Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
Tất cả chúng ta đều có “phần cứng” giống nhau
Chắc bạn đang tự hỏi, có thật là chúng ta đều có cùng tiềm năng nội tại giống nhau? Chẳng lẽ ai cũng có cùng năng lực trí tuệ để có thể trở nên tự tin hơn, thông minh hơn, sáng tạo hơn và thành công hơn? Câu trả lời là “Đúng vậy!”. Mới nghe có vẻ hơi khó tin, nhưng nếu bạn hiểu rõ hơn về não bộ con người và bộ môn thần kinh học, bạn sẽ biết rằng tất cả chúng ta đều có cùng hệ thống thần kinh (với tất cả tiềm năng) như nhau. Hay nói cách khác, về cơ bản chúng ta có cùng “phần cứng”. Nếu có ai đó dường như vượt trội hơn bạn về trí thông minh hoặc khả năng giao tiếp, không có nghĩa là người đó có bộ “vi xử lý” mạnh hơn của bạn. Chẳng qua họ có những “chương trình” tốt hơn “chương trình” hiện có của bạn mà thôi. Chính những “chương trình” này hay những cách thức tư duy đúng đắn làm cho họ hăng hái hơn, tập trung hơn, nhạy bén hơn, mạnh mẽ hơn hoặc giao tiếp tốt hơn trong cuộc sống so với bạn.Khi được vận hành ở chế độ tối ưu, bộ não của bạn thật sự có khả năng tạo ra những ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của bạn, từ đó giúp bạn đạt được bất cứ kết quả nào mà bạn mong muốn.
Mỗi người chúng ta được sinh ra với hệ thống thần kinh gần như tương tự nhau. Chúng ta có khoảng 1000 tỉ nơ-ron (tế bào thần kinh) trong bộ não. Các nhà khoa học đã tính toán rằng nếu có một siêu máy tính được tạo ra với khả năng xử lý và lưu trữ gần bằng bộ não con người, chiếc máy tính đó sẽ có chiều dài xấp xỉ 50 sân vận động cộng lại (5.500 mét) và cao bằng tượng Nữ thần tự do (50 mét). Mặc dù với sức mạnh xử lý khủng khiếp như vậy, bộ não phi thường của chúng ta lại tiêu tốn ít năng lượng hơn một bóng đèn 10 watt, trong khi chiếc máy tính bạn đang dùng có thể tiêu thụ năng lượng đến 500 watt. Bộ não của bạn đúng là một “cỗ máy” kỳ diệu phải không nào? Bây giờ bạn có thể bắt đầu tin vào năng lực thần kỳ đã được “lắp đặt” sẵn bên trong bạn và những gì bạn có thể thực hiện với năng lực tuyệt vời đó.
[...] Mặc dù chúng ta có 100 tỉ tế bào thần kinh, những suy nghĩ, hành động, khả năng và kỹ năng của bạn không phải được xác định bằng số lượng tế bào thần kinh đó, mà dựa vào việc những tế bào đó liên kết với nhau như thế nào. Bộ não của mỗi người tuy có số lượng tế bào thần kinh tương đương nhau, nhưng sự liên kết giữa các tế bào thần kinh lại hoàn toàn khác biệt. Do đó, chúng ta suy nghĩ và hành động rất khác nhau, dẫn đến mức độ thành công trong cuộc sống của mỗi người cũng khác nhau.
[...]
Cách thức liên kết thần kinh mà não của bạn có được ngày nay là kết quả từ những tác động và kích thích lên não bộ, kể cả trước khi bạn ra đời. Hệ thống thần kinh của bạn bắt đầu phát triển từ khi còn trong bụng mẹ từ tuần thứ 20, sau khi được thụ thai. Nếu bạn có năng khiếu toán học, đó có thể là do bộ não của bạn đã tiếp nhận nhiều kích thích về toán học từ mẹ bạn hoặc những người xung quanh. Rồi từ khi được sinh ra cho tới khi lớn lên, nhất là trước lúc 14 tuổi, những tính cách cá nhân như kiên nhẫn, quyết đoán hay thiếu kiên nhẫn, luôn chần chừ,... cũng được “cài đặt” vào bộ não của bạn thông qua sự tiếp xúc với những người xung quanh hoặc do hoàn cảnh của bạn. Đó là cách bạn được “lập trình” để trở nên như ngày hôm nay. Một tin vui cho bạn: những liên kết thần kinh đó có thể được tạo ra hoặc loại bỏ bởi chính bạn. Vâng, đúng vậy, bạn có thể tự “lập trình” lại chính mình. Ví dụ, nếu bất kỳ khu vực não bộ nào của bạn có liên kết thần kinh quá ít hoặc không đầy đủ, bạn vẫn có thể thiết lập thêm những liên kết thần kinh cần thiết đó bằng cách tạo ra những kích thích hợp lý vào não bộ. Ngược lại, bạn có thể “xóa” những liên kết thần kinh hạn chế tạo ra những thói quen xấu của bạn
Làm chủ tư duy thay đổi vận mệnh – Adam Khoo
Câu 1 [1073023]: Theo tác giả, vì sao có người tự tin hơn, thông minh hơn hoặc thành công hơn người khác?
A, Họ được thừa hưởng hệ thần kinh đặc biệt hơn, được tiếp xúc sớm từ trong bụng mẹ
B, Họ có bộ vi xử lý sinh học mạnh hơn, rèn luyện nhiều hơn người khác
C, Họ sử dụng “chương trình” tư duy hiệu quả hơn.
D, Họ sinh ra trong môi trường giàu tính cạnh tranh được lập trình một cách khoa học hơn.
Đáp án đúng: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ1: “…không có nghĩa là người đó có bộ ‘vi xử lý’ mạnh hơn… Chẳng qua họ có những ‘chương trình’ tốt hơn… Chính những ‘chương trình’ này hay những cách thức tư duy đúng đắn làm cho họ hăng hái hơn, tập trung hơn…”
Giải thích – suy luận: Tác giả quy khác biệt thành công vào “chương trình” tư duy đang vận hành trên cùng “phần cứng” thần kinh, nên người tự tin/thông minh/thành công là do dùng chương trình tư duy hiệu quả. Đáp án: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ1: “…không có nghĩa là người đó có bộ ‘vi xử lý’ mạnh hơn… Chẳng qua họ có những ‘chương trình’ tốt hơn… Chính những ‘chương trình’ này hay những cách thức tư duy đúng đắn làm cho họ hăng hái hơn, tập trung hơn…”
Giải thích – suy luận: Tác giả quy khác biệt thành công vào “chương trình” tư duy đang vận hành trên cùng “phần cứng” thần kinh, nên người tự tin/thông minh/thành công là do dùng chương trình tư duy hiệu quả. Đáp án: C
Câu 2 [1073024]: Nhận định nào sau đây phù hợp với quan điểm của tác giả về mối liên hệ giữa tiềm năng bẩm sinh và kết quả cuộc sống?
A, Tiềm năng bẩm sinh là yếu tố quyết định thành công, không thể thay đổi.
B, Thành công phụ thuộc vào việc tận dụng và vận hành hiệu quả hệ thần kinh vốn có.
C, Người có tố chất di truyền vượt trội thường tạo ra kết quả vượt trội.
D, Khả năng hành vi và tư duy là do số lượng tế bào thần kinh quy định đồng thời được di truyền bẩm sinh từ trong bụng mẹ
Đáp án đúng: B
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ2: “Khi được vận hành ở chế độ tối ưu, bộ não của bạn thật sự có khả năng tạo ra những ảnh hưởng tích cực…”
• Đ4: “…khả năng… không phải được xác định bằng số lượng tế bào thần kinh, mà dựa vào việc những tế bào đó liên kết với nhau như thế nào.”
Giải thích – suy luận: Tiềm năng bẩm sinh (phần cứng) là tương đồng, kết quả phụ thuộc cách vận hành và tối ưu liên kết. Do đó trọng tâm là tận dụng và vận hành hiệu quả hệ thần kinh vốn có. Đáp án: B
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ2: “Khi được vận hành ở chế độ tối ưu, bộ não của bạn thật sự có khả năng tạo ra những ảnh hưởng tích cực…”
• Đ4: “…khả năng… không phải được xác định bằng số lượng tế bào thần kinh, mà dựa vào việc những tế bào đó liên kết với nhau như thế nào.”
Giải thích – suy luận: Tiềm năng bẩm sinh (phần cứng) là tương đồng, kết quả phụ thuộc cách vận hành và tối ưu liên kết. Do đó trọng tâm là tận dụng và vận hành hiệu quả hệ thần kinh vốn có. Đáp án: B
Câu 3 [1073025]: Để làm sáng tỏ nhận định “não người là một cỗ máy kỳ diệu”, tác giả đã dùng những bằng chứng nào sau đây?
A, So sánh bộ não với máy móc hiện đại về khả năng lưu trữ và xử lý thông tin.
B, Dẫn số liệu cụ thể về chỉ số IQ của người thành công.
C, So sánh tế bào thần kinh, chỉ ra sự liên kết phức tạp của các tế bào thần kinh với các mạch điện tử phức tạp trong công nghệ sinh học.
D, Phân tích lượng chất xám của não người qua từng giai đoạn phát triển.
Đáp án đúng: A
Dẫn chứng – vị trí: Đ3: “nếu có một siêu máy tính… gần bằng bộ não con người, chiếc máy tính đó sẽ dài… và cao… Mặc dù… bộ não… tiêu tốn ít năng lượng hơn một bóng đèn 10 watt, trong khi máy tính… 500 watt.”Giải thích – suy luận: Tác giả dùng so sánh với siêu máy tính về kích thước, năng lượng để chứng minh não là “cỗ máy kỳ diệu”. Đáp án: A
Dẫn chứng – vị trí: Đ3: “nếu có một siêu máy tính… gần bằng bộ não con người, chiếc máy tính đó sẽ dài… và cao… Mặc dù… bộ não… tiêu tốn ít năng lượng hơn một bóng đèn 10 watt, trong khi máy tính… 500 watt.”Giải thích – suy luận: Tác giả dùng so sánh với siêu máy tính về kích thước, năng lượng để chứng minh não là “cỗ máy kỳ diệu”. Đáp án: A
Câu 4 [1073026]: Câu nào sau đây diễn đạt đúng tinh thần của văn bản?
A, Người thành công là người có năng lực di truyền vượt trội, có các liên kết thần kinh mạnh mẽ hơn người khác
B, Những tính cách như kiên nhẫn hay thiếu kiên nhẫn là do não người lập trình sẵn và không thể thay đổi.
C, Các liên kết thần kinh có thể bị xóa bỏ hoặc tái lập bằng những kích thích phù hợp từ môi trường.
D, Mọi sự khác biệt trong tư duy chỉ có thể thay đổi trước tuổi 14 phụ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh sống của bạn
Đáp án đúng: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ5: “…những liên kết thần kinh đó có thể được tạo ra hoặc loại bỏ bởi chính bạn… bạn có thể tự ‘lập trình’ lại chính mình… thiết lập thêm những liên kết… hoặc ‘xóa’ những liên kết thần kinh hạn chế…”
Giải thích – suy luận: Văn bản khẳng định tính dẻo thần kinh: liên kết có thể xóa/tái lập nhờ kích thích phù hợp, nên C là đúng tinh thần. Đáp án: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ5: “…những liên kết thần kinh đó có thể được tạo ra hoặc loại bỏ bởi chính bạn… bạn có thể tự ‘lập trình’ lại chính mình… thiết lập thêm những liên kết… hoặc ‘xóa’ những liên kết thần kinh hạn chế…”
Giải thích – suy luận: Văn bản khẳng định tính dẻo thần kinh: liên kết có thể xóa/tái lập nhờ kích thích phù hợp, nên C là đúng tinh thần. Đáp án: C
Câu 5 [1073027]: Câu nói: “Khi được vận hành ở chế độ tối ưu, bộ não của bạn có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ…” Phát biểu này cho thấy:
A, Não người có giới hạn vận hành mạnh mẽ giống máy móc hiện đại, tinh anh và vô cùng sắc sảo
B, Khả năng tư duy hiệu quả là do não được “khởi động” đúng cách.
C, Não người chỉ hoạt động tốt nếu được nghỉ ngơi đầy đủ và các tế nào thần kinh liên kết với nhau mạnh mẽ.
D, Cảm xúc tiêu cực là nguyên nhân khiến não không thể vận hành hiệu quả và đúng đắn, não bộ sẽ vận hành mạnh mẽ khi được khởi động hết công suất
Đáp án đúng: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ2: “Khi được vận hành ở chế độ tối ưu, bộ não của bạn… giúp bạn đạt được bất cứ kết quả nào mà bạn mong muốn.”
Giải thích – suy luận: “Vận hành ở chế độ tối ưu” tương ứng với khởi động/vận hành đúng cách về tư duy – thói quen – “chương trình”, từ đó năng lực tư duy phát huy hiệu quả. Đáp án: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ2: “Khi được vận hành ở chế độ tối ưu, bộ não của bạn… giúp bạn đạt được bất cứ kết quả nào mà bạn mong muốn.”
Giải thích – suy luận: “Vận hành ở chế độ tối ưu” tương ứng với khởi động/vận hành đúng cách về tư duy – thói quen – “chương trình”, từ đó năng lực tư duy phát huy hiệu quả. Đáp án: B
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.
Những thay đổi trong tục thờ cúng bà cô của người Việt Nam hiện nay
Một số vấn đề cần thảo luận:Thứ nhất, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Việt Nam là sự phản ánh nhu cầu tâm linh của người Việt Nam đang tồn tại một cách khách quan cần được tôn trọng. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chứa đựng nguyên tắc “biết ơn” (thành ngữ Việt Nam là “uống nước nhớ nguồn ”).
Hiếu thảo, là một trong những giá trị của văn hóa truyền thống, đã trở thành triết lý sống của người Việt Nam. Việc xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đòi hỏi người Việt Nam phải có tư duy mới, đúng đắn về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Cần phải điều tra, nghiên cứu, hệ thống hóa các giá trị văn hóa, đạo đức, hiếu thảo trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trên cơ sở đó đánh giá khách quan, khẳng định rõ những giá trị tốt đẹp vẫn còn phù hợp, phù hợp với xã hội hiện đại cần bảo tồn và phát huy; những giá trị lạc hậu cần phải thay đổi; những yếu tố bị biến đổi do bị lợi dụng cho mục đích trục lợi và những yếu tố mê tín, dị đoan “ký sinh” (sống bám) trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để loại bỏ.
Thứ hai, thực hành Đạo hiếu trong thờ cúng linh hồn. Trong gia đình, vai trò của cha mẹ trong việc duy trì đạo hiếu là rất quan trọng. Nếu cha mẹ tạo dựng được môi trường gia đình nề nếp, trang nghiêm thì cuộc sống gia đình sẽ hạnh phúc, con cái hiếu thảo với ông bà. Ngược lại, nếu cha mẹ không làm gương tốt cho con cái về hành vi, không quan tâm chăm sóc, thậm chí ngược đãi ông bà sẽ khiến con cái có hành vi bất hiếu. Đạo hiếu là cội nguồn của mỗi con người. Đạo hiếu là giá trị đạo đức quý báu trong thờ cúng tổ tiên của người Việt. Ngay cả việc xây dựng lại nhà thờ, viết lại gia phả, đào huyệt, thắp hương đêm giao thừa đều là những việc làm thiết thực trong việc giáo dục đạo hiếu cho con cháu.
Thứ ba, việc thờ cúng linh hồn tạo ra các giá trị đạo đức, nghĩa là bảo tồn và phát huy các giá trị đó trong đời sống xã hội của tín ngưỡng nói chung và thờ cúng tổ tiên nói riêng. Trong thời gian qua (bắt đầu từ thời kỳ đổi mới năm 1986), các cấp ủy, chính quyền đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhận thức đúng đắn về các giá trị tốt đẹp, tích cực của việc thờ cúng tổ tiên cũng như các loại hình tôn giáo, trừ các yếu tố lỗi thời, không phù hợp [Long, Van 2022]. Đồng thời, tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, từ đó nâng cao nhận thức về việc bảo tồn các giá trị tích cực của tín ngưỡng cũng như tham gia các hoạt động tôn giáo, đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng vào mục đích xấu. Trong công tác tuyên truyền, cùng với việc phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, cần chú trọng phát huy tối đa vai trò của hệ thống thông tin đại chúng để định hướng các giá trị và dư luận xã hội trong việc bảo vệ, phát huy dư luận xã hội các giá trị đạo đức tốt đẹp cũng như phê phán các hoạt động tôn giáo trái pháp luật.
Thứ tư, trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và ban hành luật pháp, chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung, trong đó có tín ngưỡng thờ cúng linh hồn tổ tiên để từng bước đổi mới đời sống xã hội, góp phần duy trì và phát huy những giá trị đạo đức tích cực trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam hiện nay. Thực tế những năm gần đây cho thấy, việc tổ chức thờ cúng tổ tiên ở cấp độ gia đình, nhất là ở cấp độ dòng họ, làng xã, lễ hội; việc sử dụng đất để xây dựng mồ mả, đền, chùa, cơ sở thờ tự đôi khi diễn ra ở nhiều nơi. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do cơ sở pháp lý còn lỏng lẻo, nhiều vấn đề về quản lý, thực thi pháp luật, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa vừa cứng nhắc vừa dung túng, đang có dấu hiệu buông lỏng, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Trong tình hình đó, việc xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật, chính sách điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, thờ cúng tổ tiên là hết sức quan trọng.
Nguồn: https://vietnamjournal.ru/2618-9453/article/view/123534?
Câu 6 [1073028]: Theo tác giả, vì sao cần có tư duy mới trong việc thờ cúng tổ tiên?
A, Vì truyền thống cũ đã mai một và có sự thay đổi rõ rệt trong thời gian gần đây.
B, Vì tín ngưỡng này chứa đựng cả những giá trị tích cực lẫn tiêu cực cần được nhận diện rõ.
C, Vì nhà nước đang muốn đổi mới, thay thế tín ngưỡng lạc hậu bằng các hình thức tín ngưỡng mới.
D, Vì đạo hiếu hiện nay đã không còn phù hợp với thế hệ trẻ, chỉ còn được lưu truyền từ các thể hệ trước
Đáp án đúng: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ1: “cần phải… đánh giá khách quan, khẳng định rõ những giá trị tốt đẹp… cần bảo tồn và phát huy; những giá trị lạc hậu cần phải thay đổi;… loại bỏ… mê tín, dị đoan.”
Giải thích – suy luận: Tác giả yêu cầu tư duy mới vì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vừa chứa giá trị tích cực cần gìn giữ, vừa có phần lạc hậu hoặc bị lợi dụng cần điều chỉnh, nên cần nhìn nhận phân minh chứ không phủ nhận hay tôn vinh tuyệt đối. Đáp án: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ1: “cần phải… đánh giá khách quan, khẳng định rõ những giá trị tốt đẹp… cần bảo tồn và phát huy; những giá trị lạc hậu cần phải thay đổi;… loại bỏ… mê tín, dị đoan.”
Giải thích – suy luận: Tác giả yêu cầu tư duy mới vì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vừa chứa giá trị tích cực cần gìn giữ, vừa có phần lạc hậu hoặc bị lợi dụng cần điều chỉnh, nên cần nhìn nhận phân minh chứ không phủ nhận hay tôn vinh tuyệt đối. Đáp án: B
Câu 7 [1073029]: Chính quyền đã làm gì để định hướng nhận thức đúng về thờ cúng tổ tiên?
A, Ban hành lệnh cấm đối với các hoạt động tín ngưỡng có yếu tố mê tín dị đoan
B, Yêu cầu đưa giáo dục tín ngưỡng vào thực tiễn đời sống và giáo dục phổ thông
C, Đẩy mạnh tuyên truyền về giá trị đạo đức của tín ngưỡng và chống lợi dụng tôn giáo.
D, Tổ chức các lễ hội văn hóa tín ngưỡng phù hợp với đặc điểm đặc thù của các địa phương.
Đáp án đúng: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ3: “đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền… nhận thức đúng đắn về các giá trị tốt đẹp… đồng thời… tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng… đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng vào mục đích xấu.”; “chú trọng… hệ thống thông tin đại chúng để định hướng các giá trị và dư luận.”
Giải thích – suy luận: Chính quyền chủ yếu dùng tuyên truyền và định hướng nhận thức, vừa nhấn mạnh giá trị đạo đức của thờ cúng tổ tiên, vừa chống lợi dụng tôn giáo, đúng với phương án C; các phương án khác hoặc không có trong văn bản, hoặc nói quá phạm vi. Đáp án: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ3: “đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền… nhận thức đúng đắn về các giá trị tốt đẹp… đồng thời… tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng… đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng vào mục đích xấu.”; “chú trọng… hệ thống thông tin đại chúng để định hướng các giá trị và dư luận.”
Giải thích – suy luận: Chính quyền chủ yếu dùng tuyên truyền và định hướng nhận thức, vừa nhấn mạnh giá trị đạo đức của thờ cúng tổ tiên, vừa chống lợi dụng tôn giáo, đúng với phương án C; các phương án khác hoặc không có trong văn bản, hoặc nói quá phạm vi. Đáp án: C
Câu 8 [1073030]: Yếu tố nào cho thấy sự bất cập trong thực thi chính sách tín ngưỡng tại địa phương?
A, Thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng và quản lý chưa đồng bộ.
B, Các lễ hội ngày càng ít được tổ chức do nhà nước bài trừ mê tín dị đoan
C, Người dân không tham gia các hoạt động lễ hội thường xuyên
D, Sự can thiệp quá mức của chính quyền trong việc điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, thờ cúng tổ tiên
Đáp án đúng: A
Dẫn chứng – vị trí: Đ4: “cơ sở pháp lý còn lỏng lẻo… quản lý… buông lỏng, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn…”
Giải thích – suy luận: Những bất cập được nêu trực tiếp là khung pháp lý và thực thi quản lý thiếu chặt chẽ, không phải do người dân ít tham gia hay do cấm đoán tuyệt đối. Đáp án: A
Dẫn chứng – vị trí: Đ4: “cơ sở pháp lý còn lỏng lẻo… quản lý… buông lỏng, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn…”
Giải thích – suy luận: Những bất cập được nêu trực tiếp là khung pháp lý và thực thi quản lý thiếu chặt chẽ, không phải do người dân ít tham gia hay do cấm đoán tuyệt đối. Đáp án: A
Câu 9 [1073031]: Từ việc đề cập “viết lại gia phả, xây lại nhà thờ, đào huyệt, thắp hương đêm giao thừa”, có thể suy luận tác giả đang nhấn mạnh điều gì?
A, Tín ngưỡng thờ cúng phải gắn với lễ hội cổ truyền – một nét văn hóa không thể thiếu của dân tộc Việt Nam
B, Cần phục hồi một số nghi lễ truyền thống về nguyên trạng để bảo tồn, gìn giữ văn hóa
C, Những nghi thức đó chỉ còn mang ý nghĩa tượng trưng và góp phần nuôi dưỡng tâm hồn người Việt.
D, Các hành vi cụ thể mang giá trị giáo dục đạo hiếu trong đời sống hàng ngày.
Đáp án đúng: D
Dẫn chứng – vị trí: Đ2: “Ngay cả việc xây dựng lại nhà thờ, viết lại gia phả, thắp hương đêm giao thừa đều là những việc làm thiết thực trong việc giáo dục đạo hiếu cho con cháu.”
Giải thích – suy luận: Ba ví dụ đều là hành vi cụ thể mang công năng giáo dục đạo hiếu trong sinh hoạt thường ngày, không đơn thuần mang ý nghĩa tượng trưng hay chỉ gắn với lễ hội. Đáp án: D
Dẫn chứng – vị trí: Đ2: “Ngay cả việc xây dựng lại nhà thờ, viết lại gia phả, thắp hương đêm giao thừa đều là những việc làm thiết thực trong việc giáo dục đạo hiếu cho con cháu.”
Giải thích – suy luận: Ba ví dụ đều là hành vi cụ thể mang công năng giáo dục đạo hiếu trong sinh hoạt thường ngày, không đơn thuần mang ý nghĩa tượng trưng hay chỉ gắn với lễ hội. Đáp án: D
Câu 10 [1073032]: Qua văn bản, tác giả muốn gửi gắm điều gì về cách ứng xử với tín ngưỡng truyền thống trong thời đại mới?
A, Cần hiện đại hóa hoàn toàn các nghi thức để phù hợp với đời sống số hiện đại ngày nay mà không đánh mất giá trị văn hóa
B, Chỉ giữ lại các yếu tố truyền thống nhưng có sự sáng tạo phù hợp với văn hóa phương Tây.
C, Vừa bảo tồn các giá trị đạo đức cốt lõi, vừa điều chỉnh các yếu tố không phù hợp với thực tiễn.
D, Loại bỏ toàn bộ các yếu tố tín ngưỡng tiêu cực để tránh mê tín, dị đoan.
Đáp án đúng: C
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ1: yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp, thay đổi phần lạc hậu, loại bỏ mê tín.
• Đ3: định hướng giá trị, tôn trọng tự do tín ngưỡng, chống lợi dụng.
• Đ4: hoàn thiện luật pháp, chính sách để điều chỉnh thực tiễn.
Giải thích – suy luận: Thông điệp nhất quán là ứng xử có chọn lọc: giữ cốt lõi đạo đức – bản sắc, đồng thời điều chỉnh các yếu tố không phù hợp bằng truyền thông, pháp lý và quản trị. Điều này phù hợp nhất với phương án C. Đáp án: C
Dẫn chứng – vị trí:
• Đ1: yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp, thay đổi phần lạc hậu, loại bỏ mê tín.
• Đ3: định hướng giá trị, tôn trọng tự do tín ngưỡng, chống lợi dụng.
• Đ4: hoàn thiện luật pháp, chính sách để điều chỉnh thực tiễn.
Giải thích – suy luận: Thông điệp nhất quán là ứng xử có chọn lọc: giữ cốt lõi đạo đức – bản sắc, đồng thời điều chỉnh các yếu tố không phù hợp bằng truyền thông, pháp lý và quản trị. Điều này phù hợp nhất với phương án C. Đáp án: C
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1073033]: Trích từ: 21 bài học cho thế kỷ 21 – Yuval Noah Harari
“Để tồn tại và phát triển trong một thế giới như thế, bạn cần có tư duy linh hoạt và khả năng giữ cân bằng cảm xúc bền vững.”
Hãy viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: “bạn cần có tư duy linh hoạt để tồn tại và phát triển trong thế giới mới”.
“Để tồn tại và phát triển trong một thế giới như thế, bạn cần có tư duy linh hoạt và khả năng giữ cân bằng cảm xúc bền vững.”
Hãy viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: “bạn cần có tư duy linh hoạt để tồn tại và phát triển trong thế giới mới”.
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Nhà sử học và tư tưởng gia đương đại Yuval Noah Harari trong 21 bài học cho thế kỷ 21 từng khẳng định: “Để tồn tại và phát triển trong một thế giới như thế, bạn cần có tư duy linh hoạt và khả năng giữ cân bằng cảm xúc bền vững.” Câu nói nhấn mạnh một chân lý của thời đại mới: chỉ những ai có tư duy linh hoạt biết thay đổi, thích nghi và sáng tạo mới có thể phát triển bền vững giữa dòng chảy không ngừng của thế giới.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích
“Tư duy linh hoạt” là khả năng mở rộng tầm nhìn, thay đổi quan điểm và điều chỉnh hành động phù hợp với hoàn cảnh, thay vì cố chấp với những khuôn mẫu cũ.
“Thế giới mới” là thế giới của công nghệ, toàn cầu hóa và biến động không ngừng, nơi kiến thức, nghề nghiệp và giá trị xã hội luôn thay đổi.
→ Ý nghĩa câu nói: Yuval Noah Harari muốn nhấn mạnh rằng sự linh hoạt trong tư duy không chỉ giúp con người thích ứng với thay đổi, mà còn là chìa khóa mở ra cơ hội phát triển và thành công trong tương lai.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
- Bản chất của cuộc sống là vô thường, vạn vật đều biến đổi và thay đổi liên tục.Tất nhiên, những khoa học kỹ thuật và tiến bộ xã hội cũng sẽ phát triển mạnh mẽ theo. Bởi vậy để phát triển được trong xã hội ngày nay con người cần phải có tư duy linh hoạt
- Tư duy linh hoạt giúp con người thích nghi trước những biến động của thời đại. Khi thế giới chuyển mình từng ngày với sự xuất hiện của AI, big data hay nghề nghiệp mới, chỉ những ai dám học lại, thay đổi và sáng tạo mới không bị đào thải trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ mới.
- Tư duy linh hoạt là nền tảng của sự sáng tạo và đổi mới trong cuộc sống và trên mọi lĩnh vực khác nhau. Người có tư duy mở biết nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, sẵn sàng thử nghiệm điều mới, từ đó tạo ra những giá trị khác biệt cho bản thân và xã hội.
- Tư duy linh hoạt còn giúp con người biết cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái tôi và cái chung ta của cộng đồng và xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, người có tư duy linh hoạt biết tiếp thu tinh hoa mới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc riêng – đó là dấu hiệu của trí tuệ trưởng thành.
- Những người có tư duy linh hoạt luôn có những thành tựu lớn từ đó thúc đẩy được sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, cộng đồng.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
- Elon Musk là ví dụ điển hình của tư duy linh hoạt ông không bó buộc bản thân trong một lĩnh vực, mà liên tục mở rộng từ công nghệ ô tô điện (Tesla), vũ trụ (SpaceX) đến trí tuệ nhân tạo (xAI). Chính sự linh hoạt ấy đã biến ông thành một trong những người tiên phong của thời đại.
- Ở Việt Nam, đại tướng Võ Nguyên Giáp là người có tư duy linh hoạt trong chiến lược: từ chiến tranh du kích sang tổng tiến công, biết chuyển đổi linh hoạt theo tình hình thực tiễn nhờ đó làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.”
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
-Ngược lại, những người bảo thủ, cố chấp và thiếu linh hoạt thường dễ thất bại trong cuộc sống. Trong một thế giới thay đổi nhanh, nếu ta chỉ bám vào lối mòn tư duy cũ, ta sẽ bị bỏ lại phía sau.
-Tuy nhiên, tư duy linh hoạt không có nghĩa là thay đổi một cách tùy tiện hay đánh mất nguyên tắc hoặc phá bỏ những nét truyền thống vốn có. Linh hoạt phải đi kèm với nền tảng vững vàng về đạo đức, tri thức và giá trị sống để sự thay đổi luôn hướng tới tiến bộ chứ không là sự đánh mất.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nhận thức rằng tư duy linh hoạt chính là kỹ năng sinh tồn trong thế kỷ 21. Hãy chủ động học hỏi, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, dám bước ra khỏi vùng an toàn và điều chỉnh bản thân trước sự thay đổi của thế giới. Rèn luyện thói quen đặt câu hỏi, nhìn sự việc đa chiều, và học cách chuyển đổi tư duy từ “sợ thay đổi” sang “học cách thay đổi thích nghi trong hoàn cảnh mới”. Đồng thời, phải giữ được bản lĩnh, niềm tin và giá trị cốt lõi, bản sắc cá nhân của bản thân để không đánh mất mình trong dòng xoáy của thời đại.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Quan điểm của Yuval Noah Harari là lời cảnh báo và cũng là lời khích lệ cho con người trong thế giới hiện đại: chỉ khi có tư duy linh hoạt, con người mới thật sự làm chủ được công nghệ, chứ không bị công nghệ điều khiển. Trong thế giới luôn biến động, linh hoạt không chỉ là kỹ năng, mà là một cách sống, một bản lĩnh để con người phát triển bền vững, thích nghi và vươn lên không ngừng.
Nhà sử học và tư tưởng gia đương đại Yuval Noah Harari trong 21 bài học cho thế kỷ 21 từng khẳng định: “Để tồn tại và phát triển trong một thế giới như thế, bạn cần có tư duy linh hoạt và khả năng giữ cân bằng cảm xúc bền vững.” Câu nói nhấn mạnh một chân lý của thời đại mới: chỉ những ai có tư duy linh hoạt biết thay đổi, thích nghi và sáng tạo mới có thể phát triển bền vững giữa dòng chảy không ngừng của thế giới.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích
“Tư duy linh hoạt” là khả năng mở rộng tầm nhìn, thay đổi quan điểm và điều chỉnh hành động phù hợp với hoàn cảnh, thay vì cố chấp với những khuôn mẫu cũ.
“Thế giới mới” là thế giới của công nghệ, toàn cầu hóa và biến động không ngừng, nơi kiến thức, nghề nghiệp và giá trị xã hội luôn thay đổi.
→ Ý nghĩa câu nói: Yuval Noah Harari muốn nhấn mạnh rằng sự linh hoạt trong tư duy không chỉ giúp con người thích ứng với thay đổi, mà còn là chìa khóa mở ra cơ hội phát triển và thành công trong tương lai.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
- Bản chất của cuộc sống là vô thường, vạn vật đều biến đổi và thay đổi liên tục.Tất nhiên, những khoa học kỹ thuật và tiến bộ xã hội cũng sẽ phát triển mạnh mẽ theo. Bởi vậy để phát triển được trong xã hội ngày nay con người cần phải có tư duy linh hoạt
- Tư duy linh hoạt giúp con người thích nghi trước những biến động của thời đại. Khi thế giới chuyển mình từng ngày với sự xuất hiện của AI, big data hay nghề nghiệp mới, chỉ những ai dám học lại, thay đổi và sáng tạo mới không bị đào thải trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ mới.
- Tư duy linh hoạt là nền tảng của sự sáng tạo và đổi mới trong cuộc sống và trên mọi lĩnh vực khác nhau. Người có tư duy mở biết nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, sẵn sàng thử nghiệm điều mới, từ đó tạo ra những giá trị khác biệt cho bản thân và xã hội.
- Tư duy linh hoạt còn giúp con người biết cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái tôi và cái chung ta của cộng đồng và xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, người có tư duy linh hoạt biết tiếp thu tinh hoa mới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc riêng – đó là dấu hiệu của trí tuệ trưởng thành.
- Những người có tư duy linh hoạt luôn có những thành tựu lớn từ đó thúc đẩy được sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, cộng đồng.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
- Elon Musk là ví dụ điển hình của tư duy linh hoạt ông không bó buộc bản thân trong một lĩnh vực, mà liên tục mở rộng từ công nghệ ô tô điện (Tesla), vũ trụ (SpaceX) đến trí tuệ nhân tạo (xAI). Chính sự linh hoạt ấy đã biến ông thành một trong những người tiên phong của thời đại.
- Ở Việt Nam, đại tướng Võ Nguyên Giáp là người có tư duy linh hoạt trong chiến lược: từ chiến tranh du kích sang tổng tiến công, biết chuyển đổi linh hoạt theo tình hình thực tiễn nhờ đó làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.”
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
-Ngược lại, những người bảo thủ, cố chấp và thiếu linh hoạt thường dễ thất bại trong cuộc sống. Trong một thế giới thay đổi nhanh, nếu ta chỉ bám vào lối mòn tư duy cũ, ta sẽ bị bỏ lại phía sau.
-Tuy nhiên, tư duy linh hoạt không có nghĩa là thay đổi một cách tùy tiện hay đánh mất nguyên tắc hoặc phá bỏ những nét truyền thống vốn có. Linh hoạt phải đi kèm với nền tảng vững vàng về đạo đức, tri thức và giá trị sống để sự thay đổi luôn hướng tới tiến bộ chứ không là sự đánh mất.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nhận thức rằng tư duy linh hoạt chính là kỹ năng sinh tồn trong thế kỷ 21. Hãy chủ động học hỏi, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, dám bước ra khỏi vùng an toàn và điều chỉnh bản thân trước sự thay đổi của thế giới. Rèn luyện thói quen đặt câu hỏi, nhìn sự việc đa chiều, và học cách chuyển đổi tư duy từ “sợ thay đổi” sang “học cách thay đổi thích nghi trong hoàn cảnh mới”. Đồng thời, phải giữ được bản lĩnh, niềm tin và giá trị cốt lõi, bản sắc cá nhân của bản thân để không đánh mất mình trong dòng xoáy của thời đại.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Quan điểm của Yuval Noah Harari là lời cảnh báo và cũng là lời khích lệ cho con người trong thế giới hiện đại: chỉ khi có tư duy linh hoạt, con người mới thật sự làm chủ được công nghệ, chứ không bị công nghệ điều khiển. Trong thế giới luôn biến động, linh hoạt không chỉ là kỹ năng, mà là một cách sống, một bản lĩnh để con người phát triển bền vững, thích nghi và vươn lên không ngừng.
Bài viết tham khảo:
Yuval Noah Harari nhận định rằng "Để tồn tại và phát triển trong một thế giới như thế, bạn cần có tư duy linh hoạt và khả năng giữ cân bằng cảm xúc bền vững". Lời nhận định ấy như một tiếng chuông cảnh tỉnh đối với con người trong thời đại biến động mạnh mẽ của công nghệ và toàn cầu hóa. Khi tri thức liên tục được làm mới, nghề nghiệp thay đổi nhanh chóng và các giá trị xã hội không ngừng dịch chuyển. Bởi vậy, tư duy linh hoạt vì thế trở thành một năng lực thiết yếu giúp con người mở rộng tầm nhìn, điều chỉnh quan điểm và hành động phù hợp với hoàn cảnh thay đổi không ngừng của thế giới hiện đại.“Tư duy linh hoạt” là khả năng mở rộng tầm nhìn, thay đổi quan điểm và điều chỉnh hành động phù hợp với hoàn cảnh, thay vì cố chấp với những khuôn mẫu cũ. Bản chất của đời sống là vận động và biến đổi. Người xưa từng đúc kết bằng một hình ảnh giản dị mà sâu sắc rằng "Nước chảy đá mòn", hàm ý rằng trong dòng chảy của thời gian không có gì đứng yên mãi mãi. Chính vì vậy tri thức, xã hội và cách con người sống cũng luôn biến chuyển. Trong bối cảnh ấy, tư duy linh hoạt giúp con người không bị đóng khung trong những khuôn mẫu cũ kỹ mà luôn sẵn sàng học hỏi và làm mới mình. Alvin Toffler từng nói rằng "Những người mù chữ của thế kỷ hai mươi mốt không phải là người không biết đọc biết viết, mà là người không biết học, bỏ cái cũ và học lại". Câu nói ấy khẳng định một chân lý của thời đại tri thức rằng khả năng học lại và thay đổi cách nghĩ chính là điều kiện để con người tồn tại và phát triển. Không chỉ giúp thích nghi với thay đổi, tư duy linh hoạt còn là nền tảng của sáng tạo. Khi con người biết nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, dám phá bỏ những giới hạn quen thuộc, họ sẽ tìm ra những con đường mới cho sự phát triển. Albert Einstein từng nhấn mạnh rằng "Không thể giải quyết vấn đề bằng chính kiểu tư duy đã tạo ra nó". Điều đó cho thấy muốn tiến bộ con người phải dám thay đổi cách suy nghĩ của mình. Sự linh hoạt trong tư duy giúp con người vượt khỏi những ranh giới quen thuộc để tạo ra những giá trị mới cho bản thân và cho xã hội. Tư duy linh hoạt còn giúp con người dung hòa giữa truyền thống và hiện đại trong một thế giới toàn cầu hóa. Người có tư duy linh hoạt biết tiếp thu cái hay của thế giới nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của mình. Đó chính là biểu hiện của trí tuệ trưởng thành trong thời đại mới. Quan sát tự nhiên cũng cho thấy khả năng thích nghi quyết định sự tồn tại. Charles Darwin cho rằng "Không phải loài mạnh nhất hay thông minh nhất tồn tại, mà là loài thích nghi tốt nhất với sự thay đổi". Sự mềm dẻo ấy chính là biểu hiện của khả năng thích nghi giúp con người vượt qua khó khăn và trưởng thành. Trong thực tế hiện đại, nhiều nhân vật tiêu biểu đã chứng minh sức mạnh của tư duy linh hoạt. Elon Musk không bó buộc mình trong một lĩnh vực cố định mà liên tục mở rộng từ xe điện Tesla đến vũ trụ với SpaceX rồi trí tuệ nhân tạo với xAI. Cách tư duy ấy cho thấy ông không chọn một chiếc lồng nghề nghiệp an toàn mà chọn theo đuổi những vấn đề lớn của thời đại. Cùng tinh thần ấy Steve Jobs đã kết hợp nghệ thuật và công nghệ để tạo nên chiếc iPhone mang tính cách mạng, chứng minh rằng sáng tạo thường nảy sinh từ những bộ óc không bị trói buộc bởi tư duy cứng nhắc. Ngược lại những người bảo thủ và cố chấp thường dễ bị bỏ lại phía sau. Trong một thế giới luôn vận động, tư duy cứng nhắc giống như con thuyền neo chặt vào bến cũ sớm muộn cũng bị dòng chảy của thời đại bỏ lại. Tuy nhiên linh hoạt không có nghĩa là thay đổi tùy tiện hay chạy theo mọi trào lưu mới. Con người có thể tiếp thu cái mới nhưng vẫn phải giữ vững những giá trị cốt lõi của mình. Ông cha ta cũng từng nói rằng "Cây có gốc mới nở cành xanh lá, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu". Sự linh hoạt chỉ có ý nghĩa khi được đặt trên nền tảng của tri thức và đạo đức vững chắc. Từ đó có thể thấy rằng trong thế kỷ hai mươi mốt, tư duy linh hoạt chính là năng lực sinh tồn của con người. Người biết thay đổi sẽ tìm thấy cơ hội trong khó khăn, còn người sợ thay đổi dễ bị bỏ lại phía sau. Albert Einstein từng nói rằng "Thước đo của trí tuệ là khả năng thay đổi". Khi con người vừa biết thích nghi với hoàn cảnh vừa giữ được những giá trị đúng đắn của mình, sự thay đổi sẽ trở thành động lực của tiến bộ. Quan điểm của Yuval Noah Harari vì thế không chỉ là một nhận định về thời đại mà còn là lời nhắc nhở rằng trong thế giới luôn biến động, linh hoạt không chỉ là kỹ năng mà còn là bản lĩnh giúp con người trưởng thành và phát triển bền vững.
Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
Câu 12 [1073034]:
Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở
để biết nỗi đau đã hoá thành ta
một phần không lìa bỏ
Nhưng chúng ta ở đây cũng đồng thời chứng tỏ
bản thân ta giàu sức mạnh hồi sinh
và tương lai luôn có chỗ cho mình
cũng như cho những con người can đảm
dám đối diện thay vì chán nản
xắn tay làm chứ không chịu ban ơn
biết mỉm cười thay vì chỉ thở than
kiên nhẫn đi tìm cánh cửa mình cần mở
Không hắt hủi cuộc đời, kể cả những nỗi đau
lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu
Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở…
(Chúng ta ở đây, phút này…, Nguyễn Bích Lan, Sống trong chờ đợi, Truyện ngắn và thơ, NXB Phụ nữ Việt Nam, tr 82)
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀIGiới thiệu tác giả: Nguyễn Bích Lan là nhà văn, dịch giả, đồng thời là người truyền cảm hứng mạnh mẽ bởi nghị lực sống phi thường khi sống chung với căn bệnh hiểm nghèo. Nhiều tác phẩm của chị vừa giàu giá trị nghệ thuật, vừa là tiếng lòng động viên con người vượt lên nghịch cảnh. Giới thiệu tác phẩm: bài thơ “Chúng ta ở đây, phút này…” nằm trong tập Sống trong chờ đợi, chứa đựng những suy ngẫm sâu sắc về con người, nỗi đau, sức mạnh nội tâm và ý nghĩa của sự sống. Khẳng định vấn đề nghị luận: bài thơ là lời tự nhắc, cũng là lời an ủi, cổ vũ, khẳng định bản lĩnh hồi sinh và ý nghĩa tồn tại của mỗi con người trong cuộc đời này.
II. THÂN BÀI
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác
- Nguyễn Bích Lan sinh năm 1976 là một cây bút đặc biệt của văn học đương đại Việt Nam. Chị được biết đến không chỉ như một nhà văn, dịch giả tài năng mà còn như một biểu tượng của nghị lực sống khi vượt lên căn bệnh loạn dưỡng cơ bằng tinh thần không đầu hàng số phận. Tự truyện Không gục ngã cùng nhiều bản dịch văn học giá trị đã khẳng định ở chị một bản lĩnh bền bỉ và một tâm hồn giàu nội lực. Chính trải nghiệm sống trong giới hạn của bệnh tật nhưng không buông xuôi đã làm nên chất suy tưởng sâu lắng trong sáng tác của chị. Thơ ca Nguyễn Bích Lan không thiên về phô bày cảm xúc bi lụy mà thường nghiêng về chiêm nghiệm, tự vấn và khẳng định giá trị sống. Trong những vần thơ của chị, nỗi đau không bị phủ nhận, nhưng cũng không trở thành bóng tối bao trùm. Thay vào đó là một giọng điệu điềm tĩnh, từng trải, luôn hướng về phía ánh sáng của niềm tin và ý nghĩa tồn tại.
- Bài thơ “Chúng ta ở đây, phút này…” có thể xem như sự kết tinh của tâm thế ấy. Tác phẩm ghi lại một khoảnh khắc tự ý thức khi con người nhận ra mình vẫn đang hiện diện trong hiện tại, vẫn còn thở, vẫn còn sống. Từ điểm tựa giản dị ấy, bài thơ mở ra hai chiều nhận thức song hành. Một mặt là sự thừa nhận nỗi đau đã trở thành một phần không thể tách rời của bản thân, con người và cuộc sống. Mặt khác là sự khám phá sức mạnh hồi sinh vẫn âm thầm vận động trong mỗi người. Chính sự song hành giữa nhận diện đau đớn và khẳng định nội lực ấy đã làm nên chiều sâu nhân sinh cho bài thơ, đồng thời phản chiếu rõ nét hành trình tinh thần của tác giả.
2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG
(*) Luận điểm 1: Thi nhân thừa nhận nỗi đau như một phần không thể tách rời của đời sống, sẵn sàng đối diện với những đau khổ mất mát trong cuộc sống như một lẽ tất yếu.Bài thơ mở ra từ một điểm tựa giản dị mà sâu sắc, đó là ý thức về sự hiện diện của chính mình trong hiện tại
“Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở
để biết nỗi đau đã hoá thành ta
một phần không lìa bỏ”
- Cụm từ “đang còn thở” nhấn mạnh trạng thái tồn tại ngay lúc này, một sự sống tưởng như bình thường nhưng lại vô cùng quý giá. Trong nhịp sống vội vã, con người dễ quên rằng chỉ cần còn thở đã là một điều đáng trân trọng, đáng quý. Tác giả không nói đến những điều lớn lao mà bắt đầu từ thực tại cụ thể của thân thể, của sự sống đang tiếp diễn. Chính từ điểm tựa ấy, con người có thể nhìn lại những gì đã trải qua và nỗ lực vượtqua những khó khăn, thử thách và cả những nỗi đau của cuộc sống. - Câu thơ “nỗi đau đã hoá thành ta” là một hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí. Nỗi đau không còn là một sự kiện bên ngoài, không phải một điều đến rồi đi, mà đã trở thành một phần không thể thiếu của mỗi người. Con người không đứng tách rời khỏi đau khổ, cũng không cố phủ nhận nó, mà chấp nhận rằng những tổn thương đã góp phần tạo nên mình của hiện tại. Đây là hình ảnh thơ mang tính chất đa nghĩa, nỗi đau ở đây là nỗi đau thể xác, đó cũng là nỗi đau tinh thần, hay cả những nỗi đau khổ, khó khăn, cơ cực trong cuộc đời. Sự mất mát không đối nghịch với hạnh phúc nhưng nó là điểm tựa để con người trở nên sâu sắc hơn, thấu hiểu hơn và bền bỉ hơn. Đó không phải là sự bi lụy mà là một thái độ tỉnh táo trước quy luật đời sống.
- Cụm từ “một phần không lìa bỏ” vang lên nhẹ nhàng nhưng thấm thía. Nó không mang sắc thái than trách hay oán hờn, mà thể hiện sự chấp nhận điềm tĩnh. Đau khổ được nhìn nhận như một phần tất yếu của hành trình sống. Khi con người đủ dũng khí để thừa nhận điều đó, họ không còn bị nỗi đau chi phối theo cách tiêu cực, mà có thể biến nó thành chất liệu cho sự trưởng thành. Chính thái độ đối diện ấy làm nên chiều sâu nhân sinh của đoạn thơ. Nỗi đau không bị phủ nhận, nhưng cũng không còn là bóng tối bao trùm, mà trở thành một phần của ý thức sống tỉnh táo và can đảm, xem nỗi đau như lẽ tất yêu của cuộc đời, thậm chí là động lực để vươn lên.
(*) Luận điểm 2: Thi nhân khẳng định con người luôn có sức mạnh của niềm tin và sự hồi sinh vượt qua nghịch cảnh, khó khăn
- Nếu ở những câu thơ đầu, tác giả bình thản thừa nhận nỗi đau như một phần không thể tách rời của đời sống, thì ngay sau đó, mạch thơ chuyển hướng một cách rõ rệt. Nỗi đau không dẫn đến tuyệt vọng, trái lại trở thành nền để con người nhận ra sức mạnh bền bỉ đang tồn tại trong chính mình
-“Nhưng chúng ta ở đây cũng đồng thời chứng tỏ
bản thân ta giàu sức mạnh hồi sinh
và tương lai luôn có chỗ cho mình…”
- Từ “nhưng” mở ra một thế đối lập đầy ý nghĩa, cái đối lập không phải để phủ nhận nỗi đau, mà để khẳng định một điều lớn hơn nỗi đau. Con người có thể mang trong mình tổn thương, nhưng con người không bị định nghĩa bởi tổn thương, đau đớn và mất mát. Điệp ngữ “chúng ta ở đây” được nhắc lại như lời khẳng định chắc nịch, khỏe khoắn vang lên như một lời xác nhận về sự tồn tại. Sự hiện diện của con người trong hiện tại không chỉ là một trạng thái thụ động, mà là một minh chứng để đối diện và vượt qua khổ đau. Còn ở đây nghĩa là còn chịu đựng, còn kiên trì, còn tiếp tục. Chỉ riêng việc vẫn đứng vững giữa đời đã là một câu trả lời mạnh mẽ trước nghịch cảnh.
- Cụm từ “giàu sức mạnh hồi sinh” đặc biệt giàu sức gợi. Tác giả không nói con người có một chút sức mạnh, mà nói “giàu”, nghĩa là dồi dào, tiềm tàng, có thể khơi dậy và tăng trưởng. “Hồi sinh” không chỉ là trở lại như cũ, mà là sống lại theo một cách trưởng thành hơn, bình tĩnh hơn, mạnh mẽ hơn. Đó là năng lực đứng dậy sau đổ vỡ, biến đau thương thành trải nghiệm, biến vết thương thành điểm tựa để bước tiếp. Trong cách nhìn ấy, nghịch cảnh không phải bức tường chặn lối, mà là thử thách để con người nhận ra nội lực của mình.
- Câu thơ “tương lai luôn có chỗ cho mình” đem đến một ánh sáng an ủi, thức tỉnh mà không hề ru ngủ. “Có chỗ” nghĩa là có cơ hội, có khả năng, có một khoảng mở cho sự cố gắng và thay đổi để vượtqua nghịch cảnh, khó khăn . Tương lai không khép lại, cũng không quay lưng với người biết kiên nhẫn sống và bền bỉ đi tới. Lời thơ vì thế vừa dịu dàng nâng đỡ vừa mạnh mẽ khích lệ. Nó nhắc rằng mọi nỗ lực trong hiện tại đều có ý nghĩa, và con người luôn có quyền tin vào một ngày mai khác, miễn là không từ bỏ chính mình.
- Qua những câu thơ này, nhà thơ Nguyễn Bích Lan khẳng định một niềm tin nhân văn. Nỗi đau là thật, nhưng sức mạnh hồi sinh cũng thật. Con người có thể bị thương, nhưng không nhất thiết phải gục ngã. Và chính việc còn ở đây, còn thở, còn bước tiếp là bằng chứng thuyết phục nhất cho nội lực kiên cường đang âm thầm nâng đỡ mỗi đời người.
(*) Luận điểm 3: Thi nhân ca ngợi những phẩm chất đẹp của con người, đó là sự can đảm, tinh thần chủ động, lòng kiên trì và tình yêu đời
- Sau khi khẳng định sức mạnh hồi sinh tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, bài thơ tiếp tục mở rộng thành một bản tuyên ngôn về cách sống. Không dừng lại ở niềm tin trừu tượng, tác giả cụ thể hóa niềm tin ấy bằng những phẩm chất và hành động rất rõ ràng
- “những con người can đảm
dám đối diện thay vì chán nản
xắn tay làm chứ không chịu ban ơn
biết mỉm cười thay vì chỉ thở than
kiên nhẫn đi tìm cánh cửa mình cần mở”
- Trước hết là đức tính can đảm. “Dám đối diện” là thái độ sống không trốn tránh, không phủ nhận thực tại. Đối diện nghĩa là nhìn thẳng vào khó khăn, thừa nhận giới hạn của mình và chấp nhận thử thách. Cách đặt bên cạnh cụm từ “thay vì chán nản” đã làm nổi bật sự lựa chọn, định hướng, thái độ đúng đắn của con người trước hoàn cảnh khó khăn. Con người luôn đứng trước hai khả năng, một là buông xuôi, hai là đứng vững và sẵn sàng đối diện với giông bão, chông gai. Lời thơ khẳng định giá trị của sự lựa chọn tích cực trong cuộc đời.- Tiếp đó là tinh thần chủ động. “Xắn tay làm” gợi hình ảnh cụ thể của hành động, của lao động, của sự dấn thân trong thực tế. Con người không chờ đợi sự cứu rỗi hay “ban ơn” từ người khác, mà tự mình bắt tay vào việc, tự mình thay đổi hoàn cảnh chứ không thụ động ỷ lại vào người khác. Động từ mạnh, giàu tính vận động này tạo nên nhịp điệu dồn dập, như thôi thúc người đọc bước ra khỏi trạng thái trì trệ hay buông xuôi trước những khó khăn, thử thách.
- “Biết mỉm cười thay vì chỉ thở than” lại mở ra một chiều sâu tinh thần lạc quan tích cực khi đối diện với cảnh khổ đau trong cuộc đời. Mỉm cười không phải là phủ nhận nỗi buồn, mà là thái độ giữ vững niềm tin giữa thử thách. Sự đối lập giữa “mỉm cười” và “thở than” làm rõ hai cách ứng xử trước khó khăn. Một bên là chủ động nuôi dưỡng hi vọng, một bên là chìm trong than vãn. Lựa chọn mỉm cười chính là lựa chọn giữ lại ánh sáng trong tâm hồn.
- Đặc biệt, hình ảnh “kiên nhẫn đi tìm cánh cửa mình cần mở” mang tính ẩn dụ đẹp đẽ. Cánh cửa tượng trưng cho cơ hội, cho lối đi riêng, cho ước mơ và giá trị sống cá nhân. Không phải cánh cửa nào cũng mở sẵn, và không phải ai cũng dễ dàng tìm thấy lối đi cho mình. Vì thế cần “kiên nhẫn”, cần bền bỉ bước đi, kiên trì trước bão giông. Câu thơ gợi một niềm tin thầm lặng rằng mỗi con người đều có con đường riêng, điều quan trọng là không ngừng tìm kiếm và không ngừng thử thách bản thân.
- Qua hệ thống động từ mạnh và các cặp đối lập giàu ý nghĩa, bài thơ đã vẽ nên hình ảnh con người hiện đại với phẩm chất đáng trân trọng. Đó là những con người biết đối diện thay vì trốn tránh, hành động thay vì than vãn, kiên trì thay vì buông xuôi. Ở đó, tinh thần yêu đời không phải là cảm xúc nhất thời, mà là một lựa chọn sống đầy bản lĩnh và trách nhiệm.
(*) Luận điểm 4: Khẳng định triết lý sống nhân văn chọn cách sống quan trọng hơn độ dài của sự sống. Qua đó khẳng định sống là chấp nhận, sẵn sàng đối diẹn với khó khăn, lựa chọn cho mình cách sống và thái độ sống tích cực, đúng đắn,và trân trọng từng giây phút hiện tại
Nếu những câu thơ trước ca ngợi sức mạnh hồi sinh và những phẩm chất đẹp của con người, thì ở đoạn cuối, bài thơ nâng lên thành một tuyên ngôn nhân sinh sâu sắc.
“Không hắt hủi cuộc đời, kể cả những nỗi đau
lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu”
Cách diễn đạt “không hắt hủi cuộc đời” nghe mộc mạc nhưng chứa đựng một thái độ sống đầy bao dung. Hắt hủi là phủ nhận, là quay lưng, là chối bỏ. Ở đây, tác giả không chỉ nói đến việc chấp nhận niềm vui, mà còn chấp nhận cả “những nỗi đau” nỗi khổ và cơ cực trong đời. Điều đó cho thấy một quan niệm sống trưởng thành và vững chắc, bình thản trưước bão giông, sóng gió. Cuộc đời không chỉ có ánh sáng, và việc đón nhận cả bóng tối chính là biểu hiện của bản lĩnh tinh thần vượt khó. Khi con người không còn oán trách, không còn phủ nhận thực tại, họ mới thực sự sống trọn vẹn với những gì mình có.Câu thơ “lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu” là điểm hội tụ tư tưởng sâu sắc của toàn bài. Tác giả đặt ra một so sánh giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Độ dài của đời người vốn là điều không thể hoàn toàn kiểm soát, nhưng cách sống lại nằm trong quyền lựa chọn của mỗi cá nhân. Giá trị cuộc đời không được đo bằng số năm tồn tại, mà bằng chất lượng của từng ngày đã sống. Sống can đảm, sống chủ động, sống tử tế và biết yêu thương có ý nghĩa hơn rất nhiều so với việc chỉ tồn tại kéo dài trong sợ hãi và than vãn. Đây là một chân lí nhân sinh lớn, càng thấm thía khi đặt trong hoàn cảnh của Nguyễn Bích Lan, người đã trải nghiệm bệnh tật và giới hạn thân thể nhưng vẫn lựa chọn sống tích cực và hữu ích.
Bài thơ khép lại bằng câu lặp lại như một vòng trở về
“Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở…”
Câu thơ vang lên như một nhịp điệu của sự sống. Sự lặp lại ấy tạo nên kết cấu vòng tròn, đưa người đọc trở về điểm khởi đầu nhưng với một nhận thức sâu sắc hơn. “Đang còn thở” không còn chỉ là sự tồn tại sinh học, mà là biểu tượng của hi vọng và khả năng thay đổi. Khi còn thở, con người còn có quyền lựa chọn thái độ sống, còn có thể làm điều tốt đẹp, còn có thể biến đau khổ thành ý nghĩa. Nhịp thơ nhẹ nhàng mà bền bỉ như nhịp thở, khiến sự sống hiện lên như điều mầu nhiệm nhất. Qua đó, bài thơ gửi gắm một thông điệp giản dị mà sâu xa. Chỉ cần còn hiện diện trong hiện tại, con người vẫn có cơ hội sống đúng, sống đẹp và sống có ý nghĩa.3. PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT
a. Thể thơ, giọng điệu
- Bài thơ được viết theo thể thơ tự do với số chữ, số câu linh hoạt, không gò bó vào niêm luật cố định. Sự dài ngắn đan xen của các dòng thơ tạo nên một nhịp điệu tự nhiên, phù hợp với mạch cảm xúc và suy tư triết lí đang tuôn chảy. Có những câu ngắn, dứt khoát như một lời khẳng định, lại có những câu dài mở rộng ý tưởng, như những dòng suy nghĩ đang lan tỏa trong tâm trí. Hình thức tự do ấy giúp nhà thơ diễn đạt trọn vẹn những chiêm nghiệm về nỗi đau, về sức mạnh hồi sinh và về lựa chọn sống mà không bị ràng buộc bởi khuôn khổ chặt chẽ của luật thơ truyền thống.
- Đặc biệt, bài thơ có kết cấu vòng tròn khi mở đầu và kết thúc đều vang lên câu “Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở”. Sự lặp lại này không đơn thuần tạo âm hưởng nhạc tính mà còn nhấn mạnh thông điệp cốt lõi của tác phẩm. Con người bắt đầu từ ý thức về sự hiện diện của mình và cũng trở về với ý thức ấy sau khi đi qua mọi suy tư. Kết cấu vòng tròn khiến bài thơ như một nhịp thở khép kín, nơi điểm kết cũng chính là điểm khởi đầu, nhấn mạnh rằng chỉ cần còn sống trong hiện tại, con người vẫn còn cơ hội lựa chọn cách sống của mình.Giọng điệu bài thơ mang sắc thái chiêm nghiệm sâu lắng nhưng đồng thời giàu tính truyền cảm hứng. Tác giả không hô hào, không lên giọng giáo huấn, mà trò chuyện bằng một giọng điềm tĩnh, từng trải. Những câu thơ như “đang còn thở”, “nỗi đau đã hoá thành ta” vang lên nhẹ nhàng như một lời tự nhủ, như tiếng nói nội tâm của người đã đi qua thử thách và đủ bình tĩnh để nhìn lại mình. Sự chiêm nghiệm ấy làm cho bài thơ có độ lắng, có chiều sâu suy tưởng.
b, Cấu tứ:
Bài thơ được tổ chức theo cấu tứ vận động từ nhận diện nỗi đau đến khẳng định sức mạnh hồi sinh và nâng lên thành triết lí sống nhân văn, đồng thời khép lại bằng kết cấu vòng tròn giàu ý nghĩa. Mở đầu từ ý thức về sự hiện diện “đang còn thở”, tác giả dẫn người đọc đến sự thừa nhận nỗi đau đã trở thành một phần của bản thể. Từ nền tảng ấy, mạch thơ chuyển sang khẳng định nội lực với “sức mạnh hồi sinh” và cụ thể hóa bằng những hành động tích cực như dám đối diện, xắn tay làm, kiên nhẫn đi tìm. Đỉnh cao tư tưởng nằm ở quan niệm “lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu”, nơi giá trị đời người được đo bằng cách sống chứ không phải thời gian tồn tại. Bài thơ khép lại bằng câu thơ lặp lại ban đầu, tạo kết cấu vòng tròn như một nhịp thở, nhấn mạnh rằng chỉ cần còn hiện diện trong phút này, con người vẫn có quyền lựa chọn sống đẹp và có ý nghĩa. Cấu tứ ấy không chỉ tạo nên sự liền mạch trong mạch cảm xúc mà còn giúp tư tưởng phát triển tự nhiên, hợp lí, từ trải nghiệm cá nhân đến triết lí phổ quát. Kết cấu vòng tròn làm tăng tính nhạc, tạo dư âm lắng đọng và khiến thông điệp của bài thơ trở nên sâu sắc, bền bỉ như chính nhịp thở của sự sống.
c. Ngôn ngữ và hệ thống biện pháp tu từ
- Ngôn ngữ bài thơ giản dị, gần gũi với đời sống thường ngày nhưng ẩn chứa chiều sâu triết lí. Tác giả sử dụng những từ ngữ quen thuộc như “đang còn thở”, “xắn tay làm”, “mỉm cười”, “kiên nhẫn đi tìm”, tạo cảm giác chân thành, tự nhiên, không lên gân mà vẫn giàu sức lay động. Chính sự mộc mạc ấy khiến thông điệp về nghị lực và cách sống trở nên thấm thía, như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà bền bỉ.
- Bài thơ vận dụng nhiều biện pháp tu từ để tăng sức biểu đạt. Điệp ngữ “Chúng ta ở đây” được lặp lại ở đầu và cuối tác phẩm vừa tạo âm hưởng ngân vang vừa nhấn mạnh ý thức hiện hữu trong khoảnh khắc hiện tại. Điệp cấu trúc trong những câu như “dám đối diện thay vì chán nản”, “biết mỉm cười thay vì chỉ thở than” làm nổi bật sự lựa chọn sống tích cực, đồng thời tạo nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ. Phép đối lập giữa “đối diện” và “chán nản”, “mỉm cười” và “thở than” giúp ý thơ trở nên rõ nét, khắc sâu hai thái độ sống trái ngược để người đọc tự suy ngẫm.
- Ngoài ra, hình ảnh ẩn dụ “nỗi đau đã hoá thành ta” gợi sự chuyển hóa từ tổn thương thành trải nghiệm sống, làm cho ý thơ mang sắc thái triết học sâu sắc. Hình ảnh “cánh cửa mình cần mở” cũng là một ẩn dụ đẹp, tượng trưng cho cơ hội, con đường riêng và khát vọng cá nhân. Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều động từ mạnh như “đối diện”, “xắn tay làm”, “đi tìm” tạo nên nhịp thơ giàu tính hành động, mang giọng điệu khích lệ và cổ vũ tinh thần chủ động. Nhờ hệ thống tu từ đa dạng nhưng được sử dụng tiết chế, bài thơ vừa giữ được vẻ trong sáng, tự nhiên, vừa tạo chiều sâu suy tưởng và sức truyền cảm mạnh mẽ, làm nổi bật thông điệp nhân văn về ý nghĩa của sự sống.
d. Hình ảnh thơ
- Hình ảnh thơ trong bài không cầu kì mà mang tính ẩn dụ, biểu tượng, góp phần làm nổi bật chiều sâu triết lí của tác phẩm. “Nỗi đau hoá thành ta” là một hình ảnh giàu sức gợi. Nỗi đau không còn là điều ở bên ngoài con người, mà đã chuyển hóa, thấm vào bản thể, trở thành một phần cấu thành nhân cách. Cách diễn đạt ấy cho thấy sự trưởng thành của cái tôi trữ tình, khi đau khổ không bị phủ nhận mà được tiếp nhận như chất liệu để hoàn thiện bản thân. Hình ảnh “sức mạnh hồi sinh” mang tính biểu tượng cho nội lực tinh thần của con người. Hồi sinh không chỉ là sống sót, mà là đứng dậy sau đổ vỡ, tái tạo niềm tin và ý nghĩa. Đây là một hình ảnh vừa mang sắc thái nhân sinh vừa gợi cảm hứng tích cực, khẳng định con người luôn tiềm ẩn khả năng vượt qua nghịch cảnh. Đặc biệt, “cánh cửa mình cần mở” là một ẩn dụ đẹp đẽ và giàu tính khích lệ. Cánh cửa tượng trưng cho cơ hội, cho lối đi riêng, cho những giá trị và ước mơ mà mỗi người phải tự tìm kiếm. Cánh cửa không tự mở ra, mà cần sự kiên nhẫn và chủ động. Hình ảnh ấy vừa cụ thể, gần gũi, vừa mở ra tầng nghĩa sâu rộng về hành trình tự lựa chọn cách sống của mỗi cá nhân.- Tổng kết nội dung và nghệ thuật:
- Về nội dung, bài thơ “Chúng ta ở đây, phút này…” khẳng định một triết lí sống nhân văn và sâu sắc. Từ việc thừa nhận nỗi đau như một phần không thể tách rời của đời sống, tác giả nâng lên thành niềm tin vào sức mạnh hồi sinh và khả năng lựa chọn cách sống của con người. Bài thơ ca ngợi những phẩm chất đẹp như can đảm, chủ động, kiên trì và yêu đời, đồng thời nhấn mạnh rằng giá trị của đời người không nằm ở độ dài của sự tồn tại mà ở cách ta sống từng khoảnh khắc. Chỉ cần còn hiện diện trong hiện tại, con người vẫn có quyền hi vọng, thay đổi và làm đẹp cuộc đời.
- Về nghệ thuật, tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ tự do giàu suy tưởng của Nguyễn Bích Lan. Thể thơ linh hoạt, kết cấu vòng tròn tạo âm hưởng như một nhịp thở bền bỉ của sự sống. Ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, giàu tính triết lí; hệ thống điệp ngữ, đối lập và ẩn dụ như “nỗi đau hoá thành ta”, “sức mạnh hồi sinh”, “cánh cửa mình cần mở” làm tăng sức gợi và chiều sâu tư tưởng. Giọng điệu chiêm nghiệm mà truyền cảm hứng đã tạo nên một bản tuyên ngôn nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ về ý nghĩa sống, để lại dư âm lắng đọng và khích lệ nơi người đọc.
III. KẾT BÀI
Khái quát: Bài thơ là một bản tuyên ngôn sống nhỏ bé nhưng sâu sắc, khẳng định sức mạnh nội tâm và khả năng hồi sinh của con người trong mọi hoàn cảnh. Khẳng định nghệ thuật: Sự giản dị, chân thành, ngôn ngữ giàu triết lý giúp thơ Nguyễn Bích Lan chạm tới trái tim người đọc. Mở rộng: thông điệp của bài thơ không chỉ dành cho những người mang bệnh, mà cho tất cả chúng ta những con người đang sống, đang đối diện với cuộc đời bằng trái tim can đảm.
Bài viết mẫu:
Nhà thơ Chế Lan Viên từng quan niệm “Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt / Một mật ngọt thành đòi vạn chuyến ong bay”. Một tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn được chắt lọc từ những trải nghiệm sâu sắc của đời sống và những chiêm nghiệm của tâm hồn. Nguyễn Bích Lan là nhà văn, dịch giả giàu nghị lực, người đã sống và sáng tạo trong hành trình vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, đồng thời truyền cảm hứng mạnh mẽ về niềm tin sống cho nhiều độc giả. Bài thơ Chúng ta ở đây, phút này… trong tập Sống trong chờ đợi là một minh chứng tiêu biểu cho tiếng nói ấy. Qua những câu thơ giàu suy tưởng, tác phẩm gợi mở triết lí sâu sắc về nỗi đau, sức mạnh hồi sinh và ý nghĩa của sự tồn tại, như một lời nhắc nhở và cổ vũ con người can đảm lựa chọn cách sống tích cực trước mọi thử thách của cuộc đời.
Nguyễn Bích Lan sinh năm 1976 là một cây bút đặc biệt của văn học đương đại Việt Nam. Chị không chỉ là nhà văn, dịch giả tài năng mà còn là biểu tượng của nghị lực sống khi vượt lên căn bệnh loạn dưỡng cơ bằng tinh thần không đầu hàng số phận. Tự truyện Không gục ngã cùng nhiều bản dịch giá trị đã cho thấy ở chị một bản lĩnh bền bỉ và một tâm hồn giàu nội lực. Chính những trải nghiệm sống trong giới hạn bệnh tật nhưng không buông xuôi đã tạo nên chiều sâu suy tưởng trong sáng tác của chị. Thơ Nguyễn Bích Lan không thiên về bi lụy mà nghiêng về chiêm nghiệm và khẳng định giá trị sống. Nỗi đau không bị phủ nhận nhưng cũng không trở thành bóng tối bao trùm, thay vào đó là giọng điệu điềm tĩnh, hướng về niềm tin và ý nghĩa tồn tại. Bài thơ Chúng ta ở đây, phút này… là sự kết tinh của tâm thế ấy. Từ nhận thức giản dị rằng con người vẫn đang sống, vẫn còn thở trong hiện tại, bài thơ mở ra hai chiều suy nghĩ song hành thừa nhận nỗi đau là một phần của đời sống, đồng thời khẳng định sức mạnh hồi sinh luôn tồn tại trong mỗi con người. Chính sự kết hợp giữa nhận diện nỗi đau và niềm tin vào nội lực ấy đã làm nên chiều sâu nhân sinh cho tác phẩm.
Bài thơ mở ra từ một nhận thức giản dị mà sâu sắc về sự hiện diện của con người trong khoảnh khắc hiện tại: “Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở/ để biết nỗi đau đã hoá thành ta/ một phần không lìa bỏ”. Cụm từ “đang còn thở” nhấn mạnh trạng thái tồn tại ngay lúc này. Hơi thở tưởng chừng bình thường nhưng lại vô cùng quý giá, bởi khi còn thở nghĩa là con người vẫn còn ở trong dòng chảy của đời sống, vẫn còn khả năng cảm nhận và trải nghiệm. Từ nhận thức giản dị ấy, con người có thể nhìn lại hành trình đã qua để nhận ra những mất mát và đau đớn đã từng trải. Nhà văn Nam Cao từng khẳng định rằng “Sống đã rồi hãy viết”. Câu nói ấy gợi ra một nguyên lí sâu xa của văn chương chân chính khi văn học luôn bắt rễ từ đời sống. Bởi vậy, câu thơ “nỗi đau đã hoá thành ta” mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. Nỗi đau không còn là điều thoáng qua bên ngoài mà đã thấm vào đời sống tinh thần, trở thành một phần cấu thành nên bản thể con người. Những va đập của số phận đôi khi không làm con người gục ngã mà còn giúp họ trưởng thành và sâu sắc hơn. Ở góc nhìn rộng hơn, nỗi đau không đối nghịch với hạnh phúc mà chính là phần bóng tối làm nổi bật ánh sáng của đời người. Nhà văn Virginia Woolf từng viết rằng “Văn chương không phải là liều thuốc an thần ru con người vào giấc ngủ uể oải mà là sắt nung bỏng rát đánh thức con người.” Văn học vì thế giúp con người nhận ra sự thật của đời sống và sức mạnh nội tâm để vượt qua khó khăn. Khi dám nhìn thẳng vào nỗi đau và chấp nhận nó như “một phần không lìa bỏ”, con người đã bước tới sự trưởng thành của tâm hồn. Cái nhìn ấy cũng gặp gỡ với suy ngẫm của Nguyễn Duy trong bài thơ Chợ: “Có đam mê nào giá rẻ không em/ lời tâm huyết chiết ra từ máu đỏ/ câu thơ thật đổi lấy đồng tiền giả/ vã mồ hôi sôi nước mắt thắt lòng…/ …có hạnh phúc nào giá rẻ không em?”. Câu hỏi ấy nhắc nhở rằng hạnh phúc không đến từ sự dễ dàng mà được hình thành từ nhọc nhằn và hi sinh. Cũng như trong bài thơ của Nguyễn Bích Lan, nỗi đau không phải điều cần né tránh mà là phần tất yếu của hành trình sống. Chính từ những trải nghiệm ấy, con người hiểu sâu hơn giá trị của cuộc đời và học cách bước tiếp bằng một tâm thế can đảm và tỉnh táo hơn.
Thạch Lam từng viết rằng “Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật để cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức.” Nhận định ấy gợi ra một yêu cầu tinh tế của văn chương chân chính. Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn khám phá vẻ đẹp ẩn sâu trong đời sống, đôi khi chính là vẻ đẹp của nghị lực con người sau những tổn thương. Trong bài thơ của Nguyễn Bích Lan, nỗi đau không phải điểm kết thúc của cảm xúc mà trở thành điểm khởi đầu để con người nhận ra sức mạnh nội tâm của mình: “Nhưng chúng ta ở đây cũng đồng thời chứng tỏ/ bản thân ta giàu sức mạnh hồi sinh/ và tương lai luôn có chỗ cho mình”. Từ “nhưng” mở ra một bước ngoặt ý nghĩa. Nó không phủ nhận nỗi đau mà thể hiện sự vượt lên nỗi đau. Điệp ngữ “chúng ta ở đây” vang lên như một lời khẳng định mạnh mẽ về sự tồn tại. Chỉ riêng việc còn hiện diện giữa những biến động của đời sống đã là minh chứng cho sức bền của con người. Xuân Diệu từng nói “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”, bởi vậy khi bài thơ nói đến “sức mạnh hồi sinh”, đó không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn là một nhận thức có tính khái quát về đời sống. Con người có thể bị tổn thương nhưng vẫn luôn tiềm ẩn khả năng đứng dậy và tiếp tục bước đi. Cụm từ “giàu sức mạnh hồi sinh” gợi một nguồn năng lượng tinh thần dồi dào trong mỗi con người. “Hồi sinh” không chỉ là trở lại như cũ mà là sống mạnh mẽ hơn sau những thử thách. Nhìn ở chiều sâu ấy, nghịch cảnh không phải bức tường chặn lối mà là thử thách giúp con người nhận ra nội lực của chính mình. Nhà văn Cao Hành Kiện từng nói rằng “Văn học chỉ phơi bày thực trạng đời sống con người và nêu lên những vấn đề nhân bản của nó.” Vì vậy, câu thơ “tương lai luôn có chỗ cho mình” không chỉ là lời tự nhủ của cá nhân mà còn là thông điệp nhân văn dành cho mọi con người đang đi qua khó khăn. Niềm tin vào khả năng hồi sinh của con người cũng được gợi ra trong thơ Nguyễn Minh Khiêm: “Tôi đã đọc đời mình trên lá/ có thể khổng lồ, có thể li ti/ dẫu còn tại một giây vẫn tươi niềm kiêu hãnh/ đã sinh ra/ chẳng sợ thử thách gì.” Dù sự tồn tại của con người có thể nhỏ bé như chiếc lá, nhưng chỉ cần còn sống, con người vẫn có quyền giữ niềm kiêu hãnh và niềm tin vào cuộc đời. Cũng như trong bài thơ của Nguyễn Bích Lan, sự sống không chỉ là tồn tại mà còn là hành trình bền bỉ vươn lên. Chính niềm tin ấy giúp con người vượt qua nghịch cảnh và tiếp tục bước đi về phía tương lai.
Sau khi khẳng định sức mạnh hồi sinh tiềm ẩn trong mỗi con người, mạch thơ tiếp tục mở rộng thành một tuyên ngôn về cách sống. Nhà thơ không dừng lại ở niềm tin khái quát mà cụ thể hóa bằng những phẩm chất đẹp của con người trong đời sống: “những con người can đảm/ dám đối diện thay vì chán nản/ xắn tay làm chứ không chịu ban ơn/ biết mỉm cười thay vì chỉ thở than/ kiên nhẫn đi tìm cánh cửa mình cần mở”. Tố Hữu từng nói rằng “Thơ trước hết là đời, sau đó mới là nghệ thuật.” Vì vậy những phẩm chất như sự can đảm, tinh thần hành động hay lòng kiên trì không phải là ý niệm trừu tượng mà được hun đúc từ chính những thử thách của đời sống. Khi đứng trước khó khăn, con người luôn phải lựa chọn cách ứng xử của mình. Chính những lựa chọn ấy làm nên phẩm giá con người. Trước hết là đức tính can đảm “Dám đối diện” là thái độ sống không trốn tránh thực tại, nhìn thẳng vào thử thách để tìm cách vượt qua. Cụm từ “xắn tay làm” gợi hình ảnh con người tự mình bắt tay vào việc, không chờ đợi sự “ban ơn” từ người khác. Giá trị của con người vì thế không nằm ở lời nói mà ở hành động và trách nhiệm với cuộc đời. Có thể liên hệ với hình ảnh gia đình nhỏ của anh cu Tràng trong truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân. Trong hoàn cảnh nạn đói năm 1945, khi cái chết đang cận kề từng mái nhà, những con người nghèo khổ ấy vẫn không buông xuôi trước số phận. Người vợ nhặt dọn dẹp, vun vén lại căn nhà. Bà cụ Tứ nói về những điều tốt đẹp của tương lai. Còn Tràng bỗng nhận ra bổn phận của mình đối với gia đình và cảm thấy yêu mến cuộc đời hơn. Chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, vẻ đẹp của con người càng hiện lên rõ nét. Đó là vẻ đẹp của niềm hi vọng và của ý chí sống, một vẻ đẹp bình dị mà cảm động. Câu thơ “biết mỉm cười thay vì chỉ thở than” lại gợi ra tinh thần lạc quan trước nghịch cảnh. Mỉm cười không phải phủ nhận nỗi buồn mà là giữ lại ánh sáng trong tâm hồn giữa khó khăn. Nhà phê bình Biêlinxki từng khẳng định rằng “Nhà thơ tư duy bằng hình tượng.” Vì vậy hình ảnh “cánh cửa mình cần mở” mang ý nghĩa biểu tượng đẹp đẽ cho cơ hội, cho con đường riêng và ước mơ của mỗi con người. Con đường ấy không phải lúc nào cũng sẵn có, vì thế con người cần kiên nhẫn và bền bỉ để tìm ra lối đi của mình. Tinh thần ấy cũng gặp gỡ với ý thơ của Nguyễn Minh Khiêm: “Tôi đã đọc đời mình trên lá/ có thể khổng lồ, có thể li ti/ dẫu còn tại một giây vẫn tươi niềm kiêu hãnh/ đã sinh ra/ chẳng sợ thử thách gì.” Dù sự tồn tại của con người có thể nhỏ bé, nhưng chỉ cần còn sống, con người vẫn có quyền giữ niềm kiêu hãnh của mình trước cuộc đời. Vì vậy, những phẩm chất mà bài thơ ca ngợi như sự can đảm, tinh thần hành động và lòng kiên trì chính là những giá trị làm nên vẻ đẹp của con người trong đời sống hiện đại. Bằng hệ thống động từ mạnh mẽ và những cặp đối lập giàu ý nghĩa, bài thơ đã khắc họa hình ảnh con người biết đối diện thay vì trốn tránh, hành động thay vì than vãn, kiên trì thay vì buông xuôi. Trong cách nhìn ấy, tinh thần yêu đời không phải cảm xúc nhất thời mà là một lựa chọn sống đầy bản lĩnh và trách nhiệm.
Nếu những câu thơ trước ca ngợi sức mạnh hồi sinh và những phẩm chất đẹp của con người thì ở đoạn cuối, bài thơ nâng cảm xúc lên thành một suy tư nhân sinh sâu sắc: “Không hắt hủi cuộc đời, kể cả những nỗi đau/ lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu”. Hoài Thanh từng nhận xét rằng “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Bởi vậy văn học không chỉ khơi gợi cảm xúc mà còn giúp con người nhận ra thái độ sống đúng đắn trước cuộc đời. Cách nói “không hắt hủi cuộc đời” nghe giản dị nhưng hàm chứa một triết lí sống bao dung và từng trải. Con người trưởng thành hiểu rằng cuộc đời không chỉ có niềm vui mà còn có cả những nỗi đau. Khi dám chấp nhận thực tại với sự bình tĩnh, con người sẽ tìm thấy sức mạnh để tiếp tục bước đi. Tinh thần ấy có thể liên hệ với hình tượng người đàn bà hàng chài trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Giữa nghèo đói và bạo lực gia đình, chị vẫn sống với sự nhẫn nại và vị tha. Sự chấp nhận ở đây không phải là đầu hàng mà là một cách sống tỉnh táo, nhân hậu trước những phức tạp của đời sống. Nhà văn Albert Camus từng viết rằng “Không có gì nâng đỡ tôi suốt cuộc đời trong những hoàn cảnh trái ngược nhất ngoài tư tưởng và bổn phận của người nghệ sĩ”. Tư tưởng chính là điểm tựa tinh thần giúp con người đứng vững trước nghịch cảnh. Vì vậy, câu thơ “lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu” trở thành điểm hội tụ tư tưởng của toàn bài. Độ dài của đời người đôi khi nằm ngoài khả năng kiểm soát, nhưng cách sống lại là điều mỗi cá nhân có thể lựa chọn. Sống can đảm, sống tử tế và sống có ích luôn có ý nghĩa hơn việc chỉ kéo dài sự tồn tại trong sợ hãi và than vãn. Bài thơ khép lại bằng sự lặp lại của câu thơ “Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở…”. Nam Cao từng nói rằng “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối”. Văn chương chân chính giúp con người nhìn thẳng vào thực tại nhưng đồng thời nhận ra ý nghĩa của việc sống. “Đang còn thở” không chỉ là trạng thái sinh học mà trở thành biểu tượng của hi vọng. Khi còn thở, con người còn có quyền lựa chọn cách sống của mình, còn có thể biến đau khổ thành ý nghĩa. Vì thế, bài thơ gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc: giá trị của đời người không nằm ở độ dài của thời gian mà ở cách con người sống, trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại và giữ vững phẩm giá trước mọi nghịch cảnh.
Hình thức nghệ thuật không phải lớp áo khoác bên ngoài nội dung mà là cách nội dung tự tìm lấy hình hài để tồn tại. Ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu không chỉ làm đẹp cho tác phẩm mà chính là nơi tư tưởng vận động và cảm xúc kết tinh. Khi hình thức và nội dung hòa làm một, nghệ thuật đạt tới độ chín thẩm mỹ và trở thành một chỉnh thể không thể tách rời. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do với số chữ và số câu linh hoạt, không gò bó trong niêm luật cố định. Sự dài ngắn đan xen của các dòng thơ tạo nên nhịp điệu tự nhiên, phù hợp với mạch cảm xúc và suy tư triết lí của tác giả. Có những câu thơ ngắn như một lời khẳng định chắc chắn, lại có những câu kéo dài như dòng suy nghĩ đang lan tỏa. Hình thức tự do ấy giúp nhà thơ diễn đạt trọn vẹn những chiêm nghiệm về nỗi đau, về sức mạnh hồi sinh và về cách lựa chọn sống. Xuân Diệu từng nói rằng “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Vì vậy thể thơ tự do ở đây không phải sự tùy tiện mà là một lựa chọn nghệ thuật giúp lời thơ vận động theo nhịp suy nghĩ và cảm xúc của con người. Bài thơ còn có kết cấu vòng tròn khi mở đầu và kết thúc đều vang lên câu “Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở”. Sự lặp lại ấy vừa tạo nhạc tính vừa nhấn mạnh thông điệp cốt lõi của tác phẩm. Con người bắt đầu từ ý thức về sự hiện diện của mình và cũng trở về với ý thức ấy sau khi đi qua mọi suy tư. Giọng điệu bài thơ mang sắc thái chiêm nghiệm sâu lắng nhưng giàu sức truyền cảm. Tác giả không lên giọng giáo huấn mà trò chuyện bằng giọng điềm tĩnh và từng trải. Nhà phê bình Biêlinxki từng nhận xét rằng “Thơ trước hết là sự rung động của tâm hồn trước cuộc sống”. Chính sự rung động lắng đọng ấy đã tạo nên sức thuyết phục tự nhiên cho bài thơ.
Bài thơ được tổ chức theo một cấu tứ vận động tự nhiên từ nhận diện nỗi đau đến khẳng định sức mạnh hồi sinh của con người rồi nâng lên thành triết lí sống mang ý nghĩa nhân văn. Mở đầu là ý thức về sự hiện diện của con người qua hình ảnh “đang còn thở”, từ đó dẫn đến sự thừa nhận rằng nỗi đau đã trở thành một phần của bản thể. Từ nền tảng ấy, mạch thơ tiếp tục khẳng định nội lực con người với “sức mạnh hồi sinh”, được cụ thể hóa bằng những hành động như dám đối diện, xắn tay làm, kiên nhẫn đi tìm con đường của mình. Đỉnh cao tư tưởng của bài thơ nằm ở quan niệm “lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu”, khẳng định giá trị đời người nằm ở cách sống chứ không phải ở độ dài thời gian. Nhà phê bình Hoài Thanh từng nói rằng “Thơ là tiếng nói của tâm hồn khi nó tìm thấy chính mình”. Cấu tứ của bài thơ cũng chính là hành trình con người nhận diện nỗi đau, khám phá sức mạnh nội tâm và tìm ra triết lí sống cho bản thân. Bài thơ khép lại bằng sự lặp lại câu thơ “Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở”, tạo nên dư âm lắng đọng. Khi còn hiện diện trong hiện tại, con người vẫn còn hi vọng và còn có quyền lựa chọn cách sống ý nghĩa cho đời mình.
Ngôn ngữ bài thơ giản dị, gần gũi với đời sống nhưng chứa đựng chiều sâu triết lí. Tác giả sử dụng những từ ngữ quen thuộc như “đang còn thở”, “xắn tay làm”, “mỉm cười”, “kiên nhẫn đi tìm”, tạo nên giọng điệu chân thành, tự nhiên như một cuộc trò chuyện nhẹ nhàng với chính mình. Nhờ cách diễn đạt mộc mạc ấy, những suy tư về nghị lực và thái độ sống trở nên gần gũi và dễ thấm vào tâm trí người đọc. Nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét rằng “Ngôn ngữ của thơ phải giản dị nhưng không tầm thường”. Quả thật, những từ ngữ quen thuộc trong bài thơ không chỉ mang nghĩa trực tiếp mà còn mở ra chiều sâu suy tưởng. “Đang còn thở” không chỉ là trạng thái sinh học mà còn gợi ý thức về sự hiện hữu của con người trong hiện tại, còn “xắn tay làm” lại gợi tinh thần chủ động trước cuộc đời. Bài thơ còn sử dụng nhiều biện pháp tu từ tạo sức biểu đạt mạnh mẽ. Điệp ngữ “Chúng ta ở đây” được lặp lại ở đầu và cuối bài vừa tạo âm hưởng ngân vang vừa nhấn mạnh ý thức hiện hữu trong khoảnh khắc sống. Điệp cấu trúc trong những câu như “dám đối diện thay vì chán nản”, “biết mỉm cười thay vì chỉ thở than” làm nổi bật sự lựa chọn sống tích cực. Nhà phê bình Biêlinxki từng nói rằng “Ngôn ngữ của thơ phải là ngôn ngữ của cảm xúc và tư tưởng”. Chính vì vậy, những cặp đối lập như “đối diện” và “chán nản”, “mỉm cười” và “thở than” không chỉ đối lập về từ ngữ mà còn đối lập về thái độ sống. Bên cạnh đó, các hình ảnh ẩn dụ như “nỗi đau đã hoá thành ta” hay “cánh cửa mình cần mở” cùng hệ thống động từ mạnh “đối diện”, “xắn tay làm”, “đi tìm” đã tạo nên nhịp thơ giàu tính hành động, khích lệ con người chủ động bước tiếp trong hành trình sống. Hình ảnh thơ trong bài giản dị nhưng giàu tính ẩn dụ và biểu tượng, góp phần làm nổi bật chiều sâu triết lí của tác phẩm. “Nỗi đau hoá thành ta” là một hình ảnh giàu sức gợi khi nỗi đau không còn ở bên ngoài mà đã thấm vào bản thể con người, trở thành trải nghiệm giúp con người trưởng thành. Nhà văn Dostoevsky từng viết rằng “Trong đau khổ có tư tưởng”. Chính những thử thách của đời sống khiến con người suy nghĩ sâu sắc hơn về bản thân và về ý nghĩa tồn tại. Bên cạnh đó, hình ảnh “sức mạnh hồi sinh” biểu tượng cho nội lực tinh thần bền bỉ của con người. Hồi sinh không chỉ là sống sót mà còn là khả năng đứng dậy sau những đổ vỡ. Đặc biệt, hình ảnh “cánh cửa mình cần mở” là một ẩn dụ đẹp về cơ hội và con đường riêng của mỗi người. Những hình ảnh thơ tuy giản dị nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng đã giúp bài thơ khẳng định một thông điệp nhân văn rằng mỗi con người đều có quyền lựa chọn cách sống của mình và chính sự lựa chọn ấy sẽ làm nên ý nghĩa của cuộc đời.
Bài thơ “Chúng ta ở đây, phút này…” khẳng định một triết lí sống nhân văn và sâu sắc. Từ việc thừa nhận nỗi đau như một phần tất yếu của đời sống, tác giả nâng lên thành niềm tin vào sức mạnh hồi sinh và khả năng lựa chọn cách sống của con người. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất đẹp như can đảm, chủ động, kiên trì và yêu đời, đồng thời nhấn mạnh rằng giá trị của đời người không nằm ở độ dài tồn tại mà ở cách ta sống từng khoảnh khắc hiện tại. Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ tự do giàu suy tưởng của Nguyễn Bích Lan. Thể thơ linh hoạt, kết cấu vòng tròn, ngôn ngữ giản dị mà giàu triết lí; các hình ảnh ẩn dụ như “nỗi đau hoá thành ta”, “sức mạnh hồi sinh”, “cánh cửa mình cần mở” cùng giọng điệu chiêm nghiệm đã tạo nên dư âm sâu lắng và truyền cảm hứng mạnh mẽ về ý nghĩa của sự sống.
Nhà phê bình Hoài Thanh từng nói rằng “Thơ là tiếng nói của tâm hồn khi nó tìm thấy chính mình”. Bài thơ “Chúng ta ở đây, phút này…” của Nguyễn Bích Lan chính là tiếng nói như thế. Tác phẩm như một bản tuyên ngôn sống nhỏ bé nhưng sâu sắc, khẳng định sức mạnh nội tâm và khả năng hồi sinh của con người trước mọi nghịch cảnh. Bằng ngôn ngữ giản dị, chân thành mà giàu triết lí, bài thơ chạm tới trái tim người đọc và để lại dư âm lắng đọng về giá trị của sự sống. Thông điệp ấy không chỉ dành cho những con người mang bệnh như tác giả, mà cho tất cả chúng ta những người đang sống, đang thở và đang học cách đối diện với cuộc đời bằng một trái tim can đảm.