Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
VĂN BẢN 1
Thời kinh tế số, xã hội số cần có những công dân toàn cầu là một lẽ đương nhiên. Cụm từ Công dân toàn cầu (Global Citizen) có từ khi thế giới chạm vào cánh cửa công nghiệp hóa. Trong những năm đầu thế kỷ 21, đã có một ngày dành riêng cho những công dân này, có tên là Ngày Công dân Toàn cầu, ngày 20/3 hằng năm. Có câu "Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới" hiểu theo nghĩa rộng, công dân toàn cầu có thể được học tập, sống và làm việc tại bất cứ quốc gia nào.
Mấy năm nay chúng ta thường nghe những câu nói mang tính biểu tượng, rằng thời nay các bạn trẻ "thế hệ Z" (thế hệ đầu tiên lớn lên với sự tiếp cận internet, cùng các thiết bị số và điện tử) bước thêm một bước là gặp thế giới rồi. Nhưng quả thật, sự hiểu biết về bước chân của người khổng lồ ấy chưa nhiều. Phải đến khi tên tuổi những sinh viên trẻ của Việt Nam được xướng lên trong các buổi lễ vinh danh những người nổi tiếng thế giới thì mới có thể thấy rõ một điều: Con người Việt Nam hôm nay đã thật sự sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Ở họ hội đủ các yếu tố: Thành thạo ngoại ngữ; có kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc tích cực; hiểu biết văn hóa nước sở tại; sức khỏe tốt. Trở thành một công dân toàn cầu đích thực thật không dễ dàng gì. Sống say mê, hạnh phúc, mong muốn được chia sẻ, đừng bằng lòng với cái đã có, đừng làm gì vội vàng mà không có sự chuẩn bị, giống như vội "lấy rổ hứng nước mưa" vậy.
Những điều này các bạn trẻ Việt Nam được vinh danh đã nói mộc mạc như thế. Chúng ta gặp ở đây những công dân toàn cầu tiêu biểu được bạn bè quốc tế vinh danh: Đinh Văn Năm, 32 tuổi, chàng trai H’Rê ở xã Long Hiệp, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi. Sau nhiều năm làm việc ở nước ngoài, Năm trở về nước cùng tham gia xây dựng trung tâm phát triển phần mềm, với công việc chính là hợp tác cùng "đối tác bí mật" từ Nhật Bản. Chúng ta gặp Nguyễn Phương-nữ du học sinh Việt tại Đại học Macalester, Mỹ, nhận giải thưởng "Sinh viên toàn cầu" năm 2020 (Global Citizenship Student Awards 2020). Phương là sinh viên quốc tế chuyên ngành nghiên cứu sinh học và môi trường với niềm đam mê bảo tồn sinh thái. Gần đây nhất, Giải thưởng Sinh viên Toàn cầu năm 2021, Top 50 sinh viên đã được chọn ra từ 3.500 ứng cử viên đến từ 94 quốc gia, bạn Đồng Ngọc Hà, sinh năm 2002, quê Nam Định, là sinh viên Việt Nam đã được vinh danh. Từ niềm yêu thích sinh học, Hà đã thành lập các dự án, diễn đàn để chia sẻ kiến thức môn học đến với sinh viên, học sinh cả nước. Cũng có thể nhắc đến Vũ Phương Thanh, nữ vận động viên Việt Nam đầu tiên vô địch ba môn phối hợp cự ly siêu bền: bơi, đạp xe và chạy bộ, tại giải quốc tế Swiss Ultra.
Còn rất nhiều bạn trẻ, những người không hoặc chưa có điều kiện học tập ở nước ngoài; còn rất nhiều người đang công tác ở các lĩnh vực khác nhau, có suy nghĩ và tầm nhìn của những công dân toàn cầu. Họ lặng lẽ làm việc, thân thiện và hòa nhập, năng động và sáng tạo, thích khám phá và trải nghiệm. Họ góp phần thúc đẩy một xã hội học tập suốt đời. Xã hội học tập ấy không giống như một ngôi nhà cao tầng, bên trong chứa những giá sách đầy ắp sách vở. Vấn đề là cần có những "máy chủ" và có sự vận hành phát huy tối đa khối tri thức đồ sộ ấy. Hạnh phúc của mỗi công dân nói chung, các bạn trẻ nói riêng hôm nay chính là cùng sống trong một mái nhà chung, cùng hướng tới việc xây dựng cho ngôi nhà ấy thật hạnh phúc. Bản thân phải tự do, hạnh phúc để đem lại tự do, hạnh phúc cho nhiều người, cho dân tộc. Và đi đến tận cùng dân tộc thì sẽ gặp nhân loại.

Hải Đường - Baonhandan.vn
Câu 1 [1072749]: Theo tác giả, điều gì làm cho hành trình trở thành công dân toàn cầu không hề dễ dàng?
A, Vướng phải Rào cản địa lý và tài chính với người trẻ Việt Nam.
B, Thiếu cơ hội học tập, làm việc và giao lưu quốc tế toàn diện trên nhiều lĩnh vực
C, Đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng, không thể nóng vội.
D, Áp lực hội nhập khiến người trẻ mất phương hướng, xã hội thay đổi đòi hỏi nhiều năng lực mới cần học hỏi
📌 Thông tin nằm ở đoạn 2, câu cuối:
“Đừng bằng lòng với cái đã có, đừng làm gì vội vàng mà không có sự chuẩn bị, giống như vội ‘lấy rổ hứng nước mưa’ vậy.”
Giải thích: Tác giả dùng hình ảnh ẩn dụ “lấy rổ hứng nước mưa” để khuyên rằng nếu không có sự chuẩn bị chu đáo thì hành trình hội nhập quốc tế sẽ thất bại → công dân toàn cầu không phải là điều đạt được vội vàng.
Suy luận:
• Hình ảnh “lấy rổ hứng nước mưa” nhấn mạnh sự thiếu chuẩn bị = thất bại.
• A sai: Văn bản không nêu rào cản địa lý/tài chính.
• B sai: Không nói “thiếu cơ hội”.
• D sai: Áp lực hội nhập là có, nhưng tác giả nhấn mạnh yếu tố chuẩn bị, không vội vàng. Đáp án: C
Câu 2 [1072750]: Vì sao tác giả đưa ra các dẫn chứng như Đinh Văn Năm, Nguyễn Phương, Đồng Ngọc Hà...?
A, Để minh họa rằng công dân toàn cầu đều là người từng học ở nước ngoài, tiếp cận được năng lực mới
B, Để chứng minh rằng người Việt có thể đạt thành tựu ngang tầm thế giới nếu được đầu tư.
C, Để phản bác quan niệm chỉ những ai sống ở thành phố mới có thể hội nhập.
D, Để cho thấy công dân toàn cầu là một hình mẫu cụ thể, gần gũi, khả thi với người trẻ Việt.
🔎 Thông tin nằm ở đoạn 3 và đoạn 4:
Tác giả liệt kê các nhân vật tiêu biểu, đến từ vùng nông thôn (Đinh Văn Năm, H’Rê – Quảng Ngãi), du học sinh (Nguyễn Phương), hay sinh viên khởi xướng diễn đàn chia sẻ kiến thức (Đồng Ngọc Hà) và vận động viên thể thao quốc tế (Vũ Phương Thanh).
Mỗi người là một ví dụ thực tế, cụ thể, đến từ các ngành nghề – vùng miền – điều kiện xuất phát khác nhau → khẳng định: hình mẫu công dân toàn cầu không xa vời, mà gần gũi và đạt được nếu có khát vọng, nỗ lực.
Suy luận: 
- Nhân vật đến từ nhiều hoàn cảnh → chứng minh công dân toàn cầu --không xa vời, ai cũng có thể đạt được. •
- A sai: không phải tất cả đều học ở nước ngoài. •
- B sai: không chỉ để “chứng minh cần đầu tư”. •
- C sai: không liên quan phản bác “người thành phố”.
Đáp án: D
Câu 3 [1072751]: Qua hình ảnh “xã hội học tập không giống như ngôi nhà cao tầng chứa đầy sách vở...”, tác giả muốn nhấn mạnh điều gì?
A, Sách vở không còn quan trọng trong thời đại số mà phải chủ động học hỏi năng lực mới hơn
B, Việc học suốt đời cần hệ thống công nghệ vận hành và khai thác tri thức hiệu quả.
C, Học tập chỉ hiệu quả khi có sự đầu tư vào cơ sở vật chất hiện đại, đồng thời biết cách khai thác tri thức hiệu quả
D, Tri thức chỉ có giá trị khi được áp dụng trong các công ty công nghệ biết khai thác tối đa tri thức từ sách vở

📌 Thông tin nằm ở đoạn 4: “Vấn đề là cần có những ‘máy chủ’ và có sự vận hành phát huy tối đa khối tri thức đồ sộ ấy.” “Máy chủ” là ẩn dụ cho con người có tư duy công nghệ, biết cách vận hành tri thức, chứ không chỉ tích lũy kiến thức như “xếp sách”. Việc học không chỉ là đọc nhiều, mà còn phải vận dụng sáng tạo và kết nối với thực tiễn.
Suy luận: 
- “Máy chủ” = ẩn dụ cho người/ hệ thống biết vận hành tri thức, không chỉ “chứa sách”. 
- A sai: không phủ nhận vai trò sách vở. 
- C sai: nhấn mạnh công nghệ, không phải cơ sở vật chất. 
- D sai: không giới hạn trong công ty công nghệ.
Đáp án: B
Câu 4 [1072752]: Câu văn “đi đến tận cùng dân tộc thì sẽ gặp nhân loại” thể hiện tư tưởng gì của tác giả?
A, Chủ nghĩa dân tộc là điều kiện tiên quyết để hội nhập quốc tế, người trẻ cần hòa nhập nhưng không được hòa tan
B, Người trẻ phải biết hy sinh cá nhân để phục vụ, cống hiên giá trị tốt đẹp cho đất nước.
C, Muốn hội nhập toàn cầu thành công, cần khởi đi từ lòng yêu nước và trách nhiệm với cộng đồng.
D, Mỗi người dân cần giữ gìn bản sắc văn hóa riêng nhưng cũng cần học cách hòa vào dòng chảy quốc tế.
📌 Thông tin nằm ở đoạn cuối: “... sống trong một mái nhà chung... bản thân phải tự do, hạnh phúc để đem lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc... Và đi đến tận cùng dân tộc thì sẽ gặp nhân loại.”
🔎 Giải thích: Tác giả trình bày theo lối đi từ cá nhân → dân tộc → nhân loại. Điều đó ngụ ý rằng gốc rễ của toàn cầu hóa không phải là từ bỏ bản sắc, mà là phát triển trên nền tảng gắn bó với cộng đồng mình.
Suy luận:
- Tư duy đi theo lộ trình: cá nhân → dân tộc → nhân loại.
- A sai: không phải “chủ nghĩa dân tộc tiên quyết”.
- B sai: không nói hy sinh cá nhân.
- D sai: văn bản không chỉ nói “giữ bản sắc”.
Câu 5 [1072753]: Theo văn bản, vai trò của việc “vượt biên giới vật lý” được đặt trong mối quan hệ thế nào với “tầm nhìn công dân toàn cầu”?
A, Việc đi ra thế giới là yếu tố quan trọng, cần thiết để học hỏi thêm các kỹ năng mới và trở thành công dân toàn cầu.
B, Chỉ cần đi học nước ngoài, nỗ lực học tập kỹ năng mới thì tư duy sẽ tự động toàn cầu hóa.
C, Tư duy toàn cầu không chỉ đến từ trải nghiệm quốc tế mà còn từ khả năng học hỏi, chia sẻ và cống hiến.
D, Không chỉ người ở thành phố lớn hay đi ra nước ngoài mới có điều kiện tiếp cận toàn cầu, hiện tại cơ hội mở ra cho tất cả mọi người
📌 Suy luận: Tác giả muốn nói rằng không nhất thiết phải “đi ra thế giới” bằng nghĩa đen (du học, làm việc ở nước ngoài), mà có thể có tư duy toàn cầu thông qua hoạt động sáng tạo – chia sẻ – học tập suốt đời.
Suy luận:
- Nhấn mạnh: không nhất thiết phải du học → công dân toàn cầu còn ở tư duy, cống hiến, sáng tạo.
- A sai: văn bản không nói “ra thế giới là yếu tố quan trọng nhất”.
- B sai: đi học nước ngoài ≠ tự động toàn cầu.
- D sai: chỉ đúng một phần, nhưng chưa đầy đủ bằng C. Đáp án: C
I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10. VĂN BẢN 2
Những gương mặt trẻ thủ đô sáng tạo và nghị lực
Tối 8-1, Thành Đoàn Hà Nội tổ chức lễ vinh danh "10 Gương mặt trẻ Thủ đô tiêu biểu 2018". Họ là những đại diện tiêu biểu cho thế hệ trẻ Thủ đô đổi mới, sáng tạo, nghị lực, đạt nhiều thành tích xuất sắc trong cuộc sống, cống hiến cho cộng đồng.
Gương mặt trẻ Thủ đô tiêu biểu 2018 Đặng Xuân Trường (sinh năm 1991, Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Hachi Việt Nam) được biết tới là người đi đầu xây dựng trang trại thủỷ canh trồng rau sạch bằng việc áp dụng công nghệ cao, tự động hoá. Tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) nhưng Xuân Trường lại có sở thích đặc biệt với nông nghiệp công nghệ cao. Trường cho rằng, cuộc sống hiện đại trước thực trạng báo động về vệ sinh an toàn thực phẩm thì vấn đề nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất là xu hướng phát triển tất yếu. Trên thế giới, hiện đã có những ứng dụng sử dụng loI (Internet of Thing - Internet kết nối vạn vật) để tự động hoa hoàn toàn quy trình trồng rau sạch thủy canh nhà phố, trong khi ở Việt Nam còn khá mới mẻ. Nhận thấy những tiềm năng này, tháng 7-2016, Xuân Trường cùng bốn thành viên thành lập Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Hachi Việt Nam ứng dụng IoT để sản xuất rau sạch. So với mô hình truyền thống, việc ứng dụng công nghệ IoT và các giải pháp về thủy canh tưới nhỏ giọt để xây dựng trang trại rau Hachi cho năng suất cao hơn từ 50% đến 300%. "Việc ứng dụng giải pháp này có thể giúp tăng tốc độ sinh trưởng của cây từ 30% đến 50%, bảo đảm rau quả sạch, cách li hoàn toàn với môi trường sâu bệnh bên ngoài và trồng được cả những loại cây trái vụ, khó trồng ở điều kiện tự nhiên.", Trường chia sẻ. Đối với hộ gia đình, Hachi cung cấp bộ sản phẩm trồng rau thủỷ canh tại nhà tiện lợi. Một bộ sản phẩm có giá khoảng 4 - 5 triệu đồng (tùy kích thước của giàn trồng), với giàn tiêu chuẩn hai tầng 46 lỗ có thể cung cấp được khoảng 5 - 6kg rau mỗi vụ thu hoạch cho một gia đình. "Với hệ thống này, không cần nhiều đất, không cần ánh sáng, không tốn công chăm sóc, chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh (smartphone) kết nối mạng, mọi người đã có thể sở hữu những luống rau tươi sạch tại nhà.", Trường cho biết. Hiện Hachi có 108 công trình nhà phố, 18 trang trại thủy canh, 20 000m2 diện tích sản xuất, 50 tấn rau sạch cung cấp ra thị trường.
Hachi đã xây dựng được gần 10 trang trại trên khắp cả nước như Dự án trang trại thủy canh giáo dục TEKY 30m2 (Hà Nội), Trang trại thủy canh NFT Delco Eco Farm 1000m2 ở Bắc Ninh; Trang trại Hokkaido tại Đà Lạt, Thành phố Hồ Chi Mình, Vũng Tàu,... Hachi cũng mở rộng các loại cây mới như các giống cà chua Nhật, dưa chuột Nhật, dưa lưới Nhật và trồng trên công nghệ tưới nhỏ giọt, tiết kiệm đến 95% lượng nước và phân bón so với thông thường. Trường mong muốn thời gian tới, Hachi có một nguồn vốn đầu tư lớn để xây dựng một mô hình nông nghiệp thông minh, tự động hoá hoàn toàn, thay vì phải chăm sóc, tưới bón theo cảm quan, cá nhân và tạo ra rau rất sạch, an toàn cho người sử dụng. [...] Anh Nguyễn Đức Tiến, Phó Bí thư Thành Đoàn Hà Nội cho biết, năm 2018 là năm thứ 10, Thành Đoàn Hà Nội tổ chức vinh danh và trao thưởng "Gương mặt trẻ Thủ đô tiêu biểu". Đây là giải thưởng vinh danh những tấm gương cống hiến, nghị lực, vượt lên hoàn cảnh. Các tấm gương trải đều trên các lĩnh vực, tuy nhiên, năm nay tập trung nhiều ở lĩnh vực học tập, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp, cùng với đó là những doanh nhân trẻ thành đạt có nhiều hoạt động thiện nguyện, đóng góp cho cộng đồng. Hầu hết các gương mặt trẻ Thủ đô tiêu biểu sau khi được tuyên dương đều có sự nỗ lực phấn đấu và rất thành đạt.

(Theo Lưu Trinh, dẫn theo tienphong.vn)
Câu 6 [1072754]: Điểm độc đáo trong cách Đặng Xuân Trường tiếp cận lĩnh vực nông nghiệp là gì?
A, Kết hợp các phương pháp trồng rau truyền thống và hiện đại để nâng cao sản lượng.
B, Ứng dụng công nghệ cao từ nền tảng học vấn để giải quyết một vấn đề xã hội.
C, Dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn để xây dựng trang trại nông nghiệp sinh thái ứng dụng công nghệ cao, đột phá
D, Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nông nghiệp Việt Nam để tạo khác biệt thị trường.
📌 Thông tin nằm ở đoạn 1: “Tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin... nhưng Xuân Trường lại có sở thích đặc biệt với nông nghiệp công nghệ cao... Trường cho rằng... nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất là xu hướng phát triển tất yếu.”
🔎 Giải thích: Mặc dù học CNTT, Trường không chọn làm trong ngành công nghệ mà chuyển hướng sang nông nghiệp, ứng dụng chính kiến thức công nghệ đó để giải quyết vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm – một vấn đề xã hội cấp thiết → cách tiếp cận độc đáo, từ kết hợp nền tảng học thuật → giải pháp thực tiễn.
Suy luận:
- Xuân Trường không theo ngành CNTT truyền thống, mà dùng chính kiến thức đó để giải quyết vấn đề cấp thiết: an toàn thực phẩm.
Đây là cách tiếp cận độc đáo: lấy nền tảng công nghệ → áp dụng vào nông nghiệp.
- A sai: không kết hợp “truyền thống + hiện đại”.
- C sai: văn bản nhấn mạnh công nghệ, không phải “kinh nghiệm thực tiễn”.
- D sai: không phải chỉ “chuyển giao công nghệ từ nước ngoài”. Đáp án: B
Câu 7 [1072755]: Đoạn văn sau đóng vai trò gì trong cấu trúc văn bản? “Anh Nguyễn Đức Tiến, Phó Bí thư Thành Đoàn Hà Nội cho biết, năm 2018 là năm thứ 10… Hầu hết các gương mặt trẻ Thủ đô tiêu biểu sau khi được tuyên dương đều có sự nỗ lực phấn đấu và rất thành đạt.”
A, Là đoạn chuyển tiếp giúp mở rộng thêm câu chuyện từ trường hợp cá nhân sang toàn cảnh.
B, Là phần giới thiệu chính thức về hoạt động của Thành Đoàn Hà Nội.
C, Là đoạn bổ sung để nhấn mạnh vai trò của tổ chức đoàn thể trong công tác giáo dục.
D, Là phần kết luận lặp lại thông tin đã nêu để củng cố nhận thức cho người đọc.
📌 Thông tin nằm ở đoạn cuối: “...năm 2018 là năm thứ 10 Thành đoàn Hà Nội tổ chức vinh danh... Các tấm gương trải đều trên các lĩnh vực...”
🔎 Giải thích: Sau khi nói cụ thể về Đặng Xuân Trường, đoạn này mở rộng phạm vi sang bức tranh lớn hơn – các gương mặt trẻ tiêu biểu nói chung → chức năng kết nối cá nhân và toàn cảnh, không đơn thuần giới thiệu tổ chức hay lặp lại thông tin.
Suy luận: 
- Sau khi kể chi tiết trường hợp Xuân Trường, văn bản mở rộng ra bức tranh toàn cảnh về “10 gương mặt trẻ Thủ đô”. 
- Không chỉ “giới thiệu tổ chức” (B), không chỉ “nhấn mạnh vai trò đoàn thể” (C), cũng không phải “kết luận lặp lại” (D). Đáp án: A
Câu 8 [1072756]: Vì sao Đặng Xuân Trường quyết định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và điều này cho thấy điều gì về tầm nhìn chiến lược của anh?
A, Vì anh nhận thấy thị trường tiềm năng, mới mẻ và muốn đi theo mô hình của Nhật Bản.
B, Vì vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm báo động và anh hiểu rõ nhu cầu tất yếu trong đổi mới sản xuất.
C, Vì ngành CNTT quá cạnh tranh và anh muốn tìm hướng đi ít người lựa chọn, nông nghiệp sạch chính là xu hướng tất yếu
D, Vì nông nghiệp là ngành dễ tiếp cận vốn, nên anh chọn để khởi nghiệp nhanh chóng.
📌 Thông tin ở đoạn 1: “Trường cho rằng, cuộc sống hiện đại trước thực trạng báo động về vệ sinh an toàn thực phẩm thì vấn đề nông nghiệp sạch... là xu hướng tất yếu.”
🔎 Liên kết đoạn 1 + đoạn 2: Xuân Trường tốt nghiệp CNTT nhưng chuyển hướng vì nhận thấy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là cấp bách và chọn ứng dụng công nghệ để giải quyết, và dựa vào đó để đưa ra hướng giải quyết công nghệ → cho thấy tầm nhìn chiến lược chứ không đơn thuần vì cơ hội thị trường hay lý do cá nhân.
Suy luận: 
- Anh chọn khởi nghiệp vì động cơ xã hội (vệ sinh thực phẩm), không phải vì CNTT cạnh tranh (C), hay “dễ tiếp cận vốn” (D). 
- A cũng không chính xác vì không phải “muốn đi theo mô hình Nhật Bản” → mà là xuất phát từ nhu cầu thực tế tại Việt Nam. Đáp án: B
Câu 9 [1072757]: Việc Hachi phát triển các trang trại giáo dục và trồng thử nghiệm cây Nhật Bản phản ánh điều gì về ý tưởng khởi nghiệp của Đặng Xuân Trường?
A, Anh hướng tới một mô hình canh tác thương mại thuần túy, phục vụ thị trường cao cấp, phát triển bền vững
B, Anh chỉ chọn làm nông nghiệp vì đó là ngành dễ áp dụng IoT.
C, Anh theo đuổi lý tưởng tích hợp công nghệ, giáo dục và phát triển bền vững.
D, Anh tập trung xây dựng hình ảnh doanh nghiệp tiên phong để dễ gọi vốn, tích hợp công nghệ, phát triển bền vững
📌 Thông tin ở đoạn 3–4: “...Dự án trang trại thủy canh giáo dục TEKY... trồng giống cà chua Nhật, dưa chuột Nhật... tiết kiệm 95% lượng nước và phân bón...”
“...mong muốn... xây dựng mô hình nông nghiệp thông minh, tự động hóa hoàn toàn...”

🔎 Giải thích: Những hoạt động của Hachi không chỉ dừng ở cung cấp thực phẩm mà còn kết hợp giáo dục – thử nghiệm công nghệ – cải tiến giống – bảo vệ môi trường → cho thấy tầm nhìn phát triển bền vững, không thuần thương mại.
Suy luận: 
- Không chỉ thương mại → còn kết hợp giáo dục + thử nghiệm giống + công nghệ + bảo vệ môi trường. 
- A sai: không thuần túy “thương mại”. 
- B sai: không chỉ vì “IoT dễ áp dụng”. 
- D sai: có ý “gọi vốn” nhưng không phải trọng tâm văn bản. Đáp án: C
Câu 10 [1072758]: Từ mô hình mà Hachi đang triển khai, có thể rút ra thông điệp nào về xu hướng phát triển nông nghiệp hiện đại?
A, Nông nghiệp thông minh là hướng đi tất yếu, nông nghiệp hiện đại cần mở rộng quy mô diện tích để tăng sản lượng tối đa.
B, Nông nghiệp thông minh là hướng đi tất yếu, việc hiện đại hóa nông nghiệp chủ yếu phục vụ thị trường xuất khẩu.
C, Nông nghiệp thông minh là hướng đi tất yếu, kết hợp giữa công nghệ và tính tiện ích cao.
D, Công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ, điều cốt lõi vẫn là tay nghề và cảm quan, định hướng đúng đắn của người làm nông.
📌 Thông tin ở đoạn 2: “Không cần đất, không cần ánh sáng, không tốn công chăm sóc, chỉ cần một chiếc smartphone kết nối mạng...”
📌 Đoạn 3:
“...tiết kiệm đến 95% nước và phân bón... trồng trái vụ...”
🔎 Giải thích: Mô hình Hachi tiêu biểu cho nông nghiệp 4.0: sử dụng IoT, tự động hóa, tiện ích công nghệ để giải quyết các hạn chế của sản xuất nông nghiệp truyền thống. Đây chính là thông điệp: công nghệ sẽ làm thay đổi toàn diện cách tiếp cận nông nghiệp trong tương lai.
Suy luận: 
- Mô hình này thể hiện xu thế nông nghiệp 4.0: công nghệ + tự động hóa + tiện ích. 
- A sai: không phải mở rộng diện tích, mà là năng suất nhờ công nghệ. 
- B sai: không nhấn mạnh “xuất khẩu”. 
- D sai: văn bản nhấn mạnh công nghệ, chứ không “cảm quan người nông dân”. Đáp án: C
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1073054]: Theo quan điểm của Nicholas Sparks, The Notebook có cho rằng: “Bạn không thể sống cuộc đời mình vì người khác. Bạn phải làm điều đúng đắn cho chính mình, ngay cả khi điều đó làm tổn thương những người bạn yêu thương.”Từ nhận thức của một người trẻ hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị có đồng tình với quan điểm: “Bạn phải làm điều đúng đắn cho chính mình, ngay cả khi điều đó làm tổn thương những người bạn yêu thương.” hay không?
Dàn ý chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận 
- Dẫn dắt: Trong cuộc sống, con người thường phải đối diện với những lựa chọn khó khăn giữa việc làm hài lòng người khác và sống đúng với bản thân. 
- Trích dẫn quan điểm của Nicholas Sparks trong The Notebook: “Bạn không thể sống cuộc đời mình vì người khác. Bạn phải làm điều đúng đắn cho chính mình, ngay cả khi điều đó làm tổn thương những người bạn yêu thương.” 
- Nêu vấn đề nghị luận: Câu nói gợi ra suy ngẫm sâu sắc về giá trị của việc trung thực với bản thân, dám lựa chọn con đường đúng đắn cho mình thay vì sống theo sự áp đặt từ người khác.
2. Thân đoạn 
2.1. Giải thích 
- Làm điều đúng đắn cho chính mình: nghĩa là sống trung thực với khát vọng, giá trị cá nhân và lựa chọn phù hợp với lẽ phải, đạo đức. Khẳng định con người cần có bản lĩnh tự quyết định cuộc đời, không phụ thuộc hoàn toàn vào mong muốn hay kỳ vọng của người khác.
2.2 Bàn luận sâu sắc về vấn đề 
- Việc làm đúng đắn cho bản thân giúp khẳng định giá trị và phẩm giá cá nhân, mở ra cơ hội phát triển toàn diện. 
- Khi sống đúng với đam mê và niềm tin, con người mới tìm thấy hạnh phúc thật sự, năng lượng sáng tạo và động lực để vượt qua khó khăn. 
- Nếu chỉ sống để làm hài lòng người khác, ta dễ đánh mất bản sắc, trở thành bản sao, luôn bất an và khó tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. 
- Tuy nhiên, lựa chọn cho bản thân phải gắn với trách nhiệm và đạo lý, không đồng nghĩa với ích kỷ hay bất chấp.
2.3 Dẫn chứng 
- Ralph Waldo Emerson từng khẳng định: “Sống như chính mình trong một thế giới cố biến mình thành người khác đó là thành tựu lớn nhất trong đời.” 
- Steve Jobs quyết định nghỉ học để theo đuổi đam mê khởi nghiệp, ban đầu khiến cha mẹ lo lắng nhưng sau này tạo nên Apple tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. 
- Trong văn học phương Đông, Lão Tử trong Đạo Đức Kinh cho rằng: “Hiểu người là trí, tự hiểu mình mới là minh triết.”
2.4 Phản đề và rút ra bài học nhận thức – hành động 

- Phản đề: Một số người trẻ lạm dụng lý lẽ “sống cho chính mình” để chạy theo ích kỷ, coi thường tình cảm và trách nhiệm, dẫn đến sự xa cách, mất cân bằng. 
- Bài học nhận thức và hành động: Cần phân biệt rõ ràng giữa sống đúng cho bản thân và sống ích kỷ. Người trẻ phải dũng cảm theo đuổi lựa chọn của mình nhưng đồng thời biết lắng nghe, thấu hiểu, dung hòa giữa khát vọng cá nhân và tình cảm của những người thân yêu.
3. Kết đoạn 
- Khẳng định: Quan điểm của Nicholas Sparks nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống trung thực với bản thân, dám lựa chọn điều đúng đắn cho mình. 
- Mở rộng: Trong xã hội hiện đại, chỉ khi dám sống đúng với chính mình, người trẻ mới có thể tìm thấy tự do, hạnh phúc và lan tỏa những giá trị tích cực cho gia đình cũng như cộng đồng.

Viết đoạn văn tham khảo:
Nicholas Sparks từng khẳng định: “Bạn không thể sống cuộc đời mình vì người khác. Bạn phải làm điều đúng đắn cho chính mình, ngay cả khi điều đó làm tổn thương những người bạn yêu thương.” Đây là quan niệm sống mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đặc biệt với những người đang loay hoay giữa những ngã rẽ của cuộc đời: con người phải biết tự quyết định số phận và chịu trách nhiệm cho lựa chọn của chính mình. Thực chất, “làm điều đúng đắn cho chính mình” là sống trung thực với bản thân, lựa chọn điều phù hợp với lẽ phải, đạo đức và khát vọng cá nhân, thay vì sống theo sự áp đặt hay kỳ vọng mù quáng từ người khác. Do đó, lời khuyên của Nicholas Sparks đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống là chính mình. Giữa một xã hội không ngừng vận động, nơi con người bị bủa vây bởi áp lực từ kỳ vọng bản thân và định kiến xã hội, sống đúng với chính mình trở thành một nhu cầu tinh thần và một biểu hiện của bản lĩnh sống hiện đại. Làm điều đúng đắn cho bản thân trước hết là cách khẳng định giá trị và bản sắc riêng của con người. Một cuộc đời chỉ thật sự có ý nghĩa khi ta dám trung thực với khát vọng nội tâm, dám bước đi trên con đường mình tin tưởng bằng đam mê và niềm tin, thay vì đánh mất mình trong khuôn mẫu của xã hội. Nếu cứ mãi sống trong nỗi ám ảnh phải làm vừa lòng người khác, ta sẽ trở thành bản sao nhợt nhòa, là cái bóng của ai đó, đánh mất bản sắc và sống trong bất an, trống rỗng. Ralph Waldo Emerson từng khẳng định: “Sống như chính mình trong một thế giới luôn cố biến bạn thành người khác đó là thành tựu lớn nhất.” Thật vậy, sống đúng với bản thân giữa vô vàn áp lực xã hội chính là biểu hiện của bản lĩnh, bởi chỉ khi ấy, con người mới tìm thấy tự do nội tâm, sáng tạo và hạnh phúc bền vững. Chọn điều đúng đắn cho chính mình không phải là vị kỷ, mà là con đường trở về với hạnh phúc chân thật, đó là thứ hạnh phúc bắt nguồn từ sự bình an nội tâm và lan tỏa đến những người ta yêu thương. Bởi lẽ, ai có thể trao đi niềm vui khi chính mình đang sống trong ràng buộc? Nếu chỉ sống để làm hài lòng người khác, con người sẽ sớm mắc kẹt trong sự gò bó, lo âu và mệt mỏi. Khi ước mơ bị dồn nén, khát vọng bị bóp nghẹt, liệu sự hi sinh ấy có thật sự là cao đẹp, hay chỉ là sợi xích trói buộc tự do và hạnh phúc? Chỉ khi dám trung thực với lựa chọn của mình, con người mới có thể giải phóng năng lực tiềm ẩn, làm việc bằng đam mê và kiên trì đi đến cùng. A-ri-xtốt từng nói: “Dũng cảm là đức tính đầu tiên của con người, bởi đó là phẩm chất bảo đảm cho tất cả những đức tính khác.” Thực tế cho thấy, quyết định nghỉ học để khởi nghiệp của Steve Jobs ban đầu khiến cha mẹ ông vô cùng lo lắng, nhưng chính từ lựa chọn ấy, một đế chế công nghệ hùng mạnh đã được khai sinh, tạo việc làm cho hàng triệu người và mang đến những sản phẩm hữu ích cho toàn thế giới. Tuy nhiên, “sống đúng cho mình” không có nghĩa là sống ích kỷ hay bất chấp mọi giới hạn. Một quyết định sáng suốt phải biết dung hòa giữa tiếng nói của lý trí và nhịp đập của con tim, giữa cái tôi cá nhân và khuôn khổ đạo lý, tình thương. Người trẻ có thể lắng nghe, thấu hiểu mong muốn của gia đình, nhưng cũng cần kiên định với giá trị mình tin là đúng. Nếu chỉ mải miết chiều lòng người khác, ta sẽ đánh mất bản thân; ngược lại, nếu tuyệt đối hóa cái tôi, ta sẽ rơi vào ảo tưởng và ngã mạn, không còn đủ sáng suốt để tự đánh giá và dễ chuốc lấy thất bại. Vì thế, người trẻ cần học cách cân bằng giữa cái tôi và cái ta, vừa biết lắng nghe, vừa dám bảo vệ điều mình tin tưởng. Bởi sự thỏa hiệp mù quáng chỉ khiến ta đánh mất chính mình mà vẫn không giữ được tình cảm xung quanh. Trong triết học phương Đông, Lão Tử từng viết trong Đạo Đức Kinh: “Hiểu người là trí, tự hiểu mình mới là minh triết.” Quả thật, chỉ khi hiểu rõ và trung thực với bản thân, con người mới có thể sống một cuộc đời tự do, cân bằng và ý nghĩa.
Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.

Câu 12 [1072762]: Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan
“Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.”


(Nguồn: Tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan)

DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Dẫn nhập bằng nhận định nghệ thuật (Nguyễn Đình Thi: “Thơ là tiếng nói đầu tiên… của tâm hồn”). Giới thiệu Bà Huyện Thanh Quan: nữ sĩ tiêu biểu, phong cách trang nhã, cổ kính, hoi niệm. Giới thiệu bài thơ Thăng Long thành hoài cổ là khúc bi ca thấm đẫm nỗi u hoài trước cảnh cố đô suy tàn. Khẳng định vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp cảm hứng hoài cổ và nghệ thuật của bài thơ.
II. THÂN BÀI
1. Vài nét về tác giả – tác phẩm – phong cách
Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, thơ không nhiều nhưng mỗi bài đều là một “tinh hoa chắt lọc”, kết tinh trí tuệ sắc sảo và nỗi niềm hoài cổ sâu lắng. Thơ bà mang phong cách trang nhã, tinh tế, u hoài, giàu tính biểu tượng và đậm chất triết luận về thời gian, lịch sử và kiếp người. Thăng Long thành hoài cổ là tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng ấy, thể hiện nỗi tiếc thương da diết trước quá khứ vàng son của kinh thành Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội nay chỉ còn phế tích. Được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, giàu nhạc tính và sắc thái trang trọng, bài thơ đã trở thành một khúc ngâm hoài cổ thấm đẫm tâm tình của thi nhân.
2. Cảm hứng hoài cổ mở đầu bài thơ:Cảm thán trước sự biến đổi của thời gian và số phận con người. 
- Về quy luật sáng tạo nghệ thuật, thi sĩ người Anh William Wordsworth khẳng định: “Thơ ca là sự bột phát của những tình cảm mãnh liệt”. Quả thực, ngay từ phần mở đầu của Thăng Long thành hoài cổ, Bà Huyện Thanh Quan đã để tình cảm dồn nén bật thành tiếng nói nghệ thuật, khái quát sự đời như một trò đùa của tạo hoá và nhấn mạnh nỗi buồn thấm thía trước sự trôi chảy mau lẹ của thời gian. Câu thơ mở đầu bằng một nghi vấn tu từ “gây chi” nghe như hỏi, nhưng thực chất là một tiếng thở dài, một lời trách nhẹ mà thấm thía: vì sao tạo hóa lại tạo ra cuộc đời như một sân khấu, để hưng phế, hợp tan cứ diễn đi diễn lại? 
- Hình ảnh “cuộc hý trường” là một ẩn dụ đặc sắc: đời người, triều đại, lịch sử… chỉ như một vở kịch lớn; huy hoàng rồi tan tác, rực rỡ rồi tàn phai. Ở đây, cảm hứng hoài cổ đã được nâng lên thành triết lí sâu sắc, khiến nỗi buồn không còn là cảm xúc thoáng qua mà trở thành một cái nhìn về quy luật về sự vô thường, đổi thanh nhanh chóng của thời gian, cuộc đời. 
- “Thấm thoắt mấy tinh sương” gieo vào lòng người đọc cảm giác thời gian đi nhanh đến chóng mặt. “Mấy tinh sương” vừa là đếm thời gian, vừa là tiếng lòng, mới đó mà đã bao mùa sương lạnh phủ lên thành quách cũ. Hai câu đề vì thế đặt nền cho toàn bài đó là cảm thức vô thường, tâm thế của một cái tôi trữ tình nhỏ bé, bơ vơ trước bánh xe thời gian và sự “đùa cợt” của tạo hóa.
- Liên hệ: Nỗi niềm của Bà Huyện Thanh Quan khiến ta liên tưởng đến nỗi ám ảnh về sự ngắn ngủi, vô thường của nhân sinh trong “Vội vàng” của Xuân Diệu:“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua”. Tuy nhiên, nếu Xuân Diệu hối hả, cuống quýt, giục giã sống gấp để níu giữ thanh xuân thì Bà Huyện Thanh Quan lại lặng lẽ hoài niệm, buồn thương trong một giọng điệu thâm trầm. Sự khác biệt ấy cho thấy mỗi thời đại, mỗi chủ thể sáng tạo đều có cách kiến tạo hình tượng và giọng điệu riêng, nhưng điểm gặp gỡ chung vẫn là nỗi đau nhân sinh trước bước đi không ngừng của thời gian.
3. Cảnh hoang phế Thăng Long qua cặp câu thực: Sự đối lập giữa thiên nhiên trường tồn và xã hội biến đổi, vạn vật đã đổi thay.
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh từng khẳng định: “Thơ không cần nhiều từ ngữ. Nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự sống. Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ”. Trong Thăng Long thành hoài cổ, cảnh vật không chỉ hiện ra ở hình xác bề ngoài mà được thổi hồn bằng cảm xúc hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan khi nhà thơ khắc họa cảnh điêu tàn của thành Thăng Long, để từ đó gợi niềm thương cảm sâu xa cho một dĩ vãng vàng son nay chỉ còn in dấu trong tâm tưởng: 
- Cặp từ “lối xưa – nền cũ” gợi ra dấu tích của một thời “xe ngựa” phồn hoa, “lâu đài” nguy nga. Nhưng điều còn lại không phải sự sống động của quá khứ, mà chỉ là “hồn” và “bóng”. 
- Cách dùng chữ cực kì đắt: “hồn thu thảo”: con đường xưa giờ phủ cỏ mùa thu. “Thu thảo” vốn đã gợi phai tàn, lại thêm chữ “hồn” khiến cảnh vật như có linh hồn u uẩn, lạnh lẽo. “bóng tịch dương”: nền lâu đài cũ chìm dưới bóng chiều tà. “Tịch dương” là ánh mặt trời sắp tắt là một thứ ánh sáng vừa đẹp vừa buồn, đẹp mà báo hiệu tàn lụi. 
- Hai câu thực vì vậy nhấn mạnh sự tương phản đau xót giữa quá khứ và hiện tại: nơi từng là trung tâm quyền lực giờ chỉ còn hoang phế. Thiên nhiên được “thổi hồn” để đồng vọng với tâm trạng; cảnh không chỉ là cảnh, mà là một nỗi buồn hữu hình. Đây chính là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình mẫu mực: càng ít lời than, càng nhiều lạnh buốt trong hình ảnh.
Liên hệ: Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng từng mượn cảnh xuân được nhân hóa, trở nên có tình, có suy với hình ảnh “Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” nhằm phản chiếu tâm trạng con người. Tuy nhiên, nếu ở Nguyễn Du, sắc xanh của cỏ non và màu trắng của hoa lê mở ra bầu không khí trong trẻo, gieo vào lòng người khát vọng yêu thương, thì ở Bà Huyện Thanh Quan, sắc úa của cỏ và ánh chiều tà lại gợi lên nỗi buồn phế tích, khơi dậy cảm thức chia lìa và tàn phai. Nhờ sự hòa quyện tinh tế giữa cảnh và tình, Bà Huyện Thanh Quan đã biến bức tranh thiên nhiên thành tấm gương phản chiếu tâm trạng, đồng thời gửi gắm niềm thương cảm sâu xa trước sự đổi thay của thời cuộc.
4. Chiều sâu triết luận qua cặp câu luận: đá – nước và triết lý thời gian
Nhà văn, nhà thơ người Anh Mary Shelley quan niệm: “Thi sĩ là con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vơi đi sự cô độc của chính mình”. Thơ ngâm mình trong cảm xúc của thi sĩ, là tiếng lòng không cất thành lời lại khâu dệt thành những vần thơ. Từ nỗi buồn cảnh phế tích, nhà thơ mở rộng suy tư về sự bền vững của thiên nhiên đối lập với sự biến thiên của lịch sử và xã hội: 
- Nếu hai câu thực thiên về “bức tranh phế tích”, thì hai câu luận nâng cảnh lên tầm biểu tượng và triết lí. Đá – nước vốn vô tri, nhưng vào thơ, chúng mang “thần thái” như con người. 
- “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”: “Đá” gợi cảm giác rắn chắc, bền bỉ. “Trơ gan” là cách nói mạnh: không chỉ “trơ” mà còn “gan” như một thái độ thách thức thời gian. Đá đứng đó, lặng lẽ, lì lợm, chứng kiến bao triều đại qua đi.  
- “Nước còn chau mặt với tang thương”: Trái với đá “trơ gan”, nước lại “chau mặt” – một cử chỉ rất người. Dòng nước không chỉ chảy; nó như đang nhăn lại vì đau xót, vì nhìn thấy “tang thương”. “Tang thương” là biến cố dâu bể, là những cuộc đổi thay khiến lòng người chấn động. 
- Cặp đối đá - nước, trơ gan – chau mặt, tuế - nguyệt, tang thương vừa chỉnh tề trong luật Đường, vừa giàu sức gợi: thiên nhiên như chia làm hai cực: một cực trường tồn và một cực thương cảm.
Nhà thơ Chế Lan Viên đã khẳng định: “Anh ta lấy tất cả những lo âu, suy tư, hạnh phúc, khổ đau một đời làm củi.Có khi nhen nhóm cả một đời mới thiêu được một mồi.Ngồi lên chất liệu đời mình. Rót vào đấy xăng của thời đại. Rồi lấy mình ra làm lửa châm vào. Bài thơ rực cháy. Chính vì lẽ đó, cảm thức trước sự đổi thay của thời cuộc, bài thơ bộc lộ triết lí thấm buồn vũ trụ có thể bền lâu, nhưng lịch sử thì biến thiên; và trong biến thiên ấy, con người chỉ còn biết đau mà bất lực. Tiếng đau khổ, niềm thương cảm ấy đến
Liên hệ: Như Trần Đình Hượu từng nhận định: “Thơ ca trung đại thường mượn cảnh để gửi tình, mượn thiên nhiên để nói chí”, bức tranh đá và nước trong thơ Bà Huyện Thanh Quan vì thế đã vượt khỏi tầng tả thực để chạm tới chiều sâu triết lí nhân sinh. Nếu “đá trơ gan” gợi đến khát vọng bền vững, trường tồn thì “nước chau mặt” lại cho thấy ngay cả tự nhiên cũng phải cảm thông, đồng vọng với nỗi đau phế tích, dẫu vũ trụ có trường tồn thì lòng người vẫn không thôi day dứt trước sự phai tàn. So sánh với Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, nơi thiên nhiên rực rỡ, đầy sức sống cũng được nhân hóa để phản ánh tình cảm yêu đời, yêu dân của thi nhân, ta càng thấy rõ nét riêng trong giọng thơ Bà Huyện Thanh Quan. Thiên nhiên trong thơ bà không bừng nở sức sống mà trĩu nặng nỗi u buồn phế tích, gợi cảm thức bất lực của con người trước những đổi thay nghiệt ngã của thời gian.
5. Cặp câu kết: “cảnh đấy người đây” bi kịch nhân sinh và tiếng thở dài đoạn trường 
- Câu thơ nhấn mạnh sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại: “Gương cũ soi kim cổ” là một hình ảnh vừa cụ thể vừa biểu tượng. “Gương cũ” không chỉ là chiếc gương, mà là tấm gương lịch sử. Nó “soi kim cổ” tức soi từ xưa đến nay, đặt hiện tại trước quá khứ để đối chiếu. Nhưng chính sự đối chiếu ấy lại khiến lòng người đau xót hơn: quá khứ huy hoàng càng hiện rõ, hiện tại tiêu điều càng lạnh lẽo. “Soi” không đem lại an ủi, mà như một lưỡi dao của nhận thức: nhìn rõ rồi, càng đau.
- “Cảnh đấy người đây” gợi lên cảm giác lạc lõng đến tê tái: “Cảnh đấy” như vẫn nằm đó, phế tích vẫn còn, dấu vết vẫn còn. Nhưng “người đây” đã khác: thời thế đổi thay, triều đại thay, lòng người thay. Con người đứng giữa không gian đầy dấu tích lịch sử mà thấy mình lẻ loi, như một kẻ đến muộn, chỉ kịp nhặt những mảnh vỡ của vàng son.
- “Luống đoạn trường”:“Đoạn trường” là nỗi đau đứt ruột. Thêm chữ “luống” (chỉ là, chỉ còn) làm nỗi đau trở thành kết cục tất yếu nhìn cảnh ấy, người đây chỉ còn biết đứt ruột mà thôi. Đây không phải tiếng khóc ồn ào, mà là nỗi đau chừng mực, sang trọng mà sâu sắc đúng phong cách Bà Huyện Thanh Quan. Theo Bảo Ninh “Tầm văn hóa càng sâu rộng, tác phẩm của nhà văn càng đạt được tới gần hơn nỗi niềm và tiếng lòng của nhân dân thời đại mình”. Bởi vậy hai câu kết vì vậy dồn nén toàn bộ cảm xúc: một tiếng nấc hoài cổ, một bi kịch nhân sinh lịch sử như gương soi, soi càng lâu càng thấm đẫm nỗi buồn.
Liên hệ: Nếu thơ Chế Lan Viên trong Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng là tiếng reo vui náo nức trước sự hồi sinh của đất nước, thì thơ Bà Huyện Thanh Quan lại là tiếng thở dài đoạn trường (nỗi đau đứt ruột) khi chứng kiến phế tích suy tàn. Sự đối lập này cho thấy khác biệt rõ nét về cảm hứng lịch sử giữa hai thời đại: một bên là niềm vui nhập cuộc của hiện tại, một bên là nỗi buồn hoài vọng về quá khứ đã xa.
6. Nghệ thuật Đường luật và ngôn ngữ bác học – yếu tố tạo nên vẻ đẹp cổ kính 
- Nhà thơ Xuân Diệu khẳng định: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Chính bởi vậy, thành công của “Thăng Long hoài cổ” không chỉ ở nội dung sâu sắc mà còn nhờ ngòi bút tài tình của tác giả. Thể thất ngôn bát cú Đường luật tạo dáng vẻ cổ kính, trang trọng; bố cục đề–thực–luận–kết vận hành chặt chẽ như một “khung” để cảm xúc không tràn lan mà đằm sâu. 
- Phép đối ở thực và luận rất chỉnh: không chỉ để “đúng luật” mà còn làm nổi bật tương phản (xưa–nay, huy hoàng–hoang phế, bền–tan, trơ–buồn). 
- Từ Hán Việt (“hý trường, tinh sương, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường”) phủ lên bài thơ một sắc thái bác học – trang nhã – trầm tĩnh, khiến nỗi buồn không sướt mướt mà u hoài, cổ điển. 
- Nhạc tính vần bằng ngân dài làm “tiếng thở dài” của thi nhân như kéo dài mãi, đúng tinh thần hoài cổ:
7. Giá trị nội dung và nghệ thuật tổng hợp
Thăng Long thành hoài cổ thấm đẫm cảm hứng hoài cổ, là tiếng lòng xót xa của Bà Huyện Thanh Quan trước phế tích cố đô và quy luật hưng phế của lịch sử. Qua bức tranh cỏ úa, đá trơ, nước buồn, thiên nhiên trở thành chứng nhân lịch sử, đồng thời là tấm gương phản chiếu nỗi đoạn trường của thi nhân trước sự đổi thay của thời gian và kiếp người. Thành công của bài thơ còn nằm ở bút pháp Đường luật tinh tế với phép đối chỉnh tề, ẩn dụ, nhân hoá giàu sức gợi, cùng nhạc tính ngân dài cổ kính. Tất cả hòa quyện trong giọng điệu trang nhã, u hoài mà sang trọng, tạo nên một khúc bi ca hoài cổ vượt thời gian, để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc.
III. KẾT BÀI
Khẳng định vẻ đẹp của Thăng Long thành hoài cổ: khúc ca hoài cổ đặc sắc của thơ trung đại. Tôn vinh nghệ thuật bậc thầy của Bà Huyện Thanh Quan: trang nhã, tinh luyện, triết lí. Mở rộng: bài thơ góp phần khẳng định giá trị bền vững của Thăng Long – Hà Nội trong tâm thức dân tộc.
Bài viết tham khảo:
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng nói: “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi chạm tới cuộc đời.” Với Bà Huyện Thanh Quan, tiếng nói ấy đã cất lên từ nỗi buồn man mác của buổi giao thời, là tiếng lòng chung của bao thế hệ trước sự đổi thay của thời cuộc và bóng dáng hoang phế của kinh thành Thăng Long xưa. Trong bài thơ Thăng Long thành hoài cổ, tác giả đã mượn hình thức Đường luật nghiêm ngặt để làm khung cho cảm xúc, rồi gửi gắm vào đó một nỗi hoài cổ sâu lắng. Bằng sự tài hoa trong cách gieo vần, đối ngẫu và lựa chọn hình ảnh, bà đã biến quá khứ vàng son và hiện tại tàn phai thành một khúc bi ca trĩu nặng tâm tình, để từ đó tiếng nói hoài niệm vượt qua giới hạn thời gian, ngân vang và ám ảnh mãi trong lòng hậu thế.
Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nữ sĩ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam. Người phụ nữ tài hoa ấy không để lại nhiều tác phẩm, nhưng mỗi áng thơ đều là một “tinh hoa chắt lọc”, chứa đựng chiều sâu tâm sự và tầm vóc tư tưởng. Với một tâm hồn nhạy cảm, một trí tuệ sắc sảo cùng nỗi niềm hoài cổ day dứt, Bà Huyện Thanh Quan đã kiến tạo nên phong cách thơ độc đáo: trang nhã, tinh tế, giàu tính biểu tượng và thấm đẫm cảm thức u hoài. Thơ bà thường gắn với thiên nhiên và lịch sử, để từ đó gửi gắm nỗi lòng trước sự đổi thay của thời cuộc và phận người. Trong số ít ỏi tác phẩm còn lại, “Thăng Long thành hoài cổ” là bài thơ nổi bật, được xem như tiếng thở dài da diết trước cảnh hoang phế của cố đô nghìn năm văn hiến. Bằng bút pháp Đường luật trang trọng, bằng hình ảnh cô đọng giàu nhạc tính, bài thơ không chỉ tái hiện khung cảnh phồn hoa xưa đã chìm trong tàn phai, mà còn trở thành một triết luận nhân sinh về sự hưng phế của vương triều và nỗi đoạn trường của thi nhân. Trong dòng chảy thi ca Á Đông, thiên nhiên thường là chỗ để con người gửi gắm tâm sự, cũng là nơi để con người tìm thấy triết lí về thế sự. Qua những cỏ úa, đá gan, nước buồn, Bà Huyện Thanh Quan đã để lại một tiếng nói thấm đẫm nhân tình, góp phần khẳng định vị trí đặc biệt của mình trong dòng chảy thi ca dân tộc.
Về quy luật sáng tạo nghệ thuật, thi sĩ người Anh William Wordsworth khẳng định: “Thơ ca là sự bột phát của những tình cảm mãnh liệt”. Quả thực, ngay từ phần mở đầu của Thăng Long thành hoài cổ, Bà Huyện Thanh Quan đã để tình cảm dồn nén bật thành tiếng nói nghệ thuật, khái quát sự đời như một trò đùa của tạo hoá và nhấn mạnh nỗi buồn thấm thía trước sự trôi chảy mau lẹ của thời gian:“Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,/Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.” Câu hỏi tu từ “gây chi” cất lên không chỉ là lời trách móc tạo hoá mà còn là tiếng thở dài bất lực của cái tôi trữ tình trước những biến thiên dâu bể. Ngay sau đó, hình ảnh “cuộc hý trường” xuất hiện như một ẩn dụ nhân sinh, biến đời người và cả sự hưng phế của triều đại thành một màn kịch thoáng qua trên sân khấu vũ trụ. Cách lựa chọn từ ngữ ‘thấm thoát’ và hình ảnh ‘mấy tinh sương’ càng làm nổi bật nhịp bước gấp gáp của thời gian, gợi cảm giác con người nhỏ bé, bất lực trước vòng quay vô thủy vô chung. Nỗi niềm của Bà Huyện Thanh Quan khiến ta liên tưởng đến nỗi ám ảnh về sự ngắn ngủi, vô thường của nhân sinh trong “Vội vàng” của Xuân Diệu:“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua”. Tuy nhiên, nếu Xuân Diệu hối hả, cuống quýt, giục giã sống gấp để níu giữ thanh xuân thì Bà Huyện Thanh Quan lại lặng lẽ hoài niệm, buồn thương trong một giọng điệu thâm trầm. Sự khác biệt ấy cho thấy mỗi thời đại, mỗi chủ thể sáng tạo đều có cách kiến tạo hình tượng và giọng điệu riêng, nhưng điểm gặp gỡ chung vẫn là nỗi đau nhân sinh trước bước đi không ngừng của thời gian.
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh từng khẳng định: “Thơ không cần nhiều từ ngữ. Nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự sống. Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ”. Trong Thăng Long thành hoài cổ, cảnh vật không chỉ hiện ra ở hình xác bề ngoài mà được thổi hồn bằng cảm xúc hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan khi nhà thơ khắc họa cảnh điêu tàn của thành Thăng Long, để từ đó gợi niềm thương cảm sâu xa cho một dĩ vãng vàng son nay chỉ còn in dấu trong tâm tưởng: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.” Phép đối chỉnh tề giữa “lối xưa” và “nền cũ” đặt cạnh “thu thảo” và “tịch dương” đã tạo nên sự tương phản rõ nét giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại hoang phế. Khi “hồn thu thảo” và “bóng tịch dương” được nhân hóa, cỏ cây và ánh chiều dường như mang linh hồn, cùng chia sẻ nỗi u buồn với con người. Đây là minh chứng tiêu biểu cho thủ pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của thơ ca trung đại, nơi thiên nhiên trở thành phương tiện giãi bày tâm tư và suy ngẫm thế sự. Qua ngọn cỏ úa và ánh chiều tà, thi nhân đã khắc họa nỗi buồn nhân thế, gợi nhớ một Thăng Long ngàn năm văn hiến nay chỉ còn trong hoài niệm. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng từng mượn cảnh xuân được nhân hóa, trở nên có tình, có suy với hình ảnh “Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” nhằm phản chiếu tâm trạng con người. Tuy nhiên, nếu ở Nguyễn Du, sắc xanh của cỏ non và màu trắng của hoa lê mở ra bầu không khí trong trẻo, gieo vào lòng người khát vọng yêu thương, thì ở Bà Huyện Thanh Quan, sắc úa của cỏ và ánh chiều tà lại gợi lên nỗi buồn phế tích, khơi dậy cảm thức chia lìa và tàn phai. Nhờ sự hòa quyện tinh tế giữa cảnh và tình, Bà Huyện Thanh Quan đã biến bức tranh thiên nhiên thành tấm gương phản chiếu tâm trạng, đồng thời gửi gắm niềm thương cảm sâu xa trước sự đổi thay của thời cuộc.
Nhà văn, nhà thơ người Anh Mary Shelley quan niệm: “Thi sĩ là con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vơi đi sự cô độc của chính mình”. Thơ ngâm mình trong cảm xúc của thi sĩ, là tiếng lòng không cất thành lời lại khâu dệt thành những vần thơ. Từ nỗi buồn cảnh phế tích, nhà thơ mở rộng suy tư về sự bền vững của thiên nhiên đối lập với sự biến thiên của lịch sử và xã hội: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,/Nước còn chau mặt với tang thương.” Hình ảnh “đá trơ gan” gợi sức mạnh kiên định, thách thức mọi biến đổi của thời gian, trong khi “nước chau mặt” lại khơi dậy nỗi xót xa, như thể thiên nhiên cũng đồng cảm với bao dâu bể nhân thế. Cặp đối “trơ gan – chau mặt”, “đá – nước” vừa tương phản vừa bổ sung cho nhau, qua đó dựng nên một bức tranh thiên nhiên mang tính biểu tượng: đá và nước trở thành những chứng nhân lặng lẽ của lịch sử thăng trầm. Đây chính là thủ pháp biểu tượng hóa thiên nhiên trong thơ trung đại, khi cảnh vật không chỉ dùng để miêu tả mà còn trở thành tấm gương phản chiếu thế sự và tâm trạng con người. Như Trần Đình Hượu từng nhận định: “Thơ ca trung đại thường mượn cảnh để gửi tình, mượn thiên nhiên để nói chí”, bức tranh đá và nước trong thơ Bà Huyện Thanh Quan vì thế đã vượt khỏi tầng tả thực để chạm tới chiều sâu triết lí nhân sinh. Nếu “đá trơ gan” gợi đến khát vọng bền vững, trường tồn thì “nước chau mặt” lại cho thấy ngay cả tự nhiên cũng phải cảm thông, đồng vọng với nỗi đau phế tích, dẫu vũ trụ có trường tồn thì lòng người vẫn không thôi day dứt trước sự phai tàn. So sánh với Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, nơi thiên nhiên rực rỡ, đầy sức sống cũng được nhân hóa để phản ánh tình cảm yêu đời, yêu dân của thi nhân, ta càng thấy rõ nét riêng trong giọng thơ Bà Huyện Thanh Quan. Thiên nhiên trong thơ bà không bừng nở sức sống mà trĩu nặng nỗi u buồn phế tích, gợi cảm thức bất lực của con người trước những đổi thay nghiệt ngã của thời gian
Kết thúc bài thơ, Bà Huyện Thanh Quan bộc lộ trực tiếp nỗi đau buồn hoài cổ của mình khi chứng kiến sự đối lập giữa cảnh còn và người mất. “Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,/Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.” “Gương cũ’ ở đây không chỉ là một hình ảnh ước lệ mà còn là biểu tượng cho tấm gương lịch sử, nơi soi chiếu bao thăng trầm hưng phế của nghìn năm kinh thành. Trong khung cảnh ấy, sự đối lập giữa ‘cảnh đấy’ và ‘người đây’ càng khắc sâu bi kịch nhân sinh: cảnh vật dường như bất biến, nhưng con người và triều đại lại không ngừng đổi thay, mất mát. Từ ‘luống đoạn trường’ cất lên như một tiếng thở dài bất lực, vừa là lời than thở vừa là tiếng xót xa, gợi cảm thức về sự mong manh của kiếp người trước bước đi vô thủy vô chung của thời gian. Nếu thơ Chế Lan Viên trong Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng là tiếng reo vui náo nức trước sự hồi sinh của đất nước, thì thơ Bà Huyện Thanh Quan lại là tiếng thở dài đoạn trường (nỗi đau đứt ruột) khi chứng kiến phế tích suy tàn. Sự đối lập này cho thấy khác biệt rõ nét về cảm hứng lịch sử giữa hai thời đại: một bên là niềm vui nhập cuộc của hiện tại, một bên là nỗi buồn hoài vọng về quá khứ đã xa.
Nhà thơ Xuân Diệu khẳng định: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Chính bởi vậy, thành công của “Thăng Long hoài cổ” không chỉ ở nội dung sâu sắc mà còn nhờ ngòi bút tài tình của tác giả. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, với vần bằng “ương” lặp lại ở các câu 1, 2, 4, 6, 8, tạo nên âm hưởng ngân dài, cổ kính. Kết cấu đề – thực – luận – kết được vận hành chặt chẽ, khiến toàn bài như một chỉnh thể hoàn mỹ. Ngay từ hai câu mở đầu “Tạo hoá gây chi cuộc hý trường, / Đến nay thấm thoát mấy tinh sương”, nghi vấn tu từ đã chạm thẳng vào tầng triết luận, đặt nền cho cảm thức vô thường bao trùm. Nhịp điệu bảy chữ thường ngắt 4/3 hoặc 3/4, kết hợp với những từ Hán Việt có trọng âm mạnh, giúp câu thơ dằn nhấn, vừa khoẻ khoắn vừa ngân vang. Hoàng Nhuận Cầm từng nói: “Nhạc là cỗ xe chở hồn thi phẩm”. Quả thực, trong đoạn thơ này, chính nhạc tính đều đặn và uyển chuyển của thể Đường luật đã trở thành phương tiện nâng đỡ hồn cốt, đưa suy tưởng triết lí của tác giả đến với người đọc.
Bênh cạnh đó, trường từ vựng Hán Việt như “hý trường”, “tinh sương”, “tịch dương”, “tuế nguyệt”, “tang thương”, “kim cổ” cũng đã góp phần tạo nên sắc thái bác học, trang nhã đặc trưng của thơ trung đại, đồng thời phủ lên toàn bài một âm hưởng trầm tĩnh và suy tưởng. Câu nghi vấn “gây chi” không nhằm đi tìm câu trả lời cho quy luật lịch sử, mà như một tiếng ngân dài của nỗi thở than nhân thế, mở đầu cho mạch cảm xúc hoài cổ. Sự xuất hiện của hai phó từ “vẫn” và “còn” trong “Đá vẫn trơ gan”, “Nước còn chau mặt” đã đặt cạnh nhau hai đối cực tĩnh và động, trường tồn và biến thiên, qua đó khắc sâu giọng điệu triết luận thấm buồn. Ở đây, ngôn từ không chỉ làm nhiệm vụ tường thuật mà còn gợi mở những tầng nghĩa ngoài văn bản. Theo nguyên tắc “ý tại ngôn ngoại” trong thi pháp học cổ điển, vẻ đẹp của thơ ca nằm ở chỗ nói ít mà gợi nhiều, không bộc lộ trực tiếp cảm xúc nhưng lại mở ra cả một trường liên tưởng rộng lớn. Đúng như nhận định của Nguyễn Đình Thi: “Đụng chạm với cuộc sống hằng ngày tâm trạng nảy lên bao nhiêu hình ảnh như lúc búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm lặt những tia sáng ấy, kết thành một bó sáng. Đó là hình ảnh thơ”
Viết về Thăng Long thành hoài cổ, ngòi bút Bà Huyện Thanh Quan hiện lên trang nhã mà thấm đẫm cảm hứng hoài cổ. Cảm hứng ấy không phải từ những miền tưởng tượng huyền ảo, mà bắt nguồn từ nỗi đau có thật trước sự phai tàn của một kinh đô nghìn năm văn hiến. Giọng thơ u hoài nhưng vẫn sang trọng, chừng mực đã tạo nên một khúc bi ca vừa lặng lẽ, vừa ngân vang trong lòng hậu thế. Ngay từ nhan đề, Thăng Long thành hoài cổ đã gợi ra một liên tưởng kép: một mặt tái hiện sự suy tàn phế tích, mặt khác như một lời thở than da diết cho quá khứ vàng son không thể trở lại. Bài thơ mang phong cách nghệ thuật độc đáo, hàm súc, giàu nhạc tính của một nữ sĩ bậc thầy về thể thất ngôn bát cú Đường luật. Bà Huyện Thanh Quan khéo léo sử dụng phép đối chỉnh tề, kết hợp nhân hoá, ẩn dụ, từ đó biến cảnh vật thành chứng nhân lịch sử, vừa cụ thể, vừa khái quát. Các hình ảnh mang tính biểu tượng, gợi mở tầng nghĩa sâu xa về sự đối lập giữa thiên nhiên vĩnh cửu và nhân thế đổi thay. Thể thơ Đường luật với cấu trúc chặt chẽ nhưng nhạc tính uyển chuyển đã khiến từng con chữ như được “mài dũa”, phát sáng trong nỗi u hoài của thi nhân. Nhờ vậy, Thăng Long thành hoài cổ vừa có vẻ đẹp cổ kính, trang trọng của một khúc ngâm hoài cổ, vừa vang lên âm hưởng nhân tình tha thiết. Bằng nghệ thuật tinh tế và phong cách riêng biệt, Bà Huyện Thanh Quan đã biến thiên nhiên thành tấm gương phản chiếu thời gian, khắc họa rõ nét nỗi đoạn trường của con người trước sự đổi thay của lịch sử.
Thạch Lam từng tâm niệm: “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp các hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường”. Với Bà Huyện Thanh Quan, cái đẹp lại nằm trong sự giao thoa giữa cảnh vật thiên nhiên và tâm trạng con người. Bài thơ Thăng Long thành hoài cổ không chỉ gợi ra vẻ đẹp u buồn, hoang phế của cố đô, mà còn để lại dư âm đoạn trường trong lòng độc giả bao thế hệ. Đó là nỗi hoài cổ vừa riêng tư vừa cộng hưởng với tâm thức dân tộc, để mỗi lần đọc lại, ta càng thêm trân trọng lịch sử, quá khứ và những giá trị bền vững của văn chương.