn hóa truyền thống của cốm..
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn 4: “Thêm vào cái mùi hơi ngát của lá sen già, ướp lấy từng hạt cốm một… Chúng ta có thể nói rằng trời sinh lá sen để bao bọc cốm… chúng ta thấy hiện ra từng lá cốm, sạch sẽ và tinh khiết, không có mảy may chút bụi nào.”
Từ đây, có thể suy ra: Lá sen vừa ướp hương, vừa bao bọc, giữ cốm sạch và tinh khiết, làm trọn vị dịu mát của cốm.
Đáp án B đúng vì: Nhấn mạnh chức năng bảo quản và ướp hương của lá sen, tôn giá trị tự nhiên của cốm Đáp án: B
Câu 8 [1072910]: Nhà văn Thạch Lam đã so sánh cốm với “thức quà thức quà đặc biệt riêng của đất nước”. Điều này phản ánh quan điểm gì về giá trị của cốm trong văn hóa ẩm thực Việt Nam?
A, Cốm là món ăn mang hương vị thuần tự nhiên, mộc mạc nhưng vẫn toát lên sự thanh cao, thể hiện nét đẹp giản dị trong văn hóa ẩm thực Việt Nam.
B, Cốm là sản phẩm kết tinh từ thiên nhiên và bàn tay khéo léo của con người Việt Nam, là biểu tượng cho sự hài hòa giữa con người và tự nhiên.
C, Cốm không chỉ phản ánh tinh thần thanh đạm và giản dị của người Việt, mà còn đại diện cho giá trị văn hóa sâu sắc, làm nổi bật sự tinh tế và ý nghĩa trong nền ẩm thực truyền thống.
D, Cốm là một trong những món ăn truyền thống tiêu biểu, mang đậm tính dân tộc, vừa giản dị vừa cao quý, đại diện cho văn hóa ẩm thực Việt Nam.
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn 1–2: “thức quà thanh nhã và tinh khiết”; “Cốm là thức quà đặc biệt riêng của đất nước… mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ Việt Nam.”
Đoạn 4: “trong màu xanh của cốm… trong chất ngọt của cốm… dịu dàng thanh đạm…”

Từ đây, có thể suy ra:
• Cốm kết tinh sự thanh đạm, giản dị mà tinh tế của ẩm thực Việt; giá trị không chỉ ở vị ngon mà ở chiều sâu văn hóa.
Đáp án C đúng vì:
• Phản ánh quan niệm của Thạch Lam: cốm đại diện cho vẻ đẹp tinh tế, ý nghĩa văn hóa của ẩm thực truyền thống. Đáp án: C
Câu 9 [1072911]: Tại sao Thạch Lam cho rằng tục lệ “hồng cốm” đang bị mai một là điều đáng tiếc?
A, Vì tục lệ “hồng cốm” không chỉ là sự kết hợp đặc sắc về màu sắc và hương vị, mà còn là một nét đẹp trong văn hóa truyền thống Việt Nam, biểu tượng cho sự hòa hợp và gắn bó.
B, Vì sự kết hợp giữa hồng và cốm tạo ra một biểu tượng độc đáo của ẩm thực truyền thống Việt Nam, phản ánh sự sáng tạo và tinh tế trong phong tục dân gian.
C, Vì sự mai một của tục lệ “hồng cốm” phản ánh lối sống hiện đại “những thức quý của đất mình thay dần bằng những thức bóng bẩy hào nháng và thô kệch bắt chước nước ngoài” đang dần thay thế các giá trị truyền thống, khiến con người trở nên xa rời nguồn cội văn hóa.
D, Vì việc không giữ gìn những phong tục truyền thống như “hồng cốm” sẽ làm mất đi những giá trị tinh thần sâu sắc gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc.
Thông tin căn cứ trong văn bản:
Đoạn 3: “Hồng cốm tốt đôi… không bao giờ có hai màu lại hòa hợp hơn… Thật đáng tiếc khi chúng ta thấy những tục lệ tốt đẹp ấy mất dần, và những thức quý của đất mình thay dần bằng những thức bóng bẩy hào nháng và thô kệch bắt chước nước ngoài…”
Từ đây, có thể suy ra: Sự mai một của “hồng cốm” là hệ quả của lối sính ngoại, khiến giá trị truyền thống phai nhạt.
Đáp án C đúng vì: Nêu đúng mối lo của tác giả: tục lệ đẹp mất dần do thay thế bằng “thức” bắt chước ngoại, kéo theo xa rời cội nguồn văn hóa. Đáp án: C
Câu 10 [1072912]: Chi tiết “chớ có thọc tay mân mê thức quà thần tiên ấy” thể hiện điều gì về cách nhìn nhận của Thạch Lam đối với việc thưởng thức cốm và bài học gì có thể rút ra trong cách đối xử với các giá trị truyền thống?
A, Cốm là một thức quà quý giá, yêu cầu nhẹ nhàng và tinh tế khi thưởng thức cốm, không chỉ mang giá trị ẩm thực mà còn là biểu tượng văn hóa, cần được đối xử một cách nâng niu và kính trọng trong mỗi lần thưởng thức.
B, Sự yêu cầu nhẹ nhàng và tinh tế khi thưởng thức cốm thể hiện thái độ kính trọng của Thạch Lam đối với những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời nhấn mạnh cách trân quý những món ăn mang đậm ý nghĩa dân tộc.
C, Thạch Lam thông qua chi tiết này đã gửi gắm lời nhắc nhở về ý thức bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống, xem việc trân trọng cốm như cách giữ gìn những giá trị tinh thần quý báu.
D, Việc yêu cầu nhẹ nhàng trong cách thưởng thức cốm cho thấy cốm không chỉ là thức quà dân dã mà còn là cầu nối giữa con người và thiên nhiên, đòi hỏi thái độ tôn trọng và sự cảm nhận sâu sắc.
Thông tin căn cứ trong văn bản: Đoạn 4: “Hỡi các bà mua hàng! Chớ có thọc tay mân mê thức quà thần tiên ấy, hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ, chút chiu mà vuốt ve… Phải nên kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo léo của người…”
Từ đây, có thể suy ra: Thưởng thức cốm cần thái độ trân trọng, tinh tế; đó cũng là cách ứng xử với giá trị truyền thống.
Đáp án B đúng vì: Chi tiết nhấn mạnh thái độ kính trọng đối với món quà văn hóa; bài học là trân quý, nâng niu di sản trong từng hành vi thưởng thức. Đáp án: B
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1072913]: Roy T. Bennett từng chia sẻ: “Chỉ khi bạn bước ra khỏi vùng an toàn, bạn mới bắt đầu thay đổi, trưởng thành và biến đổi.”
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm trên?
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Trong cuộc sống, con người luôn có xu hướng tìm kiếm sự an toàn và thoải mái trong những gì quen thuộc. Tuy nhiên, chính sự an toàn ấy đôi khi lại trở thành rào cản khiến ta ngại thay đổi, sợ rủi ro và không dám bước ra khỏi giới hạn của bản thân. Câu nói của Roy T. Bennett: “Chỉ khi bạn bước ra khỏi vùng an toàn, bạn mới bắt đầu thay đổi, trưởng thành và biến đổi.” là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của sự dám thử thách và dám vượt qua nỗi sợ để hoàn thiện chính mình.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích

▪ “Vùng an toàn” là phạm vi mà con người cảm thấy quen thuộc, dễ chịu, không gặp thử thách hay rủi ro.
▪ “Bước ra khỏi vùng an toàn” là dám đương đầu với những điều mới mẻ, thử thách và khó khăn để phát triển bản thân. → Ý nghĩa của câu nói: Chỉ khi dám đối mặt với thử thách, dám bước ra khỏi sự an toàn quen thuộc, con người mới thật sự trưởng thành, thay đổi tư duy và phát triển tiềm năng của chính mình.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
▪ Vùng an toàn có thể mang lại cảm giác bình yên, nhưng đồng thời cũng giới hạn sự phát triển của con người. Khi con người ngại thay đổi, họ dễ rơi vào sự trì trệ, thụ động và đánh mất cơ hội tiến xa hơn.
▪ Việc bước ra khỏi vùng an toàn là khởi đầu của sự trưởng thành và sáng tạo. Thử thách mới giúp con người rèn luyện bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm và tìm thấy khả năng tiềm ẩn mà chính họ chưa từng nhận ra.
▪ Thế giới luôn thay đổi không ngừng, và chỉ những người dám thích nghi, dám vượt giới hạn mới có thể tồn tại và thành công trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Dám bước ra khỏi vùng an toàn cũng là dám đối diện với nỗi sợ hãi, thất bại để học hỏi và hoàn thiện chính mình.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
Steve Jobs từng bỏ học, dám đi theo con đường sáng tạo riêng để xây dựng nên Apple – biểu tượng của công nghệ hiện đại.
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
Tuy nhiên, bước ra khỏi vùng an toàn không có nghĩa là liều lĩnh hoặc mù quáng. Nếu không có mục tiêu rõ ràng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, con người dễ rơi vào thất bại và mất phương hướng. Vì vậy, dám thử thách cần đi kèm với tư duy phản biện, khả năng phân tích rủi ro và tinh thần cầu thị để mỗi bước đi đều mang lại giá trị thật sự. Ngược lại, những ai mãi “trú ẩn” trong vùng an toàn sẽ khó phát triển và đánh mất cơ hội trải nghiệm những điều mới mẻ mà cuộc sống mang lại.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
Mỗi người cần nhận thức rằng thay đổi và thử thách là quy luật tất yếu của sự phát triển. Muốn trưởng thành, phải dám bước ra khỏi giới hạn của mình, dám thất bại để học cách đứng lên. Hãy bắt đầu từ những thay đổi nhỏ: thử sức ở lĩnh vực mới, dấn thân vào công việc khó hơn, mở rộng kỹ năng và trải nghiệm. Đặc biệt, người trẻ cần nuôi dưỡng tinh thần dũng cảm, không ngại thất bại, bởi chính thất bại là nền móng để trưởng thành và vững vàng hơn trong tương lai.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Câu nói của Roy T. Bennett chứa đựng bài học quý giá: chỉ khi vượt qua vùng an toàn, con người mới thật sự tìm thấy khả năng tiềm ẩn và giá trị sống đích thực của mình. Trong hành trình phát triển, “an toàn” không phải là đích đến, mà là điểm xuất phát cho những bước nhảy vọt của ý chí và bản lĩnh. Bởi lẽ, cuộc sống chỉ thật sự bắt đầu khi ta dám bước ra khỏi giới hạn của chính mình.
Đoạn văn tham khảo:
Trong cuộc sống, con người thường có xu hướng tìm đến sự an toàn và thoải mái. Thế nhưng, chính sự an toàn ấy đôi khi lại trở thành rào cản vô hình khiến con người ngại thay đổi, sợ rủi ro và chùn bước trước những giới hạn của chính mình. Câu nói của Roy T. Bennett “Chỉ khi bạn bước ra khỏi vùng an toàn, bạn mới bắt đầu thay đổi, trưởng thành và biến đổi.” vì thế vang lên như một lời đánh thức, gợi nhắc con người về giá trị sâu xa của sự dám dấn thân và dám vượt qua nỗi sợ để hoàn thiện bản thân. “Vùng an toàn” là phạm vi mà con người cảm thấy quen thuộc, dễ chịu, không gặp thử thách hay rủi ro. “Bước ra khỏi vùng an toàn” là dám đương đầu với những điều mới mẻ, thử thách và khó khăn để phát triển bản thân. Câu nói ngụ ý: Chỉ khi dám đối mặt với thử thách, dám bước ra khỏi sự an toàn quen thuộc, con người mới thật sự trưởng thành, thay đổi tư duy và phát triển tiềm năng của chính mình. Khi quá quen với trạng thái an toàn, con người dễ rơi vào sự trì trệ âm thầm, sống bằng quán tính, đánh mất khát vọng vươn lên và khả năng tự làm mới mình. Như Heraclitus từng nói “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, cuộc sống luôn vận động không ngừng, và kẻ đứng yên sẽ bị dòng chảy thời gian lặng lẽ bỏ lại phía sau. Ở lâu trong vùng an toàn không khiến con người an toàn hơn, mà chỉ khiến họ chậm lại trong khi thế giới không ngừng tiến lên. Bước ra khỏi vùng an toàn vì thế chính là điểm khởi đầu của sự trưởng thành. Những thử thách mới buộc con người phải suy nghĩ khác đi, hành động khác đi, từ đó đánh thức năng lực tiềm ẩn và rèn luyện bản lĩnh sống. Eleanor Roosevelt từng khẳng định “Bạn phải làm điều mà bạn nghĩ rằng mình không thể làm được”. Chính khoảnh khắc đối diện với điều chưa biết, với nỗi sợ và sự bất định, con người mới nhận ra giới hạn cũ không phải là bức tường bất biến, mà chỉ là ranh giới do chính mình dựng lên. Mỗi lần vượt qua một thử thách, con người không chỉ tích lũy kinh nghiệm, mà còn mở rộng tầm nhìn và niềm tin vào bản thân. Hơn thế, trong một thế giới luôn biến đổi, dám bước ra khỏi vùng an toàn còn là điều kiện để con người tồn tại và thích nghi với sự đổi thay của thời đại. Thay đổi có thể kéo theo thất bại, nhưng thất bại không phải là dấu chấm hết, mà là một phần tự nhiên của hành trình trưởng thành. Như Winston Churchill từng nói “Thành công không phải là cuối cùng, thất bại không phải là kết thúc; điều quan trọng là lòng can đảm để tiếp tục”. Chính những lần vấp ngã ngoài vùng an toàn giúp con người hiểu mình hơn, vững vàng hơn và tiến gần hơn tới phiên bản tốt đẹp hơn của chính mình. Trong thực tế, chỉ những người dám rời bỏ sự an toàn quen thuộc mới có cơ hội khám phá trọn vẹn năng lực của bản thân. Câu chuyện của Steve Jobs là một minh chứng tiêu biểu. Việc ông bỏ học không phải là sự buông xuôi, mà là lựa chọn can đảm để theo đuổi con đường sáng tạo riêng. Chính quyết định ấy đã mở ra hành trình xây dựng Apple, biểu tượng của tinh thần đổi mới trong thế giới công nghệ hiện đại. Từ đó có thể thấy, bước ra khỏi vùng an toàn không phải là liều lĩnh mù quáng, mà là sự dũng cảm có định hướng, biết chấp nhận đánh đổi để biến tiềm năng thành giá trị thực. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng bước ra khỏi vùng an toàn không đồng nghĩa với hành động thiếu suy nghĩ. Nếu không có mục tiêu rõ ràng và sự chuẩn bị cần thiết, con người rất dễ rơi vào thất bại và mất phương hướng. Lão Tử từng nhắc nhở “Biết người là khôn, biết mình là sáng suốt”, dám dấn thân trước hết phải bắt đầu từ sự hiểu mình, hiểu năng lực và giới hạn của bản thân. Ở chiều ngược lại, việc mãi trú ẩn trong vùng an toàn cũng tiềm ẩn những rủi ro không kém, bởi sự ổn định kéo dài dễ làm thui chột ước mơ và đánh mất cơ hội. Mark Twain từng cảnh báo “Hai mươi năm nữa, bạn sẽ hối tiếc vì những điều bạn không làm hơn là những điều bạn đã làm”. Vì thế, lựa chọn đúng đắn không nằm ở an toàn tuyệt đối hay mạo hiểm cực đoan, mà ở sự can đảm có suy nghĩ, biết bước ra đúng lúc và đi xa bằng chính trí tuệ của mình. Con người không thể trưởng thành nếu chỉ sống mãi trong những giới hạn quen thuộc. Mỗi người cần bắt đầu từ những thay đổi nhỏ nhưng thiết thực, dám thử sức, dám học hỏi và dám mở rộng trải nghiệm. Lão Tử từng nhắc “Hành trình ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân”, mọi sự trưởng thành đều khởi đi từ những quyết định dũng cảm đầu tiên. Đặc biệt, người trẻ cần nuôi dưỡng tinh thần không sợ thất bại, bởi như Winston Churchill từng khẳng định “Thành công không phải là cuối cùng, thất bại cũng không phải là tận cùng, điều quan trọng là dũng khí để tiếp tục”. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn và kiên trì trước thử thách, con người mới thực sự lớn lên về bản lĩnh, trí tuệ và nhân cách.
Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
Câu 12 [1072914]: Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
Chợ
Có món ngon nào giá rẻ không em
gạo trắng rau tươi cá bơi tôm nhảy
người xưa bảo tiền nào của nấy
cái lẽ đời giản dị thế thôi ư?

Có đam mê nào giá rẻ không em
lời tâm huyết chiết ra từ máu đỏ
câu thơ thật đổi lấy đồng tiền giả
vã mồ hôi sôi nước mắt thắt lòng

Có yêu đương nào giá rẻ không em
ân ái đi qua nợ đời rơi vãi lại
còng lưng gánh tiếng cười con cái
thăm thẳm mai lởm chởm nhọc nhằn

Mẹ trót ru ta câu sấm mệnh con cò
thôi đừng trách cành tre sao mềm thế
đừng tưởng loanh quanh mọi người sống dễ
có hạnh phúc nào giá rẻ không em?

(Cuối đông năm Tân Mùi, 1991 – Nguyễn Duy)

1. Tác giả, tác phẩm:
Nguyễn Duy là một trong những tiếng thơ độc đáo của nền thi ca hiện đại Việt Nam sau 1975. Từng là người lính đi qua chiến tranh, lớn lên từ những mất mát đời thường và trưởng thành trong kháng chiến, thơ ông là sự hòa quyện giữa chất trữ tình sâu lắng với cái nhìn thế sự sắc lạnh, giữa nỗi đau nhân sinh và tinh thần công dân mạnh mẽ. Với Nguyễn Duy, thơ không chỉ để ngân rung cảm xúc mà còn là một hình thức chiêm nghiệm đời sống, chất vấn lẽ đời, mang giọng điệu khảng khái, bộc trực mà vẫn thấm đẫm tình thương. Ông cũng là một trong những gương mặt góp phần làm mới thể lục bát truyền thống, đưa vào đó mạch ngôn ngữ đời sống và cách biểu đạt hiện đại.
Bài thơ Chợ (viết cuối đông năm Tân Mùi 1991) là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ ấy. Không hoa mĩ, cầu kỳ, Nguyễn Duy đi thẳng vào trung tâm của câu hỏi hiện sinh: có điều gì trong cuộc đời này là “giá rẻ”? Từ thức ăn đến đam mê, từ tình yêu đến hạnh phúc, nhà thơ đặt ra những câu hỏi xoáy sâu vào bản chất của sự đánh đổi – nơi mọi giá trị đều được mua bằng máu, bằng mồ hôi, bằng nước mắt, và cả sự hi sinh thầm lặng của những con người “còng lưng gánh tiếng cười con cái”. Với giọng điệu tâm tình, giàu chiều sâu suy tưởng, bài thơ không chỉ phản ánh một góc nhìn cá nhân mà còn dẫn người đọc bước vào không gian chiêm nghiệm phổ quát, nơi mỗi câu hỏi đều hàm chứa một triết lí sống. Thơ Nguyễn Duy, vì vậy, không chỉ để đọc, mà để ngẫm, để soi lại chính mình trong cuộc đời vốn không có gì “giá rẻ” nếu ta sống thật.
✧ PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NỘI DUNG
⏺ Luận điểm 1: Không có món ngon, vật chất nào là “giá rẻ” đó là cái nhìn tỉnh táo về giá trị lao động và quy luật đời sống.
“Có món ngon nào giá rẻ không em
gạo trắng rau tươi cá bơi tôm nhảy
người xưa bảo tiền nào của nấy
cái lẽ đời giản dị thế thôi ư?”
• Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói: “Thơ chỉ bật ra trong tim khi cuộc sống đã thật tràn đầy”. (Tố Hữu) bởi vậy bằng những chiêm nghiệm và vốn sống của mình thi nhân mở đầu bài bài thơ bằng câu hỏi tu từ, chất vấn quan niệm sống dễ dãi: có món ngon nào giá rẻ không?.
• Tác giả mượn hình ảnh đời thường: gạo trắng, rau tươi, cá bơi, tôm nhảy gợi sự tươi ngon, chất lượng để nhấn mạnh rằng những giá trị đích thực luôn đòi hỏi sự đánh đổi. Từ những vấn đề đời sống hằng ngày, Nguyễn Duy đã khéo léo thổi hồn vào những hình ảnh giản dị mộc mạc để khái quát nên những triết lí, quy luật của đời sống. Bởi vậy, cái hay cái sâu sắc thường nằm ở khả năng khái quát của thi nhân vì “Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát li đời sống nghệ thuật nhất định sẽ khô héo.” (Phạm Văn Đồng).
• Câu tục ngữ “tiền nào của nấy” được đưa vào như một chân lý giản dị nhưng vẫn bị nghi vấn ở cuối khổ thơ đặt ra chiều sâu triết lý: phải chăng đời sống không chỉ đơn giản như thế? Vật chất tốt đẹp là kết quả của lao động, không thể có được bằng sự dễ dãi hay mua bán rẻ tiền.
⏺ Luận điểm 2: Không có đam mê, khát vọng nào là dễ dàng, từ đó khẳng định giá trị tinh thần nỗ lực cống hiến, dấn thân thậm chí là đánh đổi bằng cả máu và nước mắt.
“Có đam mê nào giá rẻ không em
lời tâm huyết chiết ra từ máu đỏ
câu thơ thật đổi lấy đồng tiền giả
vã mồ hôi sôi nước mắt thắt lòng”
• Câu hỏi tu từ đã khẳng định đam mê, sáng tạo, đặc biệt là thơ ca và nghệ thuật, chẳng có hề dễ dàng, cũng đắt gía hơn tất thảy. (Andecxen) từng khẳng định: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích do chính cuộc sống viết ra.” Và hình ảnh “lời tâm huyết chiết ra từ máu đỏ” ẩn dụ cho sự hi sinh, đau đớn của người nghệ sĩ khi sáng tạo nghệ thuật chân thành.
• Sự đối lập giữa “câu thơ thật” và “đồng tiền giả” phản ánh nỗi đau người nghệ sĩ khi giá trị thật bị đánh tráo, khi sáng tạo bị thương mại hóa. Bởi vậy, nghệ thuật chân chính thường là giá trị tinh thần, là tâm huyết, mồ hôi nước mắt và thậm chí là chắt lọc đắng cay của đời người cũng được đôir lấy đồng tiền. Đó dường như là bi kịch của người nghệ sĩ, như Nam Cao đã từng viết về bi kịch của kẻ sĩ: “áo cơm ghì sát đất”. Đam mê, lý tưởng chân chính không thể “giá rẻ”, mà luôn đòi hỏi đánh đổi bằng tâm huyết, lao lực, cả sự hi sinh tinh thần.
⏺ Luận điểm 3: Không có tình yêu thương nào giá rẻ, tình yêu gắn với trách nhiệm, với hiện thực đời sống khổ nhọc, lo toan, gánh vác bộn bề cuộc sống.
“Có yêu đương nào giá rẻ không em
ân ái đi qua nợ đời rơi vãi lại
còng lưng gánh tiếng cười con cái
thăm thẳm mai lởm chởm nhọc nhằn”
• “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy những ấn tượng có giá trị khái quát và làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng.” (mgoroky) bởi vậy ngay từ những câu thơ đầu tiên đã thấy được sự sâu sắc, triết lí và những ấn tượng riêng của Nguyễn Duy. Xưa kia khi nhắc đến tình yêu lứa đôi kể cả ca dao dân ca, kể cả cuộc đời tươi đẹp, tình yêu vẫn mang dư vị ngọt ngào, quyến luyến, là động lực thắp sáng nên niềm tin hi vọng trong cuộc sống. Nhưng đối với Nguyễn Duy. Ngay cả yêu thương, tình yêu đôi lứa bền chặt cũng gắn liền với trách nhiệm, đánh đổi từ cái nhìn, cảm nhận rất thực tế. Tình yêu không chỉ là cảm xúc lãng mạn mà còn là sự trách nhiệm, thử thách
• Tình yêu không chỉ là ân ái mà để lại “nợ đời”, “tiếng cười con cái” những trách nhiệm gắn liền với bổn phận làm cha mẹ, làm người. Hạnh phúc đôi lứa gắn liền với trách nhiệm gia đình, con cái. Đó là sự hi sinh hạnh phúc cá nhận, là vất vả nhọc nhằn,lo toan cơm áo gạo tiền đằng sau những ân ái, yêu thương.
• Danh họa Picasso từng nói: “Nghệ thuật không tái tạo những gì ta thấy đúng hơn là nó mở mắt cho ta”. bởi vậy nhà thơ Nguyễn Duy đã không ngần ngại sử dụng hàng loạt các cụm từ “còng lưng”, “thăm thẳm”, “lởm chởm”, “nhọc nhằn” gợi cảm giác nặng nề, nỗi gian truân đời thường mà tình yêu đích thực cần vượt qua. Đó là hình ảnh nuôi dạy con cái là hành trình gian lao nhưng cũng đầy ý nghĩa. Bởi vậy tình yêu luôn gắn liền với chấp nhận, gánh vác và hi sinh không thể có được nếu chỉ mua bằng cảm xúc.
⏺ Luận điểm 4: Hạnh phúc là sự đánh đổi từ đời sống, là kết tinh của lao lực, tình yêu và niềm tin
“Mẹ trót ru ta câu sấm mệnh con cò
thôi đừng trách cành tre sao mềm thế
đừng tưởng loanh quanh mọi người sống dễ
có hạnh phúc nào giá rẻ không em?”
⚬ Khổ kết như một lời chiêm nghiệm cuối đời, quay về với lời ru của mẹ biểu tượng truyền thống và dự báo số phận, không nên than trách khó khăn, vì cuộc đời vốn dĩ không dễ dàng.
⚬ Hình ảnh “con cò”, “cành tre mềm”, “sống dễ” gợi đến thân phận nhọc nhằn, cam chịu, và sự thật gai góc của đời sống. "Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa là một chi tiết chân thực còn cần đạt tới ý nghĩa tượng trưng, hàm chứa một cách nhìn, một cách đánh giá và năng lực tưởng tượng của nhà văn về cuộc sống và con người" (Bùi Việt Thắng). Hình ảnh con cò, cành tre gợi cho ta liên tưởng về bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/Ông ơi, ông vớt tôi nao, tôi có đồng nào ông hãy xào măng?” Đó không chỉ là bài ca dao về thân phận những kiếp người nhỏ bé, cơ cực mà còn khơi gợi ra. Cuộc đời con người vốn gắn với nhọc nhằn, vất vả từ khi sinh ra. Ai cũng có những gánh nặng riêng, không ai có hạnh phúc mà không phải đánh đổi, vất vả, cơ cực
⚬ Câu hỏi nhấn mạnh lại chủ đề trọng tâm: “có hạnh phúc nào giá rẻ không em?” như một lời thức tỉnh, một tiếng gọi về sự tỉnh táo trong lựa chọn lối sống, hạnh phúc. Chế Lan Viên đã từng viết: “Cái kết tinh của mỗi vần thơ và muối bể/Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu.” Chỉ một câu hỏi tu từ đơn giản như vừa khơi gợi cảm xúc, vừa thể hiện cảm xúc, giãi bày tâm tư, nhà thơ Nguyễn Duy như khơi gợi mở ra trước mắt bạn đọc chân lý: Hạnh phúc không đến dễ dàng; nó là kết tinh của hiểu biết, trách nhiệm, đam mê và hi sinh. khẳng định rằng mọi hạnh phúc trong đời đều phải trả giá bằng sự cố gắng, hy sinh và nỗ lực.
✧NGHỆ THUẬT
1. Thể thơ tự do quen thuộc

• Bài thơ được viết bằng thể thơ tự do không giới hạn về số chữ, tạo nên nhịp điệu linh hoạt, phù hợp để tác giả giải phóng cảm xúc, chất vấn, suy tư.
• Cách chia khổ đều đặn, mỗi khổ thơ là một câu hỏi lặp cấu trúc: “Có… nào giá rẻ không em?” tạo ra một điệp khúc đầy trăn trở, đậm tính chất vấn.
• Nhịp thơ ngắn dài xen kẽ linh hoạt, tạo nên cảm xúc gián đoạn, nhấn mạnh, như những đợt suy tư bật lên từ đời sống.
• Nhịp điệu thơ lúc dồn dập, lúc ngập ngừng, biểu hiện sự giằng xé nội tâm, trăn trở về giá trị thật, giả trong cuộc sống mưu sinh khắc nghiệt.
2. Ngôn từ đời thường nhưng giàu chất thơ, đậm tính biểu cảm và ẩn dụ sâu sắc
• Pautopsky từng nói: “Những chữ xơ xác nhất mà chúng ta đã nói đến cạn cùng, mất sạch tính hình tượng đối với chúng ta, những chữ ấy trong thơ ca lại lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa hương”.
từ hệ thống ngôn ngữ giản dị, gần gũi, mượn chất liệu đời thường (chợ, món ngon, cá tôm, cành tre, con cò…) để gửi gắm những suy tưởng triết lí sống sâu sắc.
• Ẩn dụ nghệ thuật: “Chiết ra từ máu đỏ” thể hiện nỗi đau và sự hi sinh để tạo ra giá trị nghệ thuật đích thực. “Câu sấm mệnh con cò” gợi hình ảnh thân phận người phụ nữ tảo tần, số phận gắn với nhọc nhằn.
• Nhân hóa, hoán dụ, hình ảnh gợi cảm xúc: “gánh tiếng cười”, “nợ đời rơi vãi lại”… tạo chiều sâu triết lí, xúc cảm, khơi gợi sự chiêm nghiệm
• Việc sử dụng từ ngữ mộc mạc nhưng đa tầng nghĩa là đặc trưng phong cách Nguyễn Duy: trữ tình, triết lí, suy tưởng.
1. Hình ảnh thơ – Giản dị mà đa tầng, giàu sức gợi cảm xúc và triết lý
• Nguyễn Duy sử dụng những hình ảnh gần gũi, đời thường, nhưng mang tính biểu tượng và hàm chứa nhiều tầng nghĩa:
⚬ “Gạo trắng, rau tươi, cá bơi, tôm nhảy”: không chỉ là những món ăn, mà còn gợi nên cuộc sống mưu sinh đầy vất vả, nơi từng “món ngon” đều phải đánh đổi bằng mồ hôi công sức.
⚬ “Chiết ra từ máu đỏ”: hình ảnh ẩn dụ mạnh mẽ, khắc họa sự đau đớn, dấn thân và đánh đổi để làm nên “lời tâm huyết” giá trị chân thật của nghệ thuật.
⚬ “Câu thơ thật đổi lấy đồng tiền giả”: hình ảnh phản đề, thể hiện sự mỉa mai, nỗi chua xót của người nghệ sĩ trước thực trạng xã hội làm giả, sống giả, mua bán cả cảm xúc.
⚬ “Còng lưng gánh tiếng cười con cái”: hình ảnh vừa thực vừa ẩn dụ, gợi lên nỗi nhọc nhằn và trách nhiệm của người cha, người mẹ trong cuộc mưu sinh.
⚬ “Câu sấm mệnh con cò” “cành tre mềm”: lấy từ chất liệu ca dao dân gian, thể hiện thân phận bé nhỏ, khổ nhọc của người dân – đặc biệt là phụ nữ, đồng thời cho thấy một truyền thống văn hóa và số phận nối dài qua bao thế hệ. Tác giả không tìm kiếm những hình ảnh cầu kỳ mà hướng đến ngôn ngữ tạo hình từ chất sống thực, làm nên một thế giới hình tượng giàu biểu cảm và suy tưởng, vừa chạm tới cảm xúc người đọc, vừa khơi mở nhận thức sâu sắc về cuộc sống.
✧TỔNG KẾT NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
• Bài thơ “Chợ” là một tác phẩm thấm đẫm chất đời, chất thơ và chất suy tưởng.
• Với thể thơ tự do, cấu trúc lặp, tăng tiến, hình ảnh giản dị mà sâu sắc, ngôn ngữ đầy cảm xúc và tư tưởng, Nguyễn Duy đã khắc họa: Một triết lý sống giản dị nhưng sâu sắc: Không có gì quý giá mà “giá rẻ”. Đó là một tiếng nói trăn trở về giá trị thật, giả, được, mất trong đời sống con người.
• Bài thơ mang tính nhân văn cao, để lại ấn tượng sâu lắng về trách nhiệm, hi sinh, và khát vọng sống có ý nghĩa giữa những bấp bênh của cuộc đời.
✧Kết bài:
Khẳng định giá trị nội dung: triết lí sống sâu sắc – không có gì quý giá mà “giá rẻ”. Đánh giá nghệ thuật: hình thức tự do, hình ảnh mộc mạc, ngôn ngữ giàu sức gợi. Nâng cao: Chợ là lời thức tỉnh con người sống tỉnh táo, trân trọng giá trị thật và dám trả giá để sống có ý nghĩa.
Bài phân tích mẫu:
Nguyễn Đăng Mạnh từng viết rằng: “Văn học đích thực không bao giờ chỉ là sự thể hiện cái tôi, mà là cái tôi hướng tới nhân quần.” Có lẽ vì thế mà thơ Nguyễn Duy luôn mang trong mình tiếng nói của cộng đồng, của những con người đang sống thật với một đời sống thật, nhiều khi đầy bất trắc. Nguyễn Duy là một người lính đã sống, đã chiến đấu, đã chứng kiến, đã mất mát, bởi vậy không viết thơ để kể công hay để ngợi ca lý tưởng sáo mòn. Thơ ông là nơi người đọc chạm vào cái nhức nhối của đời, cái xô lệch của thế sự, cái mong manh của con người giữa thời cuộc. Nếu theo dõi hành trình thơ Nguyễn Duy, ta sẽ thấy một con người luôn đi tìm bản chất của giá trị sống. Đằng sau giọng điệu có lúc mỉa mai, có lúc dửng dưng, có lúc ngậm ngùi là một tâm hồn luôn hoài trăn trở về những giá trị sống.
Bài thơ Chợ được viết vào cuối đông năm Tân Mùi thời điểm đất nước đang chuyển mình từ thời kỳ bao cấp sang kinh tế thị trường, con người đứng trước nhiều lựa chọn, không chỉ là vật chất mà còn là niềm tin, là đạo lý. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Duy không làm thơ để dạy đạo, nhưng thơ ông lại khiến ta soi rọi đạo làm người. Câu hỏi được lặp đi lặp lại: “Có món ngon nào giá rẻ không em”, “có đam mê nào giá rẻ không em”, “có yêu đương nào giá rẻ không em”, và cuối cùng là “có hạnh phúc nào giá rẻ không em?” như những hồi chuông ngân lên từng nhịp, từng nhịp, không chỉ gọi tên sự thật mà còn gợi cảm thức tỉnh trong tâm hồn người đọc. Nguyễn Duy từng nói: “Thơ là để sống tiếp, để sống sâu, sống cho ra sống.” Và đúng như vậy, trong bài thơ này, ông không nói về chiến công, cũng chẳng tô vẽ hình ảnh người anh hùng, mà ông viết về mẹ, về con, về cái bát cơm, về câu thơ, về tiếng cười, về con cò ru con trong đêm mưa... Những điều tưởng chừng nhỏ nhoi ấy, dưới mắt ông, lại là nơi ký gửi hạnh phúc, đó là thứ hạnh phúc không hề “giá rẻ”, không mua được bằng tiền, mà phải trả bằng thương yêu, bằng trách nhiệm, bằng sự dấn thân và chịu đựng.
✧Luận điểm 1: Không có món ngon, vật chất nào là “giá rẻ” đó là cái nhìn tỉnh táo về giá trị lao động và quy luật đời sống.
“Có món ngon nào giá rẻ không em
gạo trắng rau tươi cá bơi tôm nhảy
người xưa bảo tiền nào của nấy
cái lẽ đời giản dị thế thôi ư?”
Không phải ngẫu nhiên thi nhân khởi đầu bằng giọng điệu hỏi han, thủ thỉ “không em”, đó là một cách xưng hô thân mật, gần gũi để dẫn người đọc bước vào cuộc đối thoại về những giá trị của đời sống. Như Tố Hữu từng khẳng định: “Thơ chỉ bật ra trong tim khi cuộc sống đã thật tràn đầy”, bởi vậy từ chính những chiêm nghiệm và vốn sống dày dặn, Nguyễn Duy đã để thơ mình cất lên từ những điều giản dị nhất, từ chuyện ăn uống, chợ búa, chuyện “món ngon, giá rẻ” rất quen thuộc trong đời thường, nhưng phía sau lại là một cách nhìn tỉnh táo, nghiêm cẩn về quy luật của đời sống. Những hình ảnh “gạo trắng rau tươi cá bơi tôm nhảy” gợi ra cả một thế giới sinh động của sự tươi ngon, tinh khiết, chất lượng. Đó là những sản vật quen thuộc nhưng muốn có được phải là kết quả của bao công sức từ hạt gạo từ mồ hôi người nông dân, con cá con tôm từ nhọc nhằn sông nước, rau xanh từ đất đai, nắng gió. Nguyễn Duy không tìm đến những hình ảnh lớn lao, kì vĩ, mà mượn chính những gì đời thường nhất để khẳng định một chân lí, mọi giá trị đích thực đều được tạo nên từ lao động và sự đánh đổi. Từ cái cụ thể của bữa ăn hằng ngày, nhà thơ khái quát thành triết lí phổ quát của đời sống: không có gì ngon, tốt, bền vững mà lại “giá rẻ”. Chính ở khả năng đi từ cái nhỏ bé để nâng lên thành quy luật lớn lao ấy mà thơ Nguyễn Duy bộc lộ chiều sâu tư tưởng, bởi như Phạm Văn Đồng từng nói: “Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát li đời sống nghệ thuật nhất định sẽ khô héo.” Thơ Nguyễn Duy sống được là vì nó thấm đẫm hơi thở đời sống và nâng đời sống lên thành suy tư nghệ thuật. Đặc biệt, câu tục ngữ quen thuộc “tiền nào của nấy” được đưa vào thơ như một chân lí dân gian đã được kiểm nghiệm qua bao đời. Đó là sự đúc kết giản dị nhưng xác đáng của nhân dân về mối quan hệ giữa giá trị và sự đánh đổi. Tuy nhiên, Nguyễn Duy không dừng lại ở việc khẳng định, mà khéo léo đặt dấu hỏi ở cuối khổ thơ “cái lẽ đời giản dị thế thôi ư?” Câu hỏi tu từ vừa như đồng tình, lại vừa như nghi vấn về những quy luật của cuộc sống. Phải chăng đời sống không chỉ đơn giản là sự quy đổi sòng phẳng giữa tiền bạc và vật chất? Hay đằng sau đó còn là những tầng sâu khác của giá trị, của lao động, của nhân sinh? Chính dấu hỏi ấy mở ra chiều sâu triết lí cho khổ thơ, vật chất tốt đẹp không thể có được bằng con đường dễ dãi, càng không thể là thứ mua bán rẻ tiền; nó là kết tinh của công sức, của mồ hôi, của thời gian và cả nhân cách con người. Như vậy, ngay từ khổ thơ đầu, Nguyễn Duy đã thể hiện một cái nhìn tỉnh táo, giàu trải nghiệm trong đời sống, không có “món ngon” nào là không phải trả giá, và cũng từ đó, ông chuẩn bị dẫn người đọc đi xa hơn, từ chuyện vật chất để suy ngẫm về những giá trị tinh thần sâu xa của con người.
✧Luận điểm 2: Không có đam mê, khát vọng nào là dễ dàng,thi nhân khẳng định giá trị tinh thần của nỗ lực cống hiến, dấn thân, thậm chí là đánh đổi bằng cả máu và nước mắt.
“Có đam mê nào giá rẻ không em
lời tâm huyết chiết ra từ máu đỏ
câu thơ thật đổi lấy đồng tiền giả
vã mồ hôi sôi nước mắt thắt lòng”
Vẫn là câu hỏi tu từ “Có đam mê nào giá rẻ không em”, nhưng giờ đây giọng điệu không còn chỉ là chiêm nghiệm mà đã trở nên day dứt, nhức nhối. Câu hỏi ấy tự thân đã là một lời khẳng định: đam mê, sáng tạo, đặc biệt là thơ ca và nghệ thuật, chẳng hề dễ dàng, thậm chí còn “đắt giá hơn tất thảy”. Bởi lẽ, như Andecxen từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích do chính cuộc sống viết ra.” Nghệ thuật chân chính không sinh ra từ những êm ả, nhàn nhã, mà từ chính những va đập dữ dội của đời sống, từ khát vọng sống đến tận cùng với con người và số phận. Hình ảnh “lời tâm huyết chiết ra từ máu đỏ” là một ẩn dụ đầy ám ảnh, gợi cảm giác đau đớn đến tận cùng của quá trình sáng tạo. “Chiết” như chắt lọc, rút ra từng giọt cho thấy mỗi lời thơ, mỗi trang viết không chỉ là kết tinh của trí tuệ mà còn là máu thịt, là sinh mệnh tinh thần của người nghệ sĩ. Đó là sự hi sinh âm thầm mà dữ dội, là cái giá phải trả để có được nghệ thuật chân thành. Qua đó, Nguyễn Duy khẳng định đam mê không phải cuộc dạo chơi, mà là hành trình dấn thân, nơi người nghệ sĩ phải chấp nhận đau đớn để giữ cho sáng tạo của mình không giả dối, không hời hợt.
Nỗi đau ấy càng được đẩy lên cao trong sự đối lập giữa “câu thơ thật” và “đồng tiền giả”. Một bên là giá trị tinh thần chân chính, được làm nên từ máu, mồ hôi và nước mắt; một bên là giá trị vật chất hời hợt, mang tính giả trá của sự thương mại hóa. Câu thơ vì thế không chỉ là lời than thở cá nhân mà còn là tiếng nói phê phán một thực tại khi lối sống thực dụng ngày càng phổ biến. Đó chính là nỗi đau mà bao thế hệ văn nhân từng mang nặng, như Nam Cao đã viết về bi kịch của kẻ sĩ: “áo cơm ghì sát đất” miếng cơm manh áo có thể kéo con người rời xa lý tưởng, buộc họ phải cúi xuống trước thực tế khắc nghiệt. Hai câu thơ cuối “vã mồ hôi sôi nước mắt thắt lòng” dồn nén tất cả nhọc nhằn của hành trình đam mê, mồ hôi của lao lực, nước mắt của cay đắng, và “thắt lòng” của nỗi đau tinh thần. Nhịp thơ gấp, dồn, như nhịp đập trái tim người nghệ sĩ khi đứng giữa lý tưởng và thực tại. Qua đó, Nguyễn Duy một lần nữa khẳng định đam mê, lý tưởng chân chính không thể “giá rẻ”. Nó luôn đòi hỏi sự đánh đổi bằng tâm huyết, lao lực, và cả những hi sinh âm thầm mà sâu sắc. Đó chính là giá trị tinh thần cao quý của con người dám sống hết mình cho khát vọng, dù phải trả bằng máu và nước mắt.
✧Luận điểm 3: Không có tình yêu thương nào “giá rẻ” tình yêu gắn với trách nhiệm, với hiện thực đời sống khổ nhọc, lo toan và gánh vác bộn bề.
Nếu ở hai khổ thơ trước, Nguyễn Duy bàn về giá trị của vật chất và đam mê sáng tạo, thì đến đây, mạch thơ tiếp tục mở rộng sang một giá trị thiêng liêng hơn cả đó là tình yêu thương đôi lứa, tình cảm vợ chồng son sắt.
“Có yêu đương nào giá rẻ không em
ân ái đi qua nợ đời rơi vãi lại
còng lưng gánh tiếng cười con cái
thăm thẳm mai lởm chởm nhọc nhằn”
Vẫn là câu hỏi tu từ quen thuộc “Có yêu đương nào giá rẻ không em”, nhưng giọng điệu giờ đây đã thấm đẫm trải nghiệm, như lời tự vấn của một con người từng đi qua những khúc quanh của đời sống gia đình. Đó không còn là câu hỏi về cảm xúc lãng mạn, mà là câu hỏi về cái giá phải trả cho hạnh phúc yêu thương bền chặt. Như đã từng khẳng định: “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy những ấn tượng có giá trị khái quát và làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng.” (M.Gorki), Nguyễn Duy đã xuất phát từ chính những trải nghiệm rất riêng của đời mình để nâng lên thành triết lí chung về tình yêu. Trong truyền thống văn học, từ ca dao dân ca đến thơ ca lãng mạn, tình yêu thường hiện lên với dư vị ngọt ngào, say đắm, là nguồn động viên thắp sáng niềm tin và hi vọng. Nhưng đến với Nguyễn Duy, tình yêu không chỉ là men say cảm xúc. Từ cái nhìn rất thực tế, rất đời, ông đặt tình yêu trong mối quan hệ hữu cơ với trách nhiệm và thử thách. Yêu thương không dừng lại ở rung động ban đầu, mà là hành trình dài của sự gắn bó, của dấn thân và chấp nhận. Bởi thế, “ân ái đi qua” nhưng “nợ đời rơi vãi lại”. Sau những phút giây ngọt ngào là “nợ đời” những ràng buộc, bổn phận, trách nhiệm không thể né tránh. Tình yêu đôi lứa khi bước vào đời sống gia đình sẽ kết tinh thành “tiếng cười con cái” biểu tượng của hạnh phúc, nhưng cũng là dấu mốc mở ra một hành trình mới: hành trình làm cha, làm mẹ, hành trình gánh vác cuộc đời của những sinh linh bé bỏng. Ở đó, hạnh phúc cá nhân phải nhường chỗ cho bổn phận, cho lo toan cơm áo gạo tiền, cho sự hi sinh thầm lặng. Nguyễn Duy đã nhìn thẳng vào hiện thực ấy để khẳng định tình yêu đích thực luôn đi kèm với trách nhiệm, và chính trách nhiệm ấy mới làm nên chiều sâu bền vững của yêu thương.
Tình yêu trở thành trách nhiệm và quý giá hơn bởi để có được người ta phải đánh đổi bằng: “còng lưng gánh”, “thăm thẳm”, “lởm chởm”, “nhọc nhằn”. Nhịp thơ chậm, nặng, dồn lại trong từng từ ngữ như gánh nặng đè lên đôi vai con người. Ở đây, Nguyễn Duy không né tránh gian truân, không tô hồng hạnh phúc, mà phơi bày trần trụi những vất vả đời thường như nuôi con, dựng xây gia đình, đi qua những “lởm chởm” của cuộc đời để hướng tới cái “mai” xa thẳm. Như Picasso từng nói: “Nghệ thuật không tái tạo những gì ta thấy đúng hơn là nó mở mắt cho ta”, thơ Nguyễn Duy đã “mở mắt” cho người đọc để thấy rằng đằng sau những nụ cười hạnh phúc là cả một hành trình lao lực và hi sinh. Đó không phải cái nhìn bi quan, mà là cái nhìn tỉnh táo, nhân bản, giúp con người ý thức rõ hơn giá trị của yêu thương. Qua khổ thơ này, Nguyễn Duy khẳng định một chân lí giản dị mà sâu xa: tình yêu không thể “giá rẻ”, không thể chỉ mua bằng cảm xúc nhất thời. Tình yêu đích thực là sự gắn bó bền bỉ với trách nhiệm, là chấp nhận gánh vác và hi sinh để giữ gìn hạnh phúc. Chính trong những “nhọc nhằn” đời thường ấy, yêu thương mới bộc lộ hết giá trị cao quý của nó giá trị làm nên nhân cách và chiều sâu nhân bản của con người.
✧Luận điểm 4: Khổ thơ cuối khép lại bài thơ như một lời chiêm nghiệm lắng sâu sau bao trải nghiệm của đời người:
“Mẹ trót ru ta câu sấm mệnh con cò
thôi đừng trách cành tre sao mềm thế
đừng tưởng loanh quanh mọi người sống dễ
có hạnh phúc nào giá rẻ không em?”
Nếu ba khổ thơ trước lần lượt đặt vấn đề về vật chất, đam mê và tình yêu, thì đến đây, Nguyễn Duy quy tụ tất cả để hướng tới một kết luận lớn hạnh phúc giá trị cuối cùng mà con người kiếm tìm chưa bao giờ là điều dễ dàng. Giọng thơ chậm lại, lắng xuống, mang dáng dấp của một lời tự nhủ, một lời tổng kết cuối đời, nơi thi nhân quay về với cội nguồn tâm hồn: lời ru của mẹ. Hình ảnh “Mẹ trót ru ta câu sấm mệnh con cò” gợi nhắc đến những lời ru dân gian thấm vào tiềm thức con người từ thuở nằm nôi. “Con cò” không chỉ là hình ảnh quen thuộc của ca dao mà còn là biểu tượng cho thân phận nhọc nhằn, lận đận, cho những kiếp người lam lũ suốt đời gánh gồng mưu sinh. Lời ru của mẹ vì thế không chỉ là tiếng hát yêu thương mà còn như một “câu sấm mệnh” dự báo số phận đời người sinh ra đã gắn với vất vả, không thể mong một con đường bằng phẳng. Bởi vậy, thi nhân như đưa đến cảm nhận thấu tường những quy luật đời sống “thôi đừng trách cành tre sao mềm thế” đừng oán than, đừng trách móc những mong manh, trắc trở của đời, bởi chính sự “mềm” ấy là bản chất của kiếp người, là điều tất yếu của hành trình sống. Những hình ảnh “con cò”, “cành tre mềm”, “sống dễ” liên tiếp xuất hiện, gợi ra một thế giới biểu tượng giàu sức khái quát. Như Bùi Việt Thắng từng khẳng định: “Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa là một chi tiết chân thực còn cần đạt tới ý nghĩa tượng trưng, hàm chứa một cách nhìn, một cách đánh giá và năng lực tưởng tượng của nhà văn về cuộc sống và con người”, Nguyễn Duy đã chọn những chi tiết vừa mộc mạc vừa giàu chiều sâu văn hóa để gửi gắm cách nhìn của mình về số phận. Hình ảnh con cò khiến ta liên tưởng đến bài ca dao:
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có đồng nào ông hãy xào măng?”
Đó không chỉ là khúc ca về những phận người nhỏ bé, cơ cực, mà còn là lời nhắc nhở về sự long đong, bất trắc vốn đã gắn liền với kiếp người từ thuở sinh ra. Từ lời ru của mẹ, từ ca dao dân gian, Nguyễn Duy rút ra một chân lí giản dị rằng cuộc đời vốn không “dễ”, ai cũng mang trên vai những gánh nặng riêng, và không có hạnh phúc nào đến mà không phải đánh đổi bằng vất vả, cơ cực. Hai câu thơ tiếp “đừng tưởng loanh quanh mọi người sống dễ” như một lời thức tỉnh. Trong cái nhìn từng trải của thi nhân, con người thường chỉ thấy bề ngoài của người khác mà tưởng họ bình yên, nhẹ nhõm, để rồi so sánh và oán trách số phận mình. Nhưng thực ra, phía sau mỗi cuộc đời là những nỗi nhọc nhằn âm thầm không dễ bộc lộ. Bởi thế, Nguyễn Duy không cổ vũ sự than thân trách phận, mà hướng con người đến thái độ thấu hiểu, chấp nhận và kiên nhẫn trước thử thách. Khổ thơ khép lại bằng câu hỏi tu từ vang vọng: “có hạnh phúc nào giá rẻ không em?”. Đó là câu hỏi từng được lặp lại suốt bài thơ, nay trở thành điểm kết tinh tư tưởng. Đó vừa là lời tổng kết, vừa là lời gọi thức tỉnh. Như Chế Lan Viên từng viết: “Cái kết tinh của mỗi vần thơ và muối bể/Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu.” Chỉ bằng một câu hỏi ngắn gọn, Nguyễn Duy đã dồn nén bao suy tư, trải nghiệm, để khơi mở trước mắt người đọc một chân lí giản dị mà sâu sắc: hạnh phúc không đến từ may mắn dễ dàng; nó là kết tinh của hiểu biết, trách nhiệm, đam mê và hi sinh. Qua đó, nhà thơ khẳng định mọi hạnh phúc trong đời đều phải trả giá bằng sự cố gắng, bằng lao lực, bằng niềm tin và cả những hi sinh thầm lặng. Chính sự đánh đổi ấy làm nên chiều sâu, giá trị và vẻ đẹp bền vững của hạnh phúc con người.
Phong cách nhà văn, vì thế, là hành trình đi tìm chính mình. Nó không thể là sự sao chép, càng không thể đúc khuôn. Nó là tiếng nói nội tâm sâu thẳm nhất, được mài giũa qua năm tháng, qua trải nghiệm và sự lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ. Nó khiến cho văn chương trở thành một thế giới đa thanh, đa sắc. Ở đó, ta gặp được sự dữ dội, sự tinh tế, sự giản dị, sự phức tạp... Mỗi phong cách là một cánh cửa mở vào một chân trời cảm xúc và tư tưởng khác biệt. Thật vậy, bài thơ được viết theo thể thơ tự do, không bị ràng buộc bởi niêm luật hay số chữ, nhờ đó tạo nên một không gian nghệ thuật linh hoạt, phù hợp để Nguyễn Duy giải phóng cảm xúc và triển khai mạch suy tư đầy trăn trở về giá trị sống. Sự tự do của hình thức giúp giọng thơ khi dồn dập, khi lắng lại, vận động theo đúng nhịp đi của dòng ý nghĩ trước những câu hỏi lớn của đời người. Cấu trúc bài thơ được tổ chức chặt chẽ theo từng khổ đều đặn, mỗi khổ mở đầu bằng câu hỏi lặp cấu trúc “Có… nào giá rẻ không em?”, tạo nên một điệp khúc ám ảnh, như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bài. Mỗi lần câu hỏi vang lên là một lần thi nhân khoét sâu hơn vào bản chất của đời sống, dẫn dắt mạch tư tưởng đi từ vật chất đến đam mê, tình yêu và cuối cùng là hạnh phúc, biến bài thơ thành một chuỗi chất vấn liên tục đối với những quan niệm sống dễ dãi, hời hợt. Nhịp thơ ngắn, dài đan xen linh hoạt, có lúc gãy gọn, có lúc kéo dài, tạo cảm giác gián đoạn, nhấn mạnh, như những đợt suy tư bật lên từ thực tiễn mưu sinh khắc nghiệt. Khi nhịp thơ dồn dập, người đọc cảm nhận rõ sự bức bách trước nghịch lí thật và giả của các giá trị sống; khi nhịp thơ chậm lại, đó như một tiếng thở dài sau bao trải nghiệm với những chiêm nghiệm, triết lí. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy giản dị, gần gũi, mang đậm hơi thở đời sống. Những từ ngữ tưởng như thô mộc của sinh hoạt thường ngày như chợ, gạo, cá tôm, tre, cò… qua bàn tay nhào nặn của người nghệ sĩ chân chính lại trở nên giàu sức gợi, lấp lánh ý nghĩa, đúng như nhận định của Paustovsky về khả năng “đánh thức” ngôn từ trong thơ ca. Từ chất liệu bình dị ấy, nhà thơ nâng lên thành những suy tưởng về lao động, nghệ thuật, tình yêu và hạnh phúc là những giá trị cốt lõi của kiếp người. Hệ thống ẩn dụ được sử dụng tinh tế và ám ảnh: “chiết ra từ máu đỏ” là ẩn dụ mạnh cho sự hi sinh, đau đớn của người nghệ sĩ trong hành trình sáng tạo; “câu sấm mệnh con cò” gợi thân phận tảo tần, nhọc nhằn của những kiếp người sinh ra đã gắn với số phậnn long đong, cơ cực. Những hình ảnh như “gánh tiếng cười”, “nợ đời rơi vãi lại” vừa cụ thể vừa khái quát, khiến hạnh phúc hiện lên không như sự hưởng thụ dễ dàng, mà như một trách nhiệm nặng nề phải gánh vác suốt đời. Hệ thống hình ảnh thơ trong Chợ vì thế mang vẻ đẹp giản dị mà đa tầng. “Gạo trắng, rau tươi, cá bơi, tôm nhảy” không chỉ là bức tranh sinh động của chợ búa, mà còn hàm chứa phía sau cả một đời sống lao động nhọc nhằn, nơi mọi giá trị vật chất đều phải đánh đổi bằng mồ hôi và công sức. Hình ảnh “chiết ra từ máu đỏ” khẳng định giá trị tinh thần đích thực luôn phải trả bằng những hi sinh rất đắt. Đối lập với đó, “câu thơ thật đổi lấy đồng tiền giả” phơi bày nghịch lí của đời sống, nơi cái cao quý nhiều khi bị quy đổi bằng sự vụ lợi và đánh đổi bởi vật chất. Từ những hình ảnh quen thuộc như gạo, cá, tre, cò đến những ẩn dụ giàu sức ám ảnh như máu đỏ, tiếng cười, nợ đời, thế giới hình tượng trong Chợ được kiến tạo hoàn toàn từ chất sống thực. Nhưng chính sự chắt lọc và nâng đỡ của tư duy nghệ thuật đã biến những chi tiết đời thường ấy thành phương tiện suy tưởng. Nhờ đó, bài thơ không chỉ lay động cảm xúc mà còn buộc người đọc phải dừng lại, tự vấn và chiêm nghiệm về cái giá của những giá trị đích thực trong đời sống con người.
Chợ không chỉ là một bài thơ giàu chất đời mà còn là một bản tổng kết thấm thía về giá trị sống của con người trong xã hội hiện đại. Qua hình ảnh chợ búa nơi mua bán, trao đổi, Nguyễn Duy đã mở rộng suy tư đến những “cuộc mua bán vô hình” của đời sống tinh thần như lao động, đam mê, tình yêu, hạnh phúc và cả triết lí sâu sắc về đời sống của con người. Bài thơ đặt ra một chân lí nghiêm khắc nhưng công bằng đó là mọi giá trị chân chính đều được tạo nên từ mồ hôi, nước mắt, thậm chí là hi sinh, không thể có được bằng sự dễ dãi hay lối sống hưởng thụ. Về nghệ thuật, với thể thơ tự do, kết cấu lặp mang tính tăng tiến, hình ảnh đời thường mà giàu sức khái quát, cùng ngôn ngữ mộc mạc nhưng hàm chứa chiều sâu triết lí, Nguyễn Duy đã tạo nên một giọng thơ vừa dân dã vừa suy tưởng, vừa gần gũi vừa có sức lay động bền lâu. Chính sự hòa quyện ấy đã làm cho Chợ không chỉ phản ánh đời sống mà còn thức tỉnh ý thức sống nơi người đọc.Có thể khẳng định, Chợ mang giá trị nội dung sâu sắc với triết lí sống giàu tính thức tỉnh không có gì quý giá trên đời mà không phải trả giá và đánh đổi .
Có thể khẳng định, Chợ mang giá trị nội dung sâu sắc với triết lí sống giàu tính thức tỉnh: không có gì quý giá mà không phải trả giá. Thành công của bài thơ còn nằm ở hình thức nghệ thuật tự do, ngôn ngữ đời thường mà giàu sức gợi, hình ảnh giản dị nhưng đa tầng ý nghĩa. Vượt ra ngoài khuôn khổ một bài thơ về chợ búa, Chợ trở thành lời nhắc nhở nghiêm khắc mà nhân hậu, giúp con người sống tỉnh táo hơn, biết trân trọng giá trị thật và dám trả giá để sống một cuộc đời có ý nghĩa.<