Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
VĂN BẢN 1
"Đối với nước ta, có lẽ háo danh nằm sâu trong nguồn gốc của văn hóa, bởi có danh thì có phận, tức là anh có danh tiếng thì được đánh giá cao hơn, có danh tiếng thì có chức tước cao hơn. Háo danh là từ có ý nghĩa tiêu cực. Đầu tiên là anh coi trọng danh tiếng trên mức cần thiết. Thứ hai là anh coi trọng danh tiếng trên mức mà anh có. Có lẽ, hảo danh phản ánh cả hai khía cạnh đó", TS. Nguyễn Sĩ Dũng – Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chia sẻ.
Xét trên nghĩa tích cực, ai cũng có nhu cầu trở thành một người có giá trị, có đóng góp cho cộng đồng, xã hội. Lập danh là một khát vọng chính đáng nếu khẳng định bằng chính năng lực của mình và được xã hội công nhận. Ngược lại, cái danh trở thành phương tiện thay vì mục tiêu, nó trở thành một thứ hàng hóa, từ đó lệch lạc giá trị đích thực.
Vài năm trước đây, đã từng rộ lên những giải thưởng trong giới doanh nhân. Đâu đâu cũng thấy tâm, tầm, tài, trí, đức. Nhiều danh hiệu chỉ cần bỏ vài chục triệu đồng ra mua mà không trao dựa trên năng lực, hay đóng góp thực tế của doanh nghiệp.
"Công danh không phải cho cá nhân mà là cống hiến cho tổ quốc, cho cộng đồng thì danh tiếng mới có giá trị. Giá trị của một doanh nghiệp, một con người, cộng đồng được xác định một cách chính xác, nhân văn, chứ không phải là đi quảng bá, tuyên truyền rầm rộ. Điều đó không được", PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ - Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học – nghệ thuật trung ương cho biết.
Không chỉ trong giới nghệ sĩ hay doanh nhân, nhiều chuyên gia còn chỉ ra rằng trong nhiều ngành nghề khác, biểu hiện của tính háo danh cũng không nhỏ. Đơn cử như công chức, viên chức phục vụ hành chính công, các tiêu chí để đánh giá năng lực là thái độ phục vụ nhân dân (70%), kỹ năng (26%) và tri thức (4%). Nói cách khác, công chức không yêu cầu trình độ thạc sĩ hay tiến sĩ, vốn là các học vị dành cho các cơ quan nghiên cứu học thuật, nhưng tỷ lệ công chức là thạc sĩ, tiến sĩ của Việt Nam thuộc top đầu thế giới. Thậm chí, đó còn được xem là tiêu chí để tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ quản lý.
Hội nghị văn hóa toàn quốc đã xác định giá trị của con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, cần có giả trị cốt lõi là yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương và sáng tạo. Trung thực là một phẩm chất quan trọng. Muốn xây dựng nó phải nhận diện và thay đổi thói hảo danh. Hảo danh không chỉ kéo theo thói hư tật xấu mà còn khiến cho những người có năng lực thực sự sẽ cảm thấy tiêu cực, chán nản và mất ý chí phấn đấu. Chúng ta cần phải xứng đáng với những danh hiệu chúng ta có.
(Trích Háo danh nằm sâu trong nguồn gốc của văn hóa người Việt, Báo điện tử Vtv.vn ngày 06/04/2023)
Câu 1 [1073073]: Văn bản viết: "Háo danh là từ có ý nghĩa tiêu cực. Đầu tiên là anh coi trọng danh tiếng trên mức cần thiết. Thứ hai là anh coi trọng danh tiếng trên mức mà anh có." Nhận định nào ĐÚNG với ý nghĩa của thói háo danh?
A, Háo danh là biểu hiện của sự khát vọng vươn lên, luôn được đánh giá cao trong xã hội.
B, Háo danh chỉ là một đặc điểm mang tính văn hóa, không ảnh hưởng đến tư cách cá nhân.
C, Háo danh luôn là động lực tích cực để con người đạt được những mục tiêu lớn lao.
D, Háo danh phản ánh sự coi trọng danh tiếng quá mức và không phù hợp với khả năng thực tế.
Dẫn chứng – vị trí: Đ1: “Háo danh là từ có ý nghĩa tiêu cực. Đầu tiên là anh coi trọng danh tiếng trên mức cần thiết. Thứ hai là anh coi trọng danh tiếng trên mức mà anh có.”
Giải thích – suy luận: Tác giả xác định hai biểu hiện cốt lõi của “háo danh”: đề cao danh tiếng quá giới hạn hợp lý và vượt quá năng lực thực có. Như vậy, D là diễn đạt đúng nhất ý nghĩa của “háo danh”. Các phương án A, C gắn “háo danh” với động lực tích cực là không đúng ngữ nghĩa mà tác giả đã quy chiếu; B coi đây chỉ là đặc điểm văn hóa trung tính cũng trái với mệnh đề “có ý nghĩa tiêu cực”. Đáp án: D
Câu 2 [1073074]: Văn bản cho rằng điều gì sẽ xảy ra nếu thói háo danh không được thay đổi?
A, Những người có năng lực thực sự sẽ cảm thấy bị tổn thương, tiêu cực và mất đi động lực cũng như ý chí để phấn đấu trong công việc và cuộc sống.
B, Những người có năng lực thực sự sẽ cảm thấy bị tổn thương, tiêu cực và giá trị văn hóa của dân tộc sẽ dần bị xóa nhòa, nhường chỗ cho các thói quen tiêu cực trong xã hội.
C, Những người có năng lực thực sự sẽ cảm thấy bị tổn thương, tiêu cực, xã hội sẽ kém phát triển mối quan hệ gắn kết hơn vì danh hiệu đã trở thành mục tiêu chung của mọi người.
D, Những người có năng lực thực sự sẽ cảm thấy bị tổn thương, tiêu cực, các ngành nghề sẽ hoạt động mà không cần đến tiêu chí đánh giá năng lực cụ thể, dẫn đến sự thiếu minh bạch.
Dẫn chứng – vị trí: Đ6: “Trung thực là một phẩm chất quan trọng. Muốn xây dựng nó phải nhận diện và thay đổi thói hảo danh. Hảo danh… còn khiến cho những người có năng lực thực sự sẽ cảm thấy tiêu cực, chán nản và mất ý chí phấn đấu.”
Giải thích – suy luận: Văn bản nêu thẳng hệ quả nếu không thay đổi thói háo danh: người thực tài bị nản chí, mất động lực. Từ tác động cá nhân có thể suy ra ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng nguồn lực xã hội. Phương án A khớp đúng mệnh đề này; các phương án còn lại thêm thắt hệ quả mà văn bản không nêu trực tiếp. Đáp án: A
Câu 3 [1073075]: Để làm sáng tỏ quan điểm “háo danh có thể làm lệch lạc giá trị đích thực” tác giả đã sử dụng những lí lẽ nào sau đây?
A, Học vị cao luôn là yếu tố quyết định để đánh giá năng lực của một người trong xã hội.
B, Hiện tượng mua danh hiệu trong giới doanh nhân và việc nhiều người cố gắng đạt danh vọng bằng cách học tập và rèn luyện thực sự.
C, Những doanh nhân thành đạt đều dựa vào danh hiệu để xây dựng thương hiệu cá nhân.
D, Hiện tượng mua danh hiệu trong giới doanh nhân, đề cao học vị trong tuyển dụng công chức mà không dựa vào năng lực thực tế.
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ3: “Nhiều danh hiệu chỉ cần bỏ vài chục triệu đồng ra mua mà không trao dựa trên năng lực, hay đóng góp thực tế của doanh nghiệp.”
• Đ5: “…các tiêu chí để đánh giá năng lực là thái độ… kỹ năng… tri thức… nhưng tỷ lệ công chức là thạc sĩ, tiến sĩ… thuộc top đầu thế giới. Thậm chí, đó còn được xem là tiêu chí để tuyển chọn, bổ nhiệm…”
Giải thích – suy luận: Hai mảng bằng chứng song song: “mua danh hiệu” trong giới doanh nhân và “đề cao học vị” khi tuyển dụng công chức bất chấp tiêu chí công vụ. Cả hai đều cho thấy danh tiếng bị tách khỏi năng lực – đóng góp thực, làm lệch chuẩn giá trị.
Câu 4 [1073076]: Văn bản viết: "Danh tiếng trở thành một thứ hàng hóa, từ đó lệch lạc giá trị đích thực." Theo bạn, điều này phản ánh vấn đề gì trong xã hội hiện đại?
A, Việc thương mại hóa danh tiếng đã khiến xã hội hiện đại nên đặt danh tiếng lên hàng đầu và tập trung vào việc xây dựng hình ảnh thay vì chú trọng năng lực hoặc đóng góp thực tế.
B, Danh tiếng hiện nay chỉ mang tính chất bề nổi, không còn phản ánh giá trị cốt lõi của một cá nhân hoặc tổ chức, dẫn đến sự lãng phí tiềm năng xã hội.
C, Việc thương mại hóa danh tiếng đã làm suy giảm giá trị thực chất của năng lực cá nhân và những đóng góp thực tế, đồng thời tạo ra một xã hội đánh giá con người dựa trên hình thức hơn nội dung.
D, Danh tiếng không còn quan trọng trong xã hội ngày nay, vì các tiêu chí khác như mối quan hệ hay vị trí cá nhân đã thay thế hoàn toàn vai trò của danh tiếng.
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ2: “Cái danh trở thành phương tiện thay vì mục tiêu, nó trở thành một thứ hàng hóa, từ đó lệch lạc giá trị đích thực.”
• Đ4: “Giá trị… được xác định một cách chính xác, nhân văn, chứ không phải là đi quảng bá, tuyên truyền rầm rộ. Điều đó không được.”
• Đ3 (bổ trợ): thực trạng giải thưởng mua bán trong giới doanh nhân.
Giải thích – suy luận: Khi “danh” bị thương mại hóa, cách đánh giá xã hội nghiêng về hình thức (mua bán, quảng bá) thay vì nội dung (năng lực, cống hiến). Phương án C phản ánh đúng phê phán của văn bản: danh tiếng bị hàng hóa hóa làm suy giảm giá trị thực chất.
Câu 5 [1073077]: Văn bản chỉ ra: "Muốn xây dựng nó phải nhận diện và thay đổi thói háo danh." Theo bạn, thói háo danh có thể thay đổi bằng cách nào?
A, Tăng cường giáo dục toàn diện về giá trị thực chất của năng lực và sự cống hiến, loại bỏ hoàn toàn các tiêu chí đánh giá năng lực, thay vào đó áp dụng các tiêu chí đánh giá hình thức để tăng tính cạnh tranh trong xã hội.
B, Tăng cường giáo dục toàn diện về giá trị thực chất của năng lực và sự cống hiến; đồng thời giảm thiểu các hình thức trao danh hiệu không dựa trên tiêu chí khách quan, minh bạch và thực tế.
C, Tăng cường giáo dục toàn diện về giá trị thực chất của năng lực và sự cống hiến, xóa bỏ toàn bộ hệ thống danh hiệu và khen thưởng trong xã hội để ngăn chặn hiện tượng háo danh, nhằm tạo ra một môi trường công bằng và phi cạnh tranh.
D, Tăng cường giáo dục toàn diện về giá trị thực chất của năng lực và sự cống hiến, đồng thời chỉ áp dụng các biện pháp thay đổi thói háo danh trong một số ngành nghề đặc thù, mà không cần phổ biến rộng rãi cho toàn xã hội.
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ6: “Muốn xây dựng [trung thực] phải nhận diện và thay đổi thói hảo danh.”; và “Chúng ta cần phải xứng đáng với những danh hiệu chúng ta có.”
• Đ4: “Giá trị… được xác định một cách chính xác, nhân văn, chứ không phải… quảng bá, tuyên truyền rầm rộ.”
• Đ5: nêu thực trạng đề cao học vị không đúng tính chất công vụ, hàm ý cần tiêu chí khách quan, minh bạch.
Giải thích – suy luận: Văn bản gợi hai trục giải pháp: giáo dục nhận thức về giá trị thực chất (đức tính trung thực, xứng đáng với danh hiệu) và chấn chỉnh cơ chế danh hiệu theo tiêu chí khách quan – minh bạch (tránh hình thức, tránh “mua danh”, tránh lấy học vị làm chuẩn lệch). Phương án B kết nối đúng cả giáo dục và cải cách cách thức trao – sử dụng danh hiệu.
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.

VĂN BẢN 2
Có một lần tôi đi xem kịch, màn 1 kết thúc, cô MC nói xin quý vị khán giả một tràng pháo tay. Cả khán phòng đầy ắp khán giả nhưng chỉ lác đác, lẹt đẹt có mấy cái vỗ tay. Tôi hỏi anh bạn ngồi bên cạnh, kịch có hay không anh? Anh trả lời một hơi: - Hay quá, không ngờ kịch lại hay như vậy. Nhiều năm nay tôi không đi xem kịch, bữa nay vì người ta tặng vẻ nên đi thử, không ngờ kịch hay như thế. Lần sau, nếu không ai tặng vé thì cũng sẽ mua vé để đi coi.
- Nhưng lúc nãy tôi thấy anh không vỗ tay, tôi hỏi. Và anh ấy trả lời một cách rất tự nhiên rằng, đã có người khác vỗ rồi, nên mình không vỗ cũng được.
Vậy là rõ rồi, anh ấy và hầu hết mọi người trong khán phòng đều không vỗ tay, không hẳn vì họ không thích vở kịch. Họ không vỗ tay là vì ai cũng nghĩ rằng, "đã có người khác vỗ rỗi, nên mình không vỗ cũng được". Và vì ai cũng nghĩ như vậy nên rốt cuộc chẳng mấy ai vỗ tay.
Có mấy điều suy nghĩ từ câu chuyện này:
Một là, về khán giả của vở kịch. Chuyện gì sẽ đến khi mà hầu hết khán giả tiết kiệm một tràng vỗ tay để cổ vũ và tán thưởng, dù các nghệ sĩ rất xứng đáng được như vậy? Điều đó có thể khiến cho người nghệ sĩ biểu diễn mất dần cảm hứng, vả những tiết mục càng về sau của họ sẽ không còn xuất sắc như lúc đầu nữa. Và người thiệt thòi chính là khán giả chứ không phải ai khác. Trái lại, nếu mỗi người đều có ý thức vỗ tay thì sẽ tạo nên những tràng pháo tay vang dội, khiến cho người nghệ sĩ cảm thấy mình được trân trọng, phần biểu diễn của họ sẽ càng trở nên thăng hoa hơn và khán giả sẽ được thưởng thức nghệ thuật đích thực.
Hai là, về phương diện xã hội, nếu như ai cũng thoái thác trách nhiệm của mình, ai cũng ỷ lại người khác như vậy thì xã hội sẽ ra sao? Ba là, về phương diện cá nhân, nếu mình thấy vở kịch hay thì cứ vỗ tay, còn ai có vỗ tay hay không là chuyện của họ, mình không bận tâm lắm, đó mới là cách nghĩ và cách hành xử của con người tự do và tự trị. Nói cách khác, con người tự do/ tự trị sẽ hành động theo "tiếng gọi bên trong" của mình, họ sẽ không hành xử theo kiểu bầy đàn (mọi người sao thì mình vậy, luôn giống mọi người), họ sẽ không hành động theo kiểu khuôn mẫu (hồi trước sao thì bây giờ sẽ như vậy), họ sẽ không hành xử theo kiểu luôn khác (tôi phải luôn khác biệt với mọi người), và họ cũng không ỷ lại cho người khác (nếu đó là trách nhiệm cá nhân của mình thì mình sẽ làm, không cần biết là người khác có làm hay không).

(Giản Tư Trung, đúng việc- một góc nhìn về câu chuyện khai minh, NXB Tri thức, tr. 33-34)

Câu 6 [1073078]: Theo nội dung văn bản, vì sao hầu hết khán giả trong khán phòng không vỗ tay?
A, Vì họ không thích vở kịch.
B, Vì họ nghĩ rằng đã có người khác vỗ tay rồi nên mình không cần vỗ tay nữa.
C, Vì họ không muốn cổ vũ cho nghệ sĩ biểu diễn.
D, Vì họ nghĩ rằng vỗ tay không quan trọng.
Đáp án: B. Dẫn chứng – vị trí:
• Đ1: “đã có người khác vỗ rồi, nên mình không vỗ cũng được.”
• Đ2: “ai cũng nghĩ rằng, ‘đã có người khác vỗ rồi, nên mình không vỗ cũng được’. Và vì ai cũng nghĩ như vậy nên rốt cuộc chẳng mấy ai vỗ tay.”
Giải thích – suy luận: Văn bản mô tả rõ tâm lý ỷ lại: mỗi người trông chờ người khác làm trước nên tự miễn trừ trách nhiệm vỗ tay. Khi số đông cùng nghĩ như vậy, kết quả là cả khán phòng gần như không ai vỗ. Đáp án: B
Câu 7 [1073079]: Tác giả nêu quan điểm về "con người tự do/ tự trị." Theo bạn, đặc điểm nào sau đây KHÔNG thuộc về con người tự do/ tự trị?
A, Họ hành động dựa trên cảm xúc nhất thời và luôn tuân theo thói quen cũ mà không cân nhắc ý nghĩa thực sự của hành động.
B, Họ lắng nghe nội tâm và hành động theo "tiếng gọi bên trong" của mình, không bị chi phối bởi ngoại cảnh.
C, Họ không dựa dẫm vào người khác mà tự chịu trách nhiệm với mọi hành động và quyết định của mình.
D, Họ tránh hành xử theo đám đông và luôn duy trì lập trường cá nhân rõ ràng, dựa trên ý thức riêng.
Dẫn chứng – vị trí: Đ5: “con người tự do/ tự trị sẽ hành động theo ‘tiếng gọi bên trong’ của mình, họ sẽ không hành xử theo kiểu bầy đàn, họ sẽ không hành động theo kiểu khuôn mẫu… và họ cũng không ỷ lại cho người khác.”
Giải thích – suy luận: Con người tự do/tự trị không làm theo thói quen cũ một cách máy móc, cũng không hành động bốc đồng; họ tự ý thức, tự chịu trách nhiệm. Phương án A mô tả hành động theo cảm xúc nhất thời và thói quen cũ, trái ngược tinh thần Đ5 nên là đáp án đúng.
Câu 8 [1073080]: Tác giả phê phán điều gì trong cách hành xử của khán giả tại khán phòng?
A, Sự thiếu tập trung và không trân trọng các tiết mục nghệ thuật, dẫn đến việc không tạo ra sự cổ vũ cần thiết cho nghệ sĩ.
B, Phê phán thái độ thờ ơ, không quan tâm đến cảm xúc và nỗ lực của nghệ sĩ trong quá trình biểu diễn.
C, Phê phán tâm lí khắt khe và thói quen đặt tiêu chuẩn cao trong việc đánh giá chất lượng biểu diễn, khiến nghệ sĩ khó nhận được sự công nhận.
D, Tâm lý ỷ lại, phụ thuộc vào người khác và thiếu ý thức trách nhiệm cá nhân trong việc thể hiện sự ủng hộ dành cho nghệ sĩ.
Đáp án chi tiết: D
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ2: “ai cũng nghĩ… nên mình không vỗ cũng được… nên rốt cuộc chẳng mấy ai vỗ tay.”
• Đ3: “hầu hết khán giả tiết kiệm một tràng vỗ tay… Điều đó có thể khiến cho người nghệ sĩ biểu diễn mất dần cảm hứng… người thiệt thòi chính là khán giả.”
Giải thích – suy luận: Tác giả phê phán tâm lý ỷ lại, thoái thác phần việc cá nhân (vỗ tay khi thấy hay). Hệ quả là nghệ sĩ mất cảm hứng và chất lượng biểu diễn giảm, khán giả chịu thiệt.
Câu 9 [1073081]: Văn bản viết: “Nếu như ai cũng thoái thác trách nhiệm của mình, ai cũng ỷ lại người khác như vậy thì xã hội sẽ ra sao?” Theo bạn, nhận định này nhấn mạnh điều gì về trách nhiệm cá nhân?
A, Trách nhiệm cá nhân là yếu tố cốt lõi để duy trì sự phát triển và ổn định của xã hội nhưng đó chỉ là vấn đề cá nhân và chỉ ảnh hưởng đến một nhóm nhỏ, không liên quan đến sự phát triển tổng thể của xã hội.
B, Trách nhiệm cá nhân là yếu tố cốt lõi để duy trì sự phát triển và ổn định của xã hội, do vậy bắt buộc toàn xã hội, cộng đồng đều phải có ý thức trách nhiệm của mình.
C, Trách nhiệm cá nhân là yếu tố cốt lõi để duy trì sự phát triển và ổn định của xã hội, tuy nhiên một số cá nhân thoái thác trách nhiệm cũng không ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội nhưng chúng ta vẫn phải rèn tự ý thức trách nhiệm của chính mình.
D, Trách nhiệm cá nhân là yếu tố cốt lõi để duy trì sự phát triển và ổn định của xã hội, vì mỗi cá nhân cần hoàn thành phần việc của mình để tạo nên sự cân bằng và bền vững chung.
Đáp án chi tiết: D
Dẫn chứng – vị trí: Đ4: “Hai là, về phương diện xã hội, nếu như ai cũng thoái thác trách nhiệm của mình, ai cũng ỷ lại người khác như vậy thì xã hội sẽ ra sao?”
Giải thích – suy luận: Câu hỏi tu từ nhấn mạnh vai trò cốt lõi của trách nhiệm cá nhân đối với sự vận hành lành mạnh của xã hội. Mỗi cá nhân cần tự hoàn thành phần việc của mình để duy trì cân bằng và bền vững chung.
Câu 10 [1073082]: Văn bản nêu: “Họ sẽ không hành xử theo kiểu bầy đàn.” Bạn hiểu điều này có nghĩa là gì?
A, Hành xử theo kiểu bầy đàn không phải là vấn đề nếu điều đó mang lại lợi ích trước mắt cho cá nhân, nhưng con người cần hành động độc lập.
B, Con người cần hành động độc lập, nên làm trái với đám đông để thể hiện sự khác biệt và khẳng định bản lĩnh cá nhân.
C, Con người cần hành động độc lập, dựa trên giá trị cá nhân và ý thức trách nhiệm, thay vì làm theo đám đông một cách thiếu suy nghĩ.
D, Con người cần hành động độc lập, tốt nhất là tránh tham gia vào các hoạt động tập thể của đám đông để đảm bảo giữ vững ý chí, cái tôi cá nhân.
Đáp án chi tiết: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ5: “con người tự do/ tự trị sẽ hành động theo ‘tiếng gọi bên trong’… họ sẽ không hành xử theo kiểu bầy đàn… không ỷ lại cho người khác.”
Giải thích – suy luận: “Không hành xử theo kiểu bầy đàn” nghĩa là hành động độc lập, dựa trên giá trị và ý thức trách nhiệm cá nhân, tránh làm theo đám đông một cách thiếu suy nghĩ. Phương án C diễn đạt đúng tinh thần này, không cổ vũ đối lập cực đoan với số đông mà nhấn mạnh nền tảng nội tâm và trách nhiệm.
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1073083]: Gustav Mahler cho rằng: “Truyền thống không phải thờ cúng tro tàn, mà là giữ cho ngọn lửa tiếp cháy.”
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề tuổi trẻ cần làm gì để “giữ cho ngọn lửa truyền thống tiếp cháy.”
DÀN Ý CHI TIẾT
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, truyền thống là sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại, là nền tảng để mỗi dân tộc khẳng định bản sắc và hướng tới tương lai. Gustav Mahler từng nói: “Truyền thống không phải thờ cúng tro tàn, mà là giữ cho ngọn lửa tiếp cháy.” Câu nói đã gợi mở một tư tưởng sâu sắc truyền thống không phải là sự bảo thủ hay níu giữ cái cũ, mà là trách nhiệm kế thừa, làm mới và lan tỏa giá trị tốt đẹp của cha ông trong nhịp sống hiện đại. Đặc biệt, với tuổi trẻ – thế hệ đang nắm giữ tương lai đất nước việc “giữ cho ngọn lửa truyền thống tiếp cháy” càng trở nên thiêng liêng và cần thiết.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích
“Truyền thống” là những giá trị tinh thần, đạo lý, lối sống, phong tục, văn hóa… được hình thành qua nhiều thế hệ và trở thành cốt lõi của bản sắc dân tộc. “Giữ cho ngọn lửa truyền thống tiếp cháy” có nghĩa là tiếp tục kế thừa, bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy trong đời sống hiện đại, không để chúng bị mai một hay biến dạng. → Ý nghĩa câu nói: Mahler muốn nhấn mạnh rằng giữ gìn truyền thống không phải là tôn thờ quá khứ một cách rập khuôn, mà là làm cho những giá trị cũ sống dậy trong hình thức mới, phù hợp với thời đại.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
-Trước hết, truyền thống là cội nguồn tạo nên sức mạnh tinh thần và bản lĩnh dân tộc. Một dân tộc biết trân trọng quá khứ mới có thể đứng vững trong hiện tại và tự tin bước vào tương lai.
-Phát huy truyền thống yêu nước vừa là niềm tự hào, vừa là nhiệm vụ cao quý của thế hệ trẻ ngày nay. Trước hết, tuổi trẻ cần không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện để trở thành con người đủ đức đủ tài đưa đất nước ngày một phát triển.
-Tuổi trẻ cần sáng tạo, làm mới truyền thống bằng công nghệ, truyền thông, lối sống hiện đại.Mỗi bạn trẻ có thể trở thanh một đại sứ để quảng bá hình ảnh đất nước đến bạn bè quốc tế, góp phần mở rộng quan hệ ngoại giao và phát triển kinh tế.
- Đồng thời cũng phải biết trân trọng quá khứ hào hùng của dân tộc, luôn ghi nhớ và phát huy tinh thần tương thân tương ái, dũng cảm đấu tranh bài trừ cái ác.
-Nuôi dưỡng trong mình tình yêu quê hương đất nước, cùng một khát vọng sống cống hiến lớn lao cho tổ quốc cũng chính là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Gốc rễ của yêu nước chính là tình yêu thương, lòng bác ái với con người, xây dựng một cộng đồng văn minh, phát triển.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
Trong đời sống nghệ thuật đương đại, Đức Phúc là minh chứng rõ nét cho tinh thần làm mới truyền thống bằng sáng tạo của người trẻ. Việc anh giành giải Quán quân Intervision 2025 với tiết mục Phù Đổng Thiên Vương, lấy cảm hứng từ bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, cho thấy những giá trị văn hóa dân tộc hoàn toàn có thể bước ra sân khấu quốc tế bằng hình thức hiện đại. Qua âm nhạc, hình tượng Thánh Gióng và biểu tượng tre Việt không còn nằm yên trong sách vở, mà được đánh thức bằng cảm xúc mới, góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc tới bạn bè thế giới. Dẫn chứng ấy khẳng định rằng truyền thống chỉ thực sự “sống” khi được thế hệ trẻ tiếp nối bằng sáng tạo và trách nhiệm.
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, một bộ phận giới trẻ đang thờ ơ, xa rời cội nguồn. Họ chạy theo trào lưu ngoại lai, xem thường văn hóa dân tộc, hoặc hiểu sai về “bảo tồn” là chỉ sao chép cái cũ mà không làm mới những giá trị vốn có. Mặt khác, cũng cần nhìn nhận rằng giữ gìn truyền thống không thể tách rời đổi mới. Nếu chỉ “thờ cúng tro tàn”, chỉ giữ hình thức mà không tiếp sức bằng nội dung mới, truyền thống sẽ sớm lụi tàn. Vì vậy, người trẻ phải biết dung hòa giữa kế thừa và sáng tạo vừa tôn trọng giá trị cội nguồn, vừa tìm cách làm cho truyền thống sống cùng hơi thở thời đại.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
Mỗi người trẻ cần hiểu rằng truyền thống là bản sắc làm nên giá trị con người và dân tộc. Hãy học cách tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc, tự hào và chia sẻ những giá trị ấy bằng ngôn ngữ, hành động sáng tạo từ trang phục truyền thống, cách ứng xử đến việc sử dụng mạng xã hội. Trong học tập và công việc, hãy đưa tinh thần dân tộc, lòng nhân ái, ý chí vươn lên đó là những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc vào cuộc sống hằng ngày. Bảo tồn không chỉ là lưu giữ, mà là thắp lên ngọn lửa yêu thương, trách nhiệm và sáng tạo để truyền thống luôn sống trong tương lai.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Quan điểm của Gustav Mahler là lời nhắc nhở đầy ý nghĩa trong thời đại toàn cầu hóa: truyền thống không phải là quá khứ ngủ yên, mà là nguồn sáng dẫn lối tương lai. Giữ cho “ngọn lửa truyền thống tiếp cháy” không chỉ là trách nhiệm, mà còn là niềm tự hào của thế hệ trẻ hôm nay. Bởi lẽ, ngọn lửa ấy nếu được tiếp sức bằng tri thức, sáng tạo và tình yêu dân tộc sẽ mãi rực sáng, sưởi ấm hồn người Việt trên hành trình hội nhập và phát triển.
Bài viết tham khảo:
Gustav Mahler từng nói “Truyền thống không phải thờ cúng tro tàn, mà là giữ cho ngọn lửa tiếp cháy.” Câu nói ấy gợi mở một tư tưởng sâu sắc rằng giữ gìn truyền thống không phải là bảo thủ níu giữ cái cũ, mà là kế thừa, làm mới và lan tỏa những giá trị tốt đẹp của cha ông trong nhịp sống hiện đại. Truyền thống là những giá trị tinh thần, đạo lý, phong tục, lối sống và văn hóa được hun đúc qua nhiều thế hệ, trở thành cốt lõi của bản sắc dân tộc. Giữ cho ngọn lửa truyền thống tiếp cháy là tiếp tục kế thừa, bảo tồn và phát huy những giá trị ấy trong đời sống hôm nay, để chúng không bị mai một trước những biến động của thời đại. Bởi lẽ truyền thống chính là cội nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi cộng đồng. Edmund Burke từng khẳng định “Một dân tộc không biết nhìn lại lịch sử sẽ không thể hiểu được chính mình.” Một dân tộc biết trân trọng quá khứ mới có thể đứng vững trong hiện tại và tự tin bước vào tương lai. Với tuổi trẻ, phát huy truyền thống yêu nước không chỉ là niềm tự hào mà còn là trách nhiệm. Hồ Chí Minh từng căn dặn “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.” Yêu nước vì thế không chỉ thể hiện ở những thời khắc lớn lao mà còn ở sự nỗ lực học tập, rèn luyện và cống hiến mỗi ngày. Đồng thời, giữ gìn truyền thống cũng là trân trọng quá khứ hào hùng và tiếp nối những giá trị nhân văn như tinh thần nhân ái, lòng dũng cảm và ý chí vươn lên. Nguyễn Trãi từng khẳng định “Lấy nhân nghĩa làm gốc.” Chính nhân nghĩa đã trở thành mạch nguồn bền bỉ của truyền thống dân tộc Việt Nam. Trong đời sống hôm nay, truyền thống chỉ thực sự sống khi được thế hệ trẻ làm mới bằng sáng tạo. Từ nghệ thuật, công nghệ đến truyền thông hiện đại, người trẻ có thể đưa hình ảnh đất nước và văn hóa dân tộc lan tỏa rộng rãi hơn. Điều đó cho thấy truyền thống không phải là tro tàn của quá khứ, mà là ngọn lửa cần được tiếp sức bằng tinh thần sáng tạo và trách nhiệm. Thực tế cho thấy khi truyền thống được làm mới bằng sức trẻ, nó sẽ có khả năng lan tỏa mạnh mẽ. Trong đời sống nghệ thuật đương đại, ca sĩ Đức Phúc là một minh chứng rõ nét. Khi anh giành giải Quán quân Intervision 2025 với tiết mục Phù Đổng Thiên Vương lấy cảm hứng từ bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, hình tượng Thánh Gióng và biểu tượng tre Việt đã bước ra khỏi trang sách để đến với sân khấu quốc tế. Qua âm nhạc hiện đại, những giá trị văn hóa dân tộc được đánh thức bằng cảm xúc mới, góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong xã hội hôm nay vẫn có một bộ phận người trẻ thờ ơ với cội nguồn, chạy theo trào lưu ngoại lai hoặc hiểu sai việc bảo tồn truyền thống khi chỉ sao chép hình thức cũ đã lạc hậu. Mahatma Gandhi từng nhắc nhở “Một nền văn hóa chỉ sống khi nó có khả năng tự đổi mới.” Sự thờ ơ hay bảo thủ đều có thể làm truyền thống mất đi sức sống. “Cội rễ phải bám sâu vào đất, nhưng cành lá phải vươn lên bầu trời.” Điều đó gợi nhắc rằng truyền thống chỉ bền vững khi biết dung hòa giữa kế thừa và sáng tạo, vừa tôn trọng cội nguồn vừa thích nghi với hơi thở của thời đại. Từ đó, mỗi người trẻ cần nhận thức rằng truyền thống chính là điểm tựa tinh thần của dân tộc. Edmund Burke từng nói “Một dân tộc không biết trân trọng quá khứ sẽ khó có tương lai.” Vì thế người trẻ cần chủ động tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc và lan tỏa những giá trị ấy bằng những hình thức sáng tạo phù hợp với đời sống hôm nay. Trong học tập và công việc, việc đưa các giá trị như lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên vào hành động cụ thể chính là cách thiết thực để tiếp nối truyền thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi.” Khi truyền thống được chuyển hóa thành thái độ sống và trách nhiệm cá nhân, nó sẽ trở thành động lực phát triển mạnh mẽ của xã hội. Có thể nói, quan điểm của Gustav Mahler là lời nhắc nhở sâu sắc trong thời đại toàn cầu hóa rằng truyền thống không phải là quá khứ ngủ yên mà là nguồn sáng dẫn lối tương lai. Giữ cho ngọn lửa truyền thống tiếp cháy vừa là trách nhiệm vừa là niềm tự hào của thế hệ trẻ. Khi ngọn lửa ấy được nuôi dưỡng bằng tri thức, sáng tạo và tình yêu dân tộc, nó sẽ tiếp tục soi sáng con đường phát triển của đất nước trong hành trình hội nhập.
Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
Câu 12 [1073084]: Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn trích sau:
[...]
Ta đã qua bao phố phường tráng lệ
Paris ánh sáng hay London cổ kính
Lòng vẫn trôi về bến
Cội nguồn văng vẳng à ơi
Mái đình cong trăng khuyết
Triền sông mướt câu hò
Đường làng rơm thơm vào trí nhớ
Rặng tre già măng non ta

Về dòng thác người cuộn về muôn hướng
Chảy không nguôi dòng máu Lạc Hồng
Giấc mơ nào từng ôm ấp biển Đông?

Ta là ta ngàn Việt những dòng sông
Dẫu khúc khuỷu bờ dâu hay ghềnh xiết cũng
chảy về lòng biển

Chảy về với cánh đồng lúa chín
Rặng tre nghiêng chiều
Bến nước nghiêng trăng

Và tất cả ta gọi tên Tổ quốc
Một Tổ quốc thiêng liêng màu sắc Việt
Luôn dâng đầy muôn nẻo bến bờ xa
Luôn dâng đầy muôn nẻo bến bờ xa…
(Là Việt, Nguyễn Phan Quế Mai)
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Giới thiệu vấn đề: Tổ quốc, cội nguồn và bản sắc Việt Nam luôn là mạch cảm hứng dạt dào trong thơ ca hiện đại.
Giới thiệu tác giả: Nguyễn Phan Quế Mai nhà thơ đương đại giàu cảm xúc, có phong cách kết hợp truyền thống, hiện đại, gắn với tinh thần dân tộc và chiều sâu văn hóa.
Giới thiệu tác phẩm: Là Việt là bài thơ tiêu biểu trong sáng tác của chị, ca ngợi bản sắc Việt, khẳng định cội nguồn linh thiêng và niềm tự hào dân tộc.
Dẫn vấn đề: Đoạn thơ trích thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết và cảm thức thiêng liêng về Tổ quốc trong trái tim người con Việt.
II. THÂN BÀI
1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm – hoàn cảnh ra đời

Nguyễn Phan Quế Mai (sinh năm 1973) là một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại, sáng tác bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, với nhiều tác phẩm được ghi nhận qua các giải thưởng trong nước và quốc tế. Thơ của Quế Mai thường giàu bản sắc dân tộc, thấm đẫm chất nữ tính, đồng thời kết hợp hài hòa giữa ký ức cá nhân, chiều sâu lịch sử và ý thức về cội nguồn, truyền thống, văn hóa Việt Nam trong bối cảnh giao thoa văn hóa. Bài thơ Là Việt ra đời trong dòng chảy thời đại mới, khi ngày càng nhiều người Việt sống, học tập và làm việc nơi xa xứ, phải đối diện với nỗi nhớ quê hương và nhu cầu tự khẳng định bản sắc dân tộc của mình. Đoạn thơ là tiếng lòng chân thành của người con xa quê, khẳng định một chân lý giản dị mà bền vững: dù đi qua muôn nẻo đường thế giới, trái tim người Việt vẫn luôn hướng về Tổ quốc như cội nguồn thiêng liêng của bản sắc và tâm hồn.
2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG 
Luận điểm 1: Dù bước qua nhiều đô thị tráng lệ khắp mọi miền thế giới, tâm hồn người Việt vẫn hướng về quê hương đó là nơi cội nguồn văn hóa dân tộc. 
- Mở đầu đoạn thơ, Nguyễn Phan Quế Mai đặt cái tôi trữ tình trong hành trình rộng lớn của không gian toàn cầu: “Ta đã qua bao phố phường tráng lệ Paris ánh sáng hay London cổ kính.” Việc gọi tên hai đô thị tiêu biểu của phương Tây hiện đại và lâu đời như Paris, London không chỉ mang ý nghĩa tả thực, mà còn mang tính biểu tượng cho thế giới phồn hoa, văn minh, nơi con người dễ bị cuốn hút bởi ánh sáng, tiện nghi và nhịp sống hiện đại. Đó là những không gian tưởng như có thể làm mờ đi ký ức quê nhà. Nhưng chính trong sự đối sánh ấy, mạch cảm xúc của bài thơ lại bất ngờ quay về hướng khác: “Lòng vẫn trôi về bến Cội nguồn văng vẳng à ơi.” 
- Cụm từ “lòng vẫn trôi về bến” gợi một chuyển động mềm mại nhưng bền bỉ của tâm thức, cho thấy dù thân xác có đi xa đến đâu, trái tim người Việt vẫn không thể tách rời quê hương. “Bến” ở đây không chỉ là một địa điểm cụ thể, mà là bến đỗ tinh thần, nơi neo giữ ký ức, bản sắc và cội nguyền văn hóa, truyền thống quê hương. Đặc biệt, hình ảnh âm thanh “à ơi” vang lên như tiếng ru của mẹ, của làng quê, của truyền thống dân tộc, mang theo hơi ấm của mái nhà, của dòng sữa văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn người Việt từ thuở ấu thơ. Đó là thứ âm thanh không ồn ào, không choáng ngợp, nhưng có gợi nhớ, lưu giữ sâu xa và bền bỉ hơn mọi ánh sáng đô thị.
→ Qua sự đối lập giữa những thành phố tráng lệ của thế giới và tiếng “à ơi” mộc mạc của quê nhà, đoạn thơ khẳng định một chân lý giàu tính nhân văn đi càng xa, người Việt càng thấm thía, yêu thương, gắn bó với cội nguồn, bởi quê hương không chỉ là nơi chốn địa lý, mà là nền tảng văn hóa và điểm tựa tinh thần không thể thay thế trong tâm thức mỗi con người. 
Luận điểm 2: Hình ảnh làng quê Việt hiện lên đậm đà, mộc mạc, giản dị, quen thuộc, ấm áp tràn đầy yêu thương trở thành miền ký ức văn hóa nâng đỡ tâm hồn người con xa xứ
- Nếu ở những câu thơ trước, “cội nguồn” được gọi tên bằng tiếng “à ơi” văng vẳng, thì đến đây, quê hương Việt Nam hiện lên cụ thể hơn, giàu hình ảnh hơn, như một thước phim ký ức thấm thía yêu thương về những hình ảnh của quê hương xứ sở. “Mái đình cong trăng khuyết Triền sông mướt câu hò Đường làng rơm thơm vào trí nhớ Rặng tre già măng non ta.” 
- Hình ảnh “mái đình cong trăng khuyết” vừa dân gian vừa thi vị. “Đình” là không gian cộng đồng, nơi hội hè, tế lễ, nơi lưu giữ phong tục và nếp sống làng quê; vì thế mái đình trở thành một biểu tượng của “hồn làng”, của dấu triện, nếp văn hóa không thể phai mờ trong truyền thốngViệt. Từ “cong” gợi nét mềm mại kiến trúc truyền thống, còn “trăng khuyết” tạo nên một vẻ đẹp gợi cảm, man mác, làm mái đình không chỉ là vật thể, mà là một mảnh ký ức lung linh trong tâm tưởng. Tiếp đó, “triền sông mướt câu hò” mở ra một không gian sông nước hiền hòa, nơi đời sống lao động và đời sống tinh thần hòa quyện. “Câu hò” là tiếng hát dân gian của cộng đồng, là nhịp thở văn hóa của quê hương; đặt bên “triền sông mướt”, câu hò như thấm vào cảnh vật, làm quê nhà không chỉ có hình mà còn có tiếng, có nhạc, có tình, có dấu ấn quê hương. 
- Đặc biệt, “đường làng rơm thơm vào trí nhớ” là một câu thơ giàu sức gợi giác quan. “Rơm thơm” là mùi hương rất riêng của làng quê Việt, không lẫn với bất cứ đô thị nào, bởi nó gắn với ruộng đồng, mùa gặt, bếp lửa, nhịp sống bình dị. Mùi hương ấy “vào trí nhớ” như một dấu ấn bền chặt, cho thấy quê hương không chỉ được nhớ bằng ý niệm, mà được giữ lại bằng cảm giác, bằng những rung động rất cụ thể của thân thể và tâm hồn. Khép lại là hình ảnh “rặng tre già măng non ta” là một biểu tượng quen thuộc nhưng giàu chiều sâu văn hóa. Tre là hình ảnh của dân tộc: bền bỉ, dẻo dai, kiên cường; “tre già” và “măng non” lại gợi sự tiếp nối truyền đời, gợi mạch sống của cộng đồng từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Chữ “ta” khiến rặng tre không còn là cảnh vật ngoài kia, mà trở thành một phần huyết mạch, một phần tâm hồn của chính chủ thể trữ tình.
→ Bằng chuỗi hình ảnh giàu tính biểu tượng và thấm đẫm chất dân gian ấy, Nguyễn Phan Quế Mai đã dựng lên một làng quê Việt Nam vừa gần gũi, giản dị, vừa thiêng liêng trong chiều sâu văn hóa. Quê hương hiện ra không chỉ như nơi chốn để nhớ, mà như một kho tàng ký ức truyền thống qua muôn đời, một điểm tựa ấm áp và yêu thương luôn nâng đỡ tâm hồn người Việt trên mọi nẻo đường xa. 
Luận điểm 3: Ý thức sâu sắc về dòng máu dân tộc, đó là sự nối tiếp của truyền thống Lạc Hồng trong tâm thức người Việt 
- Từ miền ký ức văn hóa làng quê, mạch thơ được nâng lên một tầng ý nghĩa rộng lớn hơn, mang tầm vóc dân tộc: “Về dòng thác người cuộn về muôn hướng Chảy không nguôi dòng máu Lạc Hồng.” Hình ảnh “dòng thác người” gợi liên tưởng mạnh mẽ đến những dòng người Việt tỏa đi khắp bốn phương trời, trong hành trình mưu sinh, học tập, hội nhập với thế giới. Động từ “cuộn về muôn hướng” vừa diễn tả sự đông đảo, vừa gợi cảm giác chuyển động liên tục, không ngừng nghỉ của cộng đồng người Việt trong dòng chảy thời đại. Tuy nhiên, dù đi xa đến đâu, sự vận động ấy vẫn được quy tụ và chi phối bởi một mạch nguồn sâu thẳm: “dòng máu Lạc Hồng”. Cụm từ này không chỉ nhắc đến huyền thoại con Rồng cháu Tiên, mà còn khẳng định cội nguồn, nếp sống, bản sắc văn hóa dân tộc sâu sắc. “Chảy không nguôi” là một cách nói giàu sức khẳng định: bản sắc Việt có thể biến đổi về hình thức, nhưng không thể phai mờ trong tâm hồn, trí nhớ con người Việt. 
- Ý thức cội nguồn ấy tiếp tục được mở rộng trong câu hỏi giàu âm hưởng sử thi: “Giấc mơ nào từng ôm ấp biển Đông?” Câu thơ vang lên như một tiếng gọi nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc. “Giấc mơ” ở đây không chỉ là khát vọng cá nhân, mà là giấc mơ chung của cộng đồng, của cả một dân tộc đã bao đời hướng ra biển lớn. Hình ảnh “Biển Đông” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc đó là không gian sinh tồn, không gian văn hóa, đồng thời cũng là biểu hiện của chủ quyền, của khát vọng hòa bình, toàn vẹn lãnh thổ và ý chí vươn xa của đất nước. Đặt “Biển Đông” trong câu hỏi tu từ, nhà thơ không cần lời đáp, bởi chính lịch sử và hiện tại của dân tộc đã là câu trả lời.
→ Qua những hình ảnh giàu tính khái quát ấy, đoạn thơ khẳng định một chân lý bền vững: dù con người Việt có đi muôn nơi, dòng máu Lạc Hồng vẫn chảy trong từng cá thể, nối tiếp truyền thống tổ tiên và nuôi dưỡng khát vọng chung của dân tộc. Đó là ý thức cội nguồn sâu sắc, làm nên sức mạnh tinh thần và sự trường tồn của bản sắc Việt trong dòng chảy toàn cầu hóa. 
Luận điểm 4: Hình ảnh dòng sông hiện lên như biểu tượng cho bản sắc Việt dù gian nan vẫn chảy về biển lớn quê hương. 
- Ở đoạn thơ này, Nguyễn Phan Quế Mai sử dụng hình ảnh dòng sông như một ẩn dụ giàu sức khái quát để nói về dấu ấn, bản sắc và hành trình tinh thần của dân tộc: “Ta là ta ngàn Việt những dòng sông Dẫu khúc khuỷu bờ dâu hay ghềnh xiết cũng chảy về lòng biển.” Cách xưng “ta là ta ngàn Việt những dòng sông” tạo nên một sự hòa nhập giữa cái tôi cá nhân và cái ta cộng đồng, khi mỗi con người Việt được nhìn như một dòng sông nhỏ, hợp thành dòng chảy lớn của dân tộc. Dòng sông vì thế không chỉ là hình ảnh thiên nhiên, mà là biểu tượng của sự sống, của lịch sử và của bản sắc văn hóa Việt Nam. 
- Những tính từ “khúc khuỷu”, “ghềnh xiết” gợi lên bao thử thách, thăng trầm và biến cố mà dân tộc đã trải qua trong suốt chiều dài lịch sử. Đó là những khúc quanh gian nan, những đoạn nước dữ của chiến tranh, mất mát, chia cắt và cả những thử thách trong hành trình hội nhập hôm nay. Tuy nhiên, bất chấp mọi trở lực, các dòng sông ấy vẫn “chảy về lòng biển”. Hình ảnh biển ở đây mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: biển là Tổ quốc, là điểm hội tụ cuối cùng, là không gian bao dung và thiêng liêng nơi mọi dòng chảy đều tìm về. Sự “chảy về” ấy không phải là lựa chọn ngẫu nhiên, mà là một quy luật tự nhiên cũng như một quy luật tinh thần: con người Việt, dù đi xa hay đối diện bao biến động, vẫn hướng về đất nước như cội nguồn không thể tách rời. Qua hình tượng dòng sông, đoạn thơ khẳng định bản sắc Việt được làm nên từ sự bền bỉ, kiên định và thủy chung. Đó là bản sắc của những con người mềm mại nhưng không yếu đuối, trải qua gian nan mà không lạc hướng, luôn giữ trong mình một dòng chảy hướng về biển lớn Tổ quốc.
Luận điểm 5: Tổ quốc hiện lên thiêng liêng, rực rỡ và bao trùm trọn vẹn tình cảm của người Việt, dù ở bất cứ nơi đâu 
- Ở phần cuối đoạn thơ, cảm hứng cội nguồn và bản sắc dân tộc được quy tụ, thăng hoa trong hình ảnh Tổ quốc vừa gần gũi, bình dị, vừa thiêng liêng và rộng lớn: “Chảy về với cánh đồng lúa chín Rặng tre nghiêng chiều Bến nước nghiêng trăng.” Chuỗi hình ảnh giàu chất thơ ấy gợi nên một không gian quê hương thanh bình và ấm áp. “Cánh đồng lúa chín” là biểu tượng quen thuộc của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, nơi nuôi dưỡng đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Việt qua bao thế hệ. “Rặng tre nghiêng chiều”, “bến nước nghiêng trăng” lại mang vẻ đẹp mềm mại, trữ tình, gợi sự yên ả, bền bỉ của làng quê, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên và gìn giữ những giá trị truyền thống lâu đời. Những hình ảnh ấy không chỉ đẹp về thị giác mà còn thấm đẫm tình người, trở thành miền ký ức chung của cộng đồng dân tộc. 
- Từ không gian quê hương cụ thể ấy, đoạn thơ chuyển sang một khẳng định có tính tổng kết và nâng cao: “Và tất cả ta gọi tên Tổ quốc Một Tổ quốc thiêng liêng màu sắc Việt.” Động từ “gọi tên” mang sắc thái trân trọng và thiêng liêng, như một nghi lễ tinh thần, cho thấy Tổ quốc không chỉ là khái niệm địa lý mà là một thực thể sống động trong tâm hồn mỗi người Việt. Điệp từ “Tổ quốc” vang lên dứt khoát, khẳng định vị trí trung tâm của đất nước trong đời sống tinh thần dân tộc. Đặc biệt, cụm từ “màu sắc Việt” là một cách nói giàu sức khái quát, bao hàm toàn bộ những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống và bản sắc đã kết tinh qua bao đời. 
- Cảm xúc ấy tiếp tục lan tỏa trong câu thơ kết: “Luôn dâng đầy muôn nẻo bến bờ xa…” “Dâng đầy” gợi một trạng thái cảm xúc tràn ngập, không vơi cạn, cho thấy Tổ quốc không chỉ hiện hữu trong từng tấc đất quê nhà, mà còn sống động trong trái tim những người con xa xứ. Dù ở “muôn nẻo bến bờ xa”, tình yêu, niềm tự hào và ý thức về Tổ quốc vẫn luôn đầy ắp, bền bỉ và không hề phai nhạt. Qua những hình ảnh giàu tính biểu tượng và cảm xúc ấy, đoạn thơ khắc họa Tổ quốc như một giá trị thiêng liêng, rực rỡ và bao trùm, nơi hội tụ mọi ký ức, mọi dòng chảy văn hóa và mọi tình cảm sâu nặng của con người Việt Nam, dù ở bất cứ đâu trên thế giới.
3. PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT CỦA ĐOẠN THƠ
a. Thể thơ
Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do, không bị ràng buộc bởi niêm luật hay vần điệu cố định, tạo điều kiện cho cảm xúc và suy tưởng được triển khai một cách tự nhiên, phóng khoáng. Sự linh hoạt của thể thơ giúp mạch thơ chuyển động mềm mại theo dòng hồi tưởng và chiêm nghiệm của cái tôi trữ tình, từ những không gian xa xôi của thế giới đến miền ký ức quê hương thân thuộc. Nhờ đó, giọng điệu tri ân quê hương được bộc lộ chân thành, sâu lắng mà không cần phô trương, khiến tình yêu Tổ quốc hiện lên như một dòng cảm xúc âm thầm nhưng bền bỉ, chảy xuyên suốt toàn bộ đoạn thơ.
b. Cấu tứ
Đoạn thơ được tổ chức theo một hành trình tâm tưởng rõ ràng và giàu sức lan tỏa, trong đó cảm xúc của cái tôi trữ tình vận động như một dòng chảy ngày càng dâng đầy. Điểm khởi đầu là không gian phương Tây với những “phố phường tráng lệ”, “Paris ánh sáng”, “London cổ kính”, tạo nền đối sánh để nhấn mạnh nghịch lý giàu xúc cảm: càng đi xa, “lòng” càng “trôi về bến”, cội nguồn vang lên bằng tiếng “à ơi” thân thuộc. Từ nỗi nhớ ấy, mạch thơ chuyển sang hồi tưởng quê nhà bằng loạt hình ảnh văn hóa làng quê Việt mái đình, triền sông, đường làng rơm thơm, rặng tre… vừa cụ thể vừa mang tính biểu tượng, làm cội nguồn trở nên hữu hình và ấm áp.Trên nền ký ức quê hương, cấu tứ tiếp tục nâng lên tầm vóc cộng đồng, dân tộc với hình ảnh “dòng thác người” tỏa đi muôn hướng nhưng vẫn “chảy không nguôi dòng máu Lạc Hồng”, khẳng định căn tính Việt không thể phai mờ trong hành trình hội nhập. Tiếp đó, hình tượng “ngàn Việt những dòng sông” dù “khúc khuỷu bờ dâu” hay “ghềnh xiết” vẫn “chảy về lòng biển” đã khắc sâu một quy luật tinh thần: mọi dòng chảy bản sắc đều hướng về biển lớn Tổ quốc. Và đến cuối cùng, cảm xúc đạt điểm hội tụ khi “tất cả ta gọi tên Tổ quốc”, để hình ảnh Tổ quốc hiện lên thiêng liêng, rực rỡ “màu sắc Việt”, “luôn dâng đầy muôn nẻo bến bờ xa”. Nhờ cấu tứ ấy, đoạn thơ vận động từ cá nhân đến cộng đồng, từ kỷ niệm cụ thể đến khái quát thiêng liêng, tạo nên một mạch cảm xúc dâng cao liên tục, như những lớp sóng trào lên, để cuối cùng kết tinh thành tiếng gọi trang trọng và xúc động: Tổ quốc thân yêu!
c. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ đoạn thơ mang âm hưởng dân gian đậm đà, thể hiện qua những từ ngữ gợi âm thanh và ký ức văn hóa như “à ơi”, “câu hò”. Đó là những thanh âm gắn với lời ru, với sinh hoạt cộng đồng và đời sống lao động của người Việt, vừa mộc mạc, vừa có sức lay động sâu xa trong tâm thức. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng như tre, trăng, bờ sông, biển Đông những biểu trưng quen thuộc của văn hóa và lịch sử dân tộc để khắc họa bản sắc Việt bền bỉ qua thời gian. Đáng chú ý, ngôn ngữ thơ cho thấy sự hòa quyện hài hòa giữa hiện đại và truyền thống các địa danh quốc tế và không gian toàn cầu được đặt cạnh hình ảnh làng quê Việt, tạo nên một giọng thơ vừa mở rộng tầm nhìn hội nhập, vừa neo giữ chắc chắn cội nguồn văn hóa, làm nổi bật chiều sâu tư tưởng và cảm xúc tri ân Tổ quốc.
d. Hình ảnh
Đoạn thơ được kiến tạo bằng một hệ thống hình ảnh đậm đặc bản sắc văn hóa Việt, vừa quen thuộc, gần gũi vừa mang sức gợi lớn về cội nguồn và bản sắc văn hóa dân tộc. Những hình ảnh như mái đình, rặng tre, bến nước, tiếng ru “à ơi” đều là các biểu tượng truyền đời của làng quê Việt Nam, gắn với sinh hoạt cộng đồng, với ký ức tuổi thơ và nền tảng tinh thần của dân tộc. Chúng không chỉ gợi tả cảnh sắc, mà còn chuyên chở hồn vía văn hóa, nơi con người được nuôi dưỡng trong yêu thương, truyền thống và nếp sống lâu bền.
Trên nền những hình ảnh làng quê ấy, không gian Đất Nước được mở rộng theo một trục vận động giàu ý nghĩa: từ làng quê, dòng sông, biển Đông,Tổ quốc. Sự mở rộng ấy không rời rạc, mà liền mạch như một dòng chảy, cho thấy Đất Nước vừa bắt đầu từ những điều nhỏ bé, thân thương nhất, vừa vươn ra không gian rộng lớn của lịch sử, chủ quyền và khát vọng dân tộc. Đặc biệt, các hình ảnh ấy mang khả năng kết nối quá khứ – hiện tại – tương lai: quá khứ là mái đình, câu ru; hiện tại là những con người tỏa đi muôn hướng; tương lai là giấc mơ biển lớn, là Tổ quốc luôn “dâng đầy” trong tâm thức. Nhờ hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng và liên kết ấy, đoạn thơ đã khắc họa một Đất Nước sống động, bền bỉ và thiêng liêng, tồn tại không chỉ trong không gian địa lý mà còn trong chiều sâu văn hóa và ký ức cộng đồng người Việt.
e. Giọng điệu
Giọng điệu đoạn thơ mang sắc thái thiết tha, trìu mến, thấm đẫm nỗi nhớ quê hương và cội nguồn, được cất lên từ một cái tôi trữ tình giàu trải nghiệm và yêu thương sâu nặng. Những hình ảnh làng quê, những âm thanh dân gian quen thuộc khiến giọng thơ ban đầu lắng lại, mềm xuống như một lời thủ thỉ, gợi cảm giác gần gũi và ấm áp. Tuy nhiên, càng về sau, giọng điệu dần chuyển sang mạnh mẽ, trang trọng và tự hào, khi cảm xúc cá nhân hòa vào ý thức cộng đồng, khi cái tôi tan chảy trong cái ta dân tộc. Sự ngân vang của những câu thơ cuối mang âm hưởng của một lời tuyên ngôn về căn tính Việt, khẳng định bản sắc, lòng thủy chung với Tổ quốc và niềm tự hào bền vững của người Việt Nam dù ở bất cứ phương trời nào.
III. TỔNG KẾT NỘI DUNG – NGHỆ THUẬT 
- Nội dung
Đoạn thơ trước hết bộc lộ nỗi nhớ quê hương sâu nặng của người Việt xa xứ, một nỗi nhớ không chỉ khởi lên từ khoảng cách địa lý mà bắt nguồn từ chiều sâu tâm thức văn hóa. Dù đã đi qua những không gian hiện đại, tráng lệ của thế giới, trái tim người Việt vẫn không ngừng “trôi về bến”, hướng về mái đình, triền sông, câu hò, rặng tre những hình ảnh thân thuộc của cội nguồn. Từ nỗi nhớ ấy, đoạn thơ khẳng định truyền thống dân tộc và dòng máu Lạc Hồng bất biến, như một mạch nguồn tinh thần chảy không nguôi trong mỗi con người Việt, dù ở bất cứ phương trời nào. Trên tất cả, Tổ quốc hiện lên như một giá trị thiêng liêng và bao trùm, nơi hội tụ tình yêu, ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa Việt Nam, trở thành điểm tựa tinh thần bền vững cho những người con xa quê trong hành trình hội nhập và lưu lạc. 
- Nghệ thuật
Về phương diện nghệ thuật, đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do với cấu tứ linh hoạt, cho phép mạch cảm xúc vận động tự nhiên từ hồi tưởng cá nhân đến khẳng định cộng đồng và dân tộc. Hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, đậm đặc dấu ấn văn hóa Việt như mái đình, rặng tre, bến nước, biển Đông… đã tạo nên chiều sâu biểu tượng và khả năng liên kết ký ức, lịch sử, bản sắc văn hóa dân tộc. Giọng thơ tha thiết, giàu nhạc điệu, khi lắng sâu trong nỗi nhớ, khi ngân vang trong niềm tự hào, góp phần làm nổi bật cảm hứng tri ân và khẳng định bản sắc. Đặc biệt, đoạn thơ gây ấn tượng bởi sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa không gian quê nhà và thế giới rộng lớn, qua đó thể hiện một tiếng nói thơ vừa mang tầm vóc hội nhập, vừa neo giữ bền chặt bản sắc, linh hồn văn hóa Việt Nam.
IV. KẾT BÀI
Khẳng định giá trị đoạn thơ: một bản tuyên ngôn cảm xúc về căn tính Việt Nam giữa thời đại toàn cầu hóa. Nguyễn Phan Quế Mai đã thể hiện một tiếng thơ đẹp vừa tri ân quá khứ, vừa nâng đỡ hiện tại, vừa hướng tới tương lai. Bài thơ nhắc nhở mỗi người Việt dù đi đâu, ở đâu, vẫn luôn “chảy về lòng biển” chảy về Tổ quốc thiêng liêng mang màu sắc Việt.
Bài viết tham khảo:
“Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người.” (Nguyên Ngọc). Khi hướng về Tổ quốc và cội nguồn, thơ ca chính là cách con người níu giữ bản sắc và căn tính của mình giữa những biến chuyển của thời đại. Trong mạch nguồn cảm hứng ấy, Nguyễn Phan Quế Mai đã viết “Là Việt” như một lời tự nhận đầy tự hào và xúc động. Đoạn thơ không chỉ khắc họa nỗi nhớ quê hương da diết mà còn khẳng định ý thức thiêng liêng về nguồn cội, về Đất nước luôn hiện hữu trong trái tim người con Việt dù ở bất cứ phương trời nào.
Nguyễn Phan Quế Mai (sinh năm 1973) là một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại, sáng tác bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, với nhiều tác phẩm được ghi nhận qua các giải thưởng trong nước và quốc tế. Như nhà văn Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”, thơ của Quế Mai cũng luôn hướng về con người trong mối liên hệ sâu sắc với quê hương và cội nguồn. Thơ chị giàu bản sắc dân tộc, thấm đẫm chất nữ tính, đồng thời kết hợp hài hòa giữa ký ức cá nhân, chiều sâu lịch sử và ý thức về bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh giao thoa văn hóa. Bài thơ Là Việt ra đời trong dòng chảy toàn cầu hóa, khi ngày càng nhiều người Việt sống, học tập và làm việc nơi xa xứ, phải đối diện với nỗi nhớ quê hương và nhu cầu tự khẳng định bản sắc dân tộc. Đoạn thơ vì thế cất lên như tiếng lòng chân thành của người con xa quê, khẳng định một chân lý giản dị mà bền vững: dù đi qua muôn nẻo đường thế giới, trái tim người Việt vẫn luôn hướng về Tổ quốc như cội nguồn thiêng liêng của bản sắc và tâm hồn.
Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn.” Quả thật, quê hương không chỉ là một không gian địa lí, mà còn là miền ký ức và căn cước tinh thần in sâu trong trái tim mỗi con người. Bởi vậy, dù bước qua nhiều đô thị tráng lệ khắp thế giới, tâm hồn người Việt vẫn hướng về quê hương nơi lưu giữ cội nguồn văn hóa dân tộc và nuôi dưỡng bản sắc thiêng liêng của mình. Mở đầu đoạn thơ, Nguyễn Phan Quế Mai đặt cái tôi trữ tình trong hành trình rộng lớn của không gian toàn cầu: “Ta đã qua bao phố phường tráng lệ/ Paris ánh sáng hay London cổ kính.” Việc gọi tên Paris và London hai đô thị tiêu biểu của văn minh phương Tây không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn mang tính biểu tượng cho thế giới phồn hoa hiện đại. Tuy nhiên, đúng như nhận định của Nguyễn Văn Siêu: “Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”, đoạn thơ không dừng ở việc ngợi ca vẻ tráng lệ của đô thị mà tập trung vào chuyển động trong nội tâm của con người: “Lòng vẫn trôi về bến/ Cội nguồn văng vẳng à ơi.”Cụm từ “lòng vẫn trôi về bến” gợi chuyển động mềm mại nhưng bền bỉ của tâm thức, cho thấy dù thân xác đi xa đến đâu, trái tim vẫn tìm về một điểm neo tinh thần. “Bến” ở đây trở thành bến đỗ của ký ức và căn tính văn hóa. Đặc biệt, âm thanh “à ơi” vang lên như tiếng ru của mẹ, của làng quê, của truyền thống dân tộc, mang theo hơi ấm văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn người Việt từ thuở ấu thơ. Như Pablo Picasso từng nói: “Nghệ thuật không tái tạo những gì ta thấy, đúng hơn là nó mở mắt cho ta.” Nếu chỉ kể về “phố phường tráng lệ”, đoạn thơ sẽ chỉ là một ghi chép hành trình; nhưng khi để tiếng “à ơi” vang lên giữa Paris và London, nhà thơ đã mở ra chiều sâu khác của hiện thực, nơi giá trị bền vững nhất không nằm ở ánh sáng đô thị mà ở cội nguồn văn hóa. Bởi vậy, qua sự đối lập giữa không gian thế giới hiện đại và tiếng ru mộc mạc của quê nhà, đoạn thơ khẳng định một chân lý giàu tính nhân văn đi càng xa, con người càng thấm thía cội nguồn, bởi quê hương không chỉ là nơi chốn địa lí mà là điểm tựa tinh thần không thể thay thế.
Nhà phê bình Hoài Thanh từng khẳng định “Thơ trước hết là tiếng nói của tình cảm”. Chính từ chiều sâu tình cảm ấy, hình ảnh làng quê Việt trong thơ Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ là một bức tranh phong cảnh mà còn là miền ký ức văn hóa lắng đọng yêu thương, âm thầm nâng đỡ tâm hồn người con xa xứ. Nếu ở những câu thơ trước cội nguồn mới chỉ vọng lên qua tiếng “à ơi” mơ hồ và man mác thì đến đây quê hương Việt Nam hiện ra cụ thể và rõ hình hơn như một thước phim ký ức thấm đẫm hương đồng gió nội “Mái đình cong trăng khuyết / Triền sông mướt câu hò / Đường làng rơm thơm vào trí nhớ / Rặng tre già măng non ta”. Hình ảnh mái đình cong trăng khuyết mang đậm sắc thái dân gian và thi vị. Đình là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi lưu giữ phong tục và nếp sống làng quê nên mái đình trở thành biểu tượng của hồn làng và căn cước văn hóa Việt. Nét cong mềm mại của kiến trúc truyền thống cùng vầng trăng khuyết man mác đã khiến mái đình không còn là một vật thể mà trở thành mảnh ký ức lung linh gợi nhớ bao mùa hội làng đã lùi xa. Tiếp đó triền sông mướt câu hò mở ra một không gian sông nước hiền hòa nơi đời sống lao động hòa cùng đời sống tinh thần. Câu hò là tiếng hát dân gian truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nên khi đặt bên triền sông mướt tiếng hát như thấm vào cảnh vật khiến quê hương hiện lên bằng cả hình ảnh, âm thanh và nhịp điệu. Đặc biệt câu thơ đường làng rơm thơm vào trí nhớ gợi sức cảm rất mạnh của giác quan. Rơm thơm là mùi hương riêng của làng quê Việt gắn với mùa gặt, bếp lửa và nhịp sống bình dị nên càng đi xa càng trở nên ám ảnh. Mùi hương ấy không chỉ được cảm nhận bằng khứu giác mà còn đi vào trí nhớ trở thành dấu ấn bền chặt của tâm hồn. Khép lại là hình ảnh rặng tre già măng non ta. Tre từ lâu đã trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam với sức sống dẻo dai bền bỉ. Tre già và măng non gợi sự tiếp nối của các thế hệ, gợi mạch sống truyền đời của cộng đồng, còn chữ ta khiến rặng tre không còn là cảnh vật bên ngoài mà trở thành một phần huyết mạch của chính chủ thể trữ tình. Qua hệ thống hình ảnh ấy làng quê Việt hiện lên đậm đà, mộc mạc, giản dị mà ấm áp yêu thương, trở thành miền ký ức văn hóa bền bỉ nâng đỡ tâm hồn người xa xứ giữa những xô lệch của đời sống hiện đại. Như Voltaire từng nói “Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”. Những hình ảnh triền sông mướt câu hò, tiếng à ơi, mùi rơm thơm đã ngân lên nhịp điệu của ký ức, tạo nên bản hòa tấu quê hương vang lên trong tâm thức người xa xứ. Bằng chuỗi hình ảnh giàu tính biểu tượng và thấm đẫm chất dân gian ấy, Nguyễn Phan Quế Mai đã dựng lên một làng quê Việt Nam vừa gần gũi giản dị vừa thiêng liêng trong chiều sâu văn hóa. Quê hương vì thế không chỉ là nơi để hoài nhớ mà còn là kho tàng ký ức truyền đời, âm thầm nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ và trở thành điểm tựa tinh thần bền vững để con người trên mọi nẻo đường xa vẫn không đánh mất mình và vẫn tìm thấy một chốn trở về không gì có thể thay thế.
Như Leo Tolstoy từng khẳng định:“Người nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” Chính từ quan niệm ấy, văn học không chỉ phản chiếu những chuyển động bề mặt của đời sống mà còn soi chiếu chiều sâu tâm thức của một dân tộc. Trong đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai, ý thức về dòng máu dân tộc vì thế không dừng lại ở cảm xúc cá nhân mà hiện lên như sự tiếp nối bền bỉ của truyền thống Lạc Hồng trong tâm thức người Việt. Từ miền ký ức làng quê, mạch thơ được nâng lên tầm khái quát rộng lớn hơn “Về dòng thác người cuộn về muôn hướng / Chảy không nguôi dòng máu Lạc Hồng”. Hình ảnh dòng thác người gợi sức chảy mạnh mẽ của cộng đồng người Việt tỏa đi khắp bốn phương trong hành trình hội nhập với thế giới hiện đại. Con người có thể đi xa và phân tán về nhiều ngả nhưng ẩn sâu trong mọi chuyển động ấy vẫn là một mạch nguồn thống nhất của dòng máu Lạc Hồng. Cách nói chảy không nguôi khẳng định bản sắc dân tộc có thể biến đổi trong biểu hiện nhưng không bao giờ phai nhạt trong cốt lõi. Như Vladimir Mayakovsky từng nói làm thơ là cân một phần nghìn milligram quặng chữ, chỉ vài hình ảnh ngắn gọn mà nhà thơ đã mở ra hai tầng nghĩa song song, vừa là hiện thực cộng đồng người Việt tỏa đi bốn phương vừa là biểu tượng cho mạch nguồn dân tộc bền bỉ chảy qua lịch sử. Umberto Eco cho rằng “Văn chương là ngôn ngữ tạo ra cảm xúc”. Chính cách lựa chọn ngôn từ đã khiến dòng máu Lạc Hồng trở thành một thực thể sống, vận động không ngừng trong tâm thức người Việt. Ý thức cội nguồn ấy tiếp tục vang lên trong câu hỏi giàu âm hưởng sử thi “Giấc mơ nào từng ôm ấp Biển Đông”. Câu hỏi không nhằm tìm lời giải đáp mà gợi lên khát vọng chung của dân tộc gắn với biển cả, không gian sinh tồn, lịch sử và chủ quyền thiêng liêng. Bởi vậy, qua những hình ảnh giàu tính khái quát ấy, đoạn thơ khẳng định một chân lý bền vững rằng dù người Việt đi muôn nơi, dòng máu Lạc Hồng vẫn âm thầm chảy trong từng con người, nuôi dưỡng ý thức cộng đồng và bản sắc dân tộc trong dòng chảy toàn cầu hóa.
Ở đoạn thơ này, Nguyễn Phan Quế Mai sử dụng hình ảnh dòng sông như một ẩn dụ giàu sức khái quát để nói về căn tính và hành trình tinh thần của dân tộc “Ta là ta ngàn Việt những dòng sông / Dẫu khúc khuỷu bờ dâu hay ghềnh xiết cũng chảy về lòng biển”. Cách xưng ta là ta ngàn Việt những dòng sông tạo nên sự hòa nhập tự nhiên giữa cái tôi cá nhân và cái ta cộng đồng. Mỗi con người Việt như một dòng sông mang hình dáng riêng nhưng khi đặt trong tổng thể dân tộc lại cùng hòa vào một dòng chảy lớn. Dòng sông vì thế không còn là hình ảnh thiên nhiên thuần túy mà trở thành biểu tượng của sự sống, của lịch sử và của bản sắc văn hóa Việt Nam. Những từ ngữ khúc khuỷu và ghềnh xiết gợi lên bao thử thách thăng trầm của dân tộc qua chiến tranh, mất mát và những biến động của thời đại. Dòng sông Việt Nam không chảy trong điều kiện bằng phẳng mà phải vượt qua nhiều ghềnh thác hiểm nguy. Tuy nhiên ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nằm ở hướng chảy không đổi. Dẫu gian nan các dòng sông vẫn chảy về lòng biển. Biển ở đây mang ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc, là nơi hội tụ cuối cùng của mọi dòng chảy. Sự chảy về ấy trở thành quy luật tự nhiên cũng như quy luật tinh thần, cho thấy con người Việt dù đi xa đến đâu vẫn hướng về đất nước như cội nguồn không thể tách rời. Hình tượng ấy gợi nhớ đến những vần thơ của Nguyễn Đình Thi trong bài thơ Đất nước “Súng nổ rung trời giận dữ / Người lên như nước vỡ bờ”. Nếu hình ảnh nước vỡ bờ ở Nguyễn Đình Thi diễn tả sức mạnh cộng đồng bùng nổ của dân tộc trong giờ phút lịch sử quyết liệt, thì dòng sông trong thơ Nguyễn Phan Quế Mai lại gợi dòng chảy âm thầm mà bền bỉ hướng về lòng biển quê hương. Một bên là sức dâng trào dữ dội, một bên là quy luật thủy chung lặng lẽ, nhưng cả hai đều gặp nhau ở âm hưởng sử thi khẳng định bản lĩnh và sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam.

Ở phần cuối đoạn thơ, cảm hứng cội nguồn và bản sắc dân tộc được quy tụ và thăng hoa trong hình ảnh Tổ quốc vừa gần gũi vừa thiêng liêng. Những câu thơ “Chảy về với cánh đồng lúa chín / Rặng tre nghiêng chiều / Bến nước nghiêng trăng” mở ra một không gian quê hương thanh bình và ấm áp, nơi mọi dòng chảy tinh thần đều tìm thấy điểm dừng yên ổn. Cánh đồng lúa chín gợi biểu tượng quen thuộc của nền văn minh lúa nước, nơi nuôi dưỡng đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc qua bao thế hệ. Màu vàng của lúa không chỉ gợi sự no đủ mà còn gợi thành quả của lao động bền bỉ và nhẫn nại. Từ đó mạch thơ tiếp tục nghiêng về rặng tre nghiêng chiều và bến nước nghiêng trăng, những hình ảnh mềm mại và trữ tình gợi vẻ yên ả của làng quê Việt. Tre nghiêng không phải dáng đổ ngã mà là dáng che chở dẻo dai trước gió mưa, còn bến nước nghiêng trăng gợi một khoảnh khắc lắng sâu nơi con người và thiên nhiên hòa vào nhịp sống chậm rãi giàu tính nhân văn. Như Lin Yutang từng nhận định “Ngôn ngữ của thi ca khác với ngôn ngữ của đời sống ở chỗ nó gợi ra những liên tưởng phong phú và khơi dậy những rung động sâu xa”. Những hình ảnh quen thuộc của đời sống khi đi vào thơ Nguyễn Phan Quế Mai vì thế đã được nâng lên thành biểu tượng của quê hương và bản sắc Việt. Từ không gian làng quê ấy mạch thơ dâng lên thành lời khẳng định đầy xúc động “Và tất cả ta gọi tên Tổ quốc / Một Tổ quốc thiêng liêng màu sắc Việt”. Động từ gọi tên gợi một hành động thiêng liêng của nhận thức và tình cảm, cho thấy Tổ quốc không chỉ là một khái niệm địa lí mà là một sinh thể sống động trong tâm hồn mỗi người Việt. Cụm từ màu sắc Việt gợi tổng hòa của lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc được chưng cất qua bao thế hệ. Dư âm ấy tiếp tục lan tỏa trong câu thơ “Luôn dâng đầy muôn nẻo bến bờ xa”, gợi tình yêu Tổ quốc tràn ngập và bền bỉ trong trái tim những người con xa xứ. Qua hệ thống hình ảnh giàu cảm xúc ấy, Tổ quốc hiện lên thiêng liêng và rực rỡ, trở thành điểm tựa tinh thần vững bền của người Việt dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới.
Văn học, xét đến cùng, không chỉ phản ánh đời sống mà còn là cách con người tổ chức cảm xúc và tư tưởng bằng hình thức nghệ thuật. Một tác phẩm có chiều sâu không chỉ nằm ở điều được nói mà còn ở cách biểu đạt để chạm tới tâm hồn người đọc. Sau khi khám phá thế giới nội dung, cần nhìn lại phương diện nghệ thuật, nơi nhà thơ đã lựa chọn những hình thức biểu đạt tinh tế phù hợp với những rung động nội tâm. Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do, không bị ràng buộc bởi niêm luật hay vần điệu cố định, tạo không gian rộng mở cho cảm xúc và suy tưởng vận động tự nhiên. Nhịp thơ chậm rãi và trầm tĩnh, phù hợp với dòng hồi tưởng của cái tôi trữ tình đã đi nhiều và càng thấm thía cội nguồn. Nhờ hình thức ấy, tình yêu quê hương hiện lên như một dòng chảy âm thầm nhưng bền bỉ, lan tỏa trong toàn bộ đoạn thơ. Bên cạnh đó, cấu tứ của đoạn thơ được tổ chức theo một hành trình tâm tưởng rõ ràng. Mạch cảm xúc khởi đầu từ không gian phương Tây với những phố phường tráng lệ như Paris và London, tạo thế đối sánh để làm nổi bật nghịch lý giàu xúc cảm rằng càng đi xa lòng càng trôi về bến với tiếng à ơi thân thuộc. Từ nỗi nhớ ấy, mạch thơ lắng lại trong miền ký ức quê nhà qua những hình ảnh văn hóa làng quê như mái đình, triền sông, đường làng rơm thơm, rặng tre. Trên nền ký ức ấy, cảm xúc tiếp tục mở rộng sang ý thức cộng đồng với hình ảnh dòng thác người và dòng máu Lạc Hồng, rồi được khái quát bằng biểu tượng ngàn Việt những dòng sông dù khúc khuỷu hay ghềnh xiết vẫn chảy về lòng biển. Đến cuối cùng, mạch thơ hội tụ trong lời gọi tên Tổ quốc, nơi mọi dòng chảy cảm xúc tìm thấy điểm tựa thiêng liêng. Nhờ cấu tứ ấy, đoạn thơ vận động từ cá nhân đến cộng đồng, từ ký ức cụ thể đến ý thức dân tộc, tạo nên một dòng cảm xúc dâng cao liên tục và kết tinh thành tiếng gọi sâu lắng mang tên Tổ quốc.
Umberto Eco cũng khẳng định “Văn chương không phải đơn thuần là vấn đề cảm xúc, nó là vấn đề ngôn ngữ nữa. Văn chương là ngôn ngữ tạo ra cảm xúc”. Nhận định ấy giúp soi sáng đặc điểm ngôn ngữ trong đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai nơi ngôn từ không chỉ biểu đạt mà còn đánh thức chiều sâu ký ức văn hóa. Ngôn ngữ thơ mang âm hưởng dân gian rõ nét qua những thanh âm quen thuộc như à ơi và câu hò. Đó là những âm thanh gắn với lời ru của mẹ và đời sống cộng đồng, mộc mạc mà lay động sâu xa trong tâm thức. Bên cạnh đó tác giả sử dụng hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng như tre, trăng, bờ sông, Biển Đông. Mỗi hình ảnh đều mang tầng nghĩa vượt khỏi tả thực. Tre gợi sức sống bền bỉ và sự tiếp nối truyền đời. Trăng gợi vẻ đẹp hiền hòa và cộng cảm. Bờ sông gợi dòng chảy ký ức. Biển Đông mở ra không gian chủ quyền và khát vọng vươn xa. Đáng chú ý ngôn ngữ thơ cho thấy sự hòa quyện giữa hiện đại và truyền thống khi những địa danh phương Tây được đặt cạnh hình ảnh làng quê Việt, tạo nên thế đối sánh vừa mở rộng tầm nhìn hội nhập vừa neo giữ cội nguồn văn hóa. Nhờ cách tổ chức ngôn từ ấy bản sắc Việt hiện lên như một dòng chảy bền bỉ âm thầm lan tỏa qua từng câu thơ. Một đặc trưng quan trọng của thơ ca là khả năng biểu đạt cảm xúc qua hệ thống hình ảnh và biểu tượng. Đoạn thơ được kiến tạo bằng những hình ảnh đậm đặc bản sắc văn hóa Việt như mái đình, rặng tre, bến nước, tiếng ru à ơi. Đó là những biểu tượng quen thuộc của làng quê gắn với sinh hoạt cộng đồng và ký ức tuổi thơ, chuyên chở hồn vía văn hóa dân tộc. Trên nền những hình ảnh ấy không gian Đất Nước được mở rộng theo một trục vận động giàu ý nghĩa từ làng quê đến dòng sông rồi ra biển Đông và cuối cùng hội tụ trong hình ảnh Tổ quốc. Sự mở rộng ấy liền mạch như một dòng chảy tự nhiên cho thấy Đất Nước bắt đầu từ những điều bình dị thân thương nhưng đồng thời vươn ra chiều rộng của lịch sử và khát vọng dân tộc. Hệ thống hình ảnh ấy cũng kết nối các chiều thời gian. Quá khứ hiện diện trong mái đình, câu ru, bến nước. Hiện tại là những con người Việt tỏa đi muôn hướng trong hành trình hội nhập. Tương lai được gửi gắm trong giấc mơ biển lớn và trong hình ảnh Tổ quốc luôn dâng đầy trong tâm thức. Giọng điệu vì thế trở thành linh hồn của đoạn thơ. Qua giọng điệu người đọc nhận ra gương mặt tinh thần riêng của mỗi nghệ sĩ như giọng ngông nghênh của Tản Đà, giọng suy tư của Nam Cao, giọng nồng nàn của Xuân Diệu hay giọng mộc mạc giàu tình người của Nguyễn Ngọc Tư. Trong đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai giọng điệu chủ đạo mang sắc thái thiết tha và trìu mến. Giọng thơ được cất lên từ một cái tôi trữ tình giàu trải nghiệm đã đi xa nên càng thấm thía ý nghĩa của nơi chốn khởi đầu. Những hình ảnh làng quê và âm thanh dân gian khiến giọng thơ ban đầu lắng lại mềm xuống như một lời thủ thỉ thân thương. Càng về sau cùng với sự mở rộng của không gian và ý thức cộng đồng giọng thơ dần trở nên mạnh mẽ và trang trọng hơn. Khi cái tôi hòa vào cái ta dân tộc giọng thơ không còn chỉ là nỗi nhớ riêng tư mà trở thành tiếng nói chung của cộng đồng mang chung dòng máu và ký ức. Những câu thơ cuối vang lên với âm hưởng khái quát và tự hào khẳng định bản sắc Việt và lòng thủy chung với Tổ quốc của người Việt ở bất cứ phương trời nào.
Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ quê hương sâu nặng của người Việt xa xứ, một nỗi nhớ không chỉ khởi lên từ khoảng cách địa lí mà còn bắt nguồn từ chiều sâu tâm thức văn hóa. Dù đi qua những không gian hiện đại và tráng lệ của thế giới, trái tim người Việt vẫn không ngừng hướng về cội nguồn với mái đình, triền sông, câu hò, rặng tre, những hình ảnh quen thuộc của quê nhà. Từ nỗi nhớ ấy, đoạn thơ khẳng định truyền thống dân tộc và dòng máu Lạc Hồng như một mạch nguồn tinh thần chảy bền bỉ trong mỗi con người Việt. Tổ quốc vì thế hiện lên như một giá trị thiêng liêng và bao trùm, nơi hội tụ ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa, trở thành điểm tựa tinh thần bền vững cho những người con xa quê. Về nghệ thuật, đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do với cấu tứ linh hoạt, hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng và đậm dấu ấn văn hóa Việt như mái đình, rặng tre, bến nước, biển Đông. Giọng thơ thiết tha, giàu nhạc điệu đã làm nổi bật cảm hứng tri ân cội nguồn và khẳng định bản sắc Việt Nam trong hành trình hội nhập với thế giới.
“Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người.” Nhận định của Nguyên Ngọc gợi mở giá trị “nghệ thuật vị nhân sinh” lớn lao của văn chương. Đoạn thơ của Nguyễn Phan Quế Mai vì thế không chỉ là những vần thơ đẹp, mà còn là một bản tuyên ngôn cảm xúc về bản sắc Việt Nam giữa thời đại toàn cầu hóa. Bằng giọng thơ vừa tri ân quá khứ, vừa nâng đỡ hiện tại, vừa hướng tới tương lai, nhà thơ nhắc nhở mỗi người Việt dù đi đâu, ở đâu, vẫn luôn “chảy về lòng biển”, chảy về Tổ quốc thiêng liêng mang màu sắc Việt.