Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
Đó là kết luận được PGS.TS Phạm Quý Giang (trường Đại học Hạ Long) và TS. Rajendra Khanal (Viện Công nghệ Tokyo, Nhật Bản) đưa ra trong bài báo “What next for marine ecosystem management in Vietnam: assessment of coastal economy, climate change, and policy implication” được đăng tải trên Environmental Research Communications.
Các nhà khoa học đã xem xét các tài liệu về hệ sinh thái biển, kinh tế ven biển, san hô và các chính sách của chính phủ về quản lý môi trường biển tại Việt Nam. Họ cũng thực hiện một số cuộc khảo sát tại Quảng Ninh, Nha Trang, Vũng Tàu, Quảng Ngãi nhằm đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái biển ven bờ, đặc biệt là các rạn san hô. Theo đó, nhóm nghiên cứu nhận thấy tình trạng phân mảnh, suy thoái, mất môi trường sống, đánh bắt – khai thác quá mức, biến đổi khí hậu và ô nhiễm – đặc biệt là rác thải biển, là mối đe dọa đối với sức khỏe đại dương của Việt Nam.
Hệ quả là các rạn san hô ở Việt Nam đang bị suy thoái và số lượng san hô giảm mạnh. Theo báo cáo “Hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2020” của Bộ TN&MT, diện tích thảm cỏ biển từ Quảng Ninh đến Hà Tiên ước tính giảm khoảng 40-60%; diện tích rừng ngập mặn giảm khoảng 70%; khoảng 11% diện tích các rạn san hô đã bị phá hủy hoàn toàn, không có khả năng tự phục hồi. Ở một số khu vực như Cát Bà, Hạ Long, Quảng Nam, thảm cỏ biển gần như không có cơ hội phục hồi tự nhiên do bị ảnh hưởng nặng nề từ hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản. Trong khi đó, diện tích rạn san hô bị mất tập trung chủ yếu ở các khu vực có người sinh sống như Vịnh Hạ Long, các tỉnh ven biển miền Trung và một số đảo có người ở thuộc quần đảo Trường Sa, có nhiều khu vực mất hơn 30% độ che phủ san hô. “Hiện nay, mặc dù Việt Nam đã trồng và phục hồi san hô ngoài tự nhiên thành công nhưng diện tích phục hồi vẫn còn rất thấp”, nhóm nghiên cứu nhận định.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận khoảng 100 loài sinh vật biển ở Việt Nam có nguy cơ bị đe dọa do khai thác, đánh bắt quá mức. Đây là những loài quý hiếm đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ IUCN và cần được bảo vệ. Nghiên cứu cho thấy hơn 80% cá ở vùng biển ven bờ và xa bờ của Việt Nam đã bị khai thác, trong đó có tới 25% cá bị khai thác quá mức hoặc cạn kiệt, và nhiều loài sinh vật biển khác có nguy cơ tuyệt chủng.
Đến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định việc bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên và kiểm soát ô nhiễm, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động bảo vệ môi trường biển nói chung và bảo vệ hệ sinh thái biển nói riêng. Ví dụ, bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào có hành vi gây ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy thoái đa dạng sinh học biển đều phải bị xử lý theo pháp luật và phải chịu trách nhiệm khắc phục, phục hồi và bồi thường thiệt hại. Nội dung nguyên tắc đã được ghi lại tại Điều 63 Hiến pháp 2013.
• Đ1: Vai trò của hệ sinh thái biển và tình trạng suy thoái.
• Đ2: Nhu cầu hoàn thiện pháp luật, chế tài mạnh.
• Đ3: Giới thiệu nghiên cứu và kết luận.
• Đ4: Phương pháp và địa điểm khảo sát, các đe dọa.
• Đ5: Suy thoái san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn và ví dụ địa phương.
• Đ6: Số loài bị đe dọa, mức độ khai thác cá.
• Đ7: Khung pháp lý, dẫn Điều 63 Hiến pháp 2013.
Câu 1: Đáp án đúng: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ1: “Các hệ sinh thái biển đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch và môi trường của Việt Nam. Tuy nhiên… đang bị suy thoái nhanh chóng do sự khai thác quá mức… ô nhiễm… biến đổi khí hậu.”Giải thích – suy luận: Hệ sinh thái biển vừa giữ vai trò kinh tế – xã hội then chốt vừa đang suy thoái mạnh, nên việc quản lý khẩn trương nhằm bảo vệ phát triển và sinh kế cộng đồng là điều tất yếu. Phương án A, C nêu các yếu tố không được văn bản đặt làm trọng tâm; D mâu thuẫn với thực tế “suy thoái nhanh chóng”. Đáp án: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ4: “Các nhà khoa học… thực hiện một số cuộc khảo sát tại Quảng Ninh, Nha Trang, Vũng Tàu, Quảng Ngãi nhằm đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái biển ven bờ…”Giải thích – suy luận: Nghiên cứu không chỉ tổng hợp tài liệu mà còn gắn với khảo sát địa phương đa vùng, cho thấy đánh giá hiện trạng cần dựa trên dữ liệu thực địa cụ thể theo từng khu vực. A và D thu hẹp hoặc lệch hướng; B gán mục tiêu “ưu tiên vùng đông đúc” mà văn bản không nói. Đáp án: C
Dẫn chứng – vị trí: Đ5: “diện tích thảm cỏ biển… giảm khoảng 40–60%; diện tích rừng ngập mặn giảm khoảng 70%; khoảng 11% diện tích rạn san hô đã bị phá hủy hoàn toàn, không có khả năng tự phục hồi… nhiều khu vực mất hơn 30% độ che phủ san hô.”Giải thích – suy luận: Thảm cỏ biển, rừng ngập mặn và san hô là trụ cột cân bằng sinh thái biển. Suy giảm lớn, kèm phần không thể tự phục hồi, dẫn đến suy yếu “sức đề kháng sinh học” và mất cân bằng hệ. Phương án B nêu đúng hệ quả sinh thái cốt lõi; A, C thiên về du lịch hay khẳng định “không có khả năng phục hồi” cho toàn hệ mà văn bản chỉ nói ở một phần; D thêm yếu tố loài du nhập không có trong đoạn chứng cứ. Đáp án: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ5: sau khi nêu suy thoái diện rộng và mất mát lớn; Đ6 nối tiếp bức tranh suy giảm sinh vật. Đ5 cũng khẳng định: “mặc dù Việt Nam đã trồng và phục hồi san hô ngoài tự nhiên thành công nhưng diện tích phục hồi vẫn còn rất thấp.” Giải thích – suy luận: Quy mô suy thoái lớn và tốc độ mất mát cao khiến phần phục hồi hiện tại chưa đủ để tạo chuyển biến đáng kể. Do đó nhấn mạnh “vẫn còn rất thấp” nhằm chỉ ra khoảng cách giữa nỗ lực và mức suy thoái. A, C, D đưa thêm lý do không có trong văn bản. Đáp án: B
Dẫn chứng – vị trí: Đ7: “bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào có hành vi gây ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên… đều phải bị xử lý theo pháp luật và phải chịu trách nhiệm khắc phục, phục hồi và bồi thường thiệt hại. Nội dung nguyên tắc đã được ghi lại tại Điều 63 Hiến pháp 2013.” Giải thích – suy luận: Trích dẫn Hiến pháp khẳng định nghĩa vụ pháp lý ràng buộc, không chỉ là lời kêu gọi đạo đức. B, C, D thu hẹp hoặc sai lệch phạm vi trách nhiệm mà Điều 63 quy định cho cả tổ chức và cá nhân. Đáp án: A
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.
VĂN BẢN 2:
Làm trống tâm trí là gì?
Khi chúng ta thức, tâm trí chúng ta chuyển từ trạng thái tinh thần này sang trạng thái tinh thần khác, phần lớn các trạng thái tinh thần này được đặc trưng bởi "nội dung". Những nội dung này là các chủ đề trong tâm trí chúng ta những thứ và ý tưởng mà trạng thái tinh thần của chúng ta "hướng đến". Mặc dù tâm trí chúng ta thường chuyển đổi liền mạch từ trạng thái tinh thần này sang trạng thái tinh thần khác, và do đó từ nội dung này sang nội dung khác, nhưng có một số trường hợp tâm trí chúng ta tình cờ đạt đến trạng thái tinh thần mà không có bất kỳ nội dung nào có thể nhận ra hoặc báo cáo được.
Đó là định nghĩa của trạng thái mất trí nhớ, đôi khi cũng được định nghĩa là sự vắng mặt của suy nghĩ hoặc sự vắng mặt của nhận thức. Thật vậy, mặc dù tất cả chúng ta đều đã trải qua những khoảnh khắc này trong suy nghĩ của chính mình, nhưng trạng thái mất trí nhớ lại rất khó định nghĩa, một số nhà khoa học thậm chí còn mô tả nó như một dạng buồn ngủ.
Khó định nghĩa trạng thái trống rỗng trí óc, cũng khó nghiên cứu trạng thái này. Bắt đầu xem xét những gì các nhà nghiên cứu đã tiết lộ về trạng thái trống rỗng trí óc cho đến nay, các tác giả của bài viết mới xu hướng trong khoa học nhận thức đã xem xét những thay đổi về mặt sinh lý, thần kinh và nhận thức của chúng ta xảy ra khi trí óc chúng ta trống rỗng. Athena Demertzi, tác giả của bài báo và là nhà khoa học thần kinh tại Đại học Liège, Bỉ, cho biết theo thông cáo báo chí: "Chúng tôi tìm cách hiểu rõ hơn về hiện tượng tâm trí trống rỗng bằng cách phân tích 80 bài báo nghiên cứu có liên quan bao gồm một số bài báo của chúng tôi trong đó chúng tôi ghi lại hoạt động não của những người tham gia khi họ báo cáo rằng họ 'không nghĩ gì cả'"
Sự trống rỗng của tâm trí trên cơ thể và não bộ
Tiết lộ tần suất xảy ra, các tác giả nhận thấy rằng tình trạng mất trí nhớ xảy ra với tần suất khoảng 5 đến 20% trong các nghiên cứu hiện có. Họ cũng nhận thấy rằng tình trạng mất trí nhớ thường xảy ra vào cuối các nhiệm vụ chú ý liên tục hoặc sau đó, và cũng sau các giai đoạn thiếu ngủ và hoạt động thể chất.
Không chỉ vậy, nhóm nghiên cứu cũng cho rằng việc xóa trí nhớ liên tục có liên quan đến những thay đổi về mặt sinh lý và thần kinh trong nhịp tim, kích thước đồng tử và hoạt động não của con người. Liên quan đến những thay đổi sau là sự suy giảm về tốc độ và độ phức tạp của sóng não, rất giống với sự suy giảm được thấy ở não khi ngủ hoặc não vô thức.
Các nhà nghiên cứu nói thêm rằng các loại trống rỗng tâm trí khác nhau có liên quan đến các loại hoạt động não khác nhau, với việc trống rỗng tâm trí trong các nhiệm vụ chú ý liên tục xuất hiện khác nhau trong não so với việc trống rỗng tâm trí trong khi nghỉ ngơi. Và ngoài những thay đổi về mặt sinh lý và thần kinh, các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy nhiều thay đổi về nhận thức liên quan đến việc trống rỗng tâm trí, bao gồm cả sự mất tập trung, trí nhớ và lời nói bên trong.
Nguồn: Discovermagazine.com
Đáp án: B
Giải thích chi tiết
🔎 Căn cứ văn bản – đoạn [1]:
“Thế giới cần đầu tư 4.500 tỷ USD/năm...”
“Để hiện thực hóa mục tiêu này là điều không dễ dàng.”
Suy luận → khó khăn không phải do công nghệ hay thị trường, mà do quy mô đầu tư quá lớn và tiến độ thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu.
Loại các đáp án sai:
A – Không phải vấn đề chính được nhấn mạnh. C – Văn bản cho biết người dân ủng hộ năng lượng tái tạo (đoạn [4]). D – Không nêu trong văn bản. Đáp án: B
Đáp án: B
Giải thích:
🔎 Đoạn [3]:
“Các công nghệ năng lượng sạch đang đảm nhận một phần ba lượng cắt giảm khí thải cần đạt đến 2030.”
Đây chính là lý do “đảo ngược xu hướng nóng lên”.
Loại nhiễu:
A – Chưa có công nghệ nào thay thế hoàn toàn. C – Không có thông tin. D – Không được nêu trong văn bản.
Đáp án: B
Đáp án: B
Giải thích:
🔎 Đoạn [5]:
Các quốc gia mở rộng nhiên liệu hóa thạch dù đã cam kết giảm khí thải.
“Không phù hợp với mục tiêu phi carbon hóa…”
→ Suy luận: Cam kết nói một đằng, hành động làm một nẻo.
A – Sai vì tình trạng hiện tại là “chưa đủ nhanh”.C – Sai vì văn bản nói ngược lại.D – Sai vì nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm 77% (đoạn [5]). Đáp án: B
Đáp án: C
Giải thích:
🔎 Tổng hợp đoạn [1], [5], [6], [7], [8]:
Thiếu tài chính (đoạn [1])
Lệ thuộc nhiên liệu hóa thạch (đoạn [5])
Tiến độ giảm khí thải chậm (đoạn [6])
Năng lực mỗi nước khác nhau + yêu cầu viện trợ (đoạn [8])
→ Thách thức là tổng hợp nhiều yếu tố, không phải chỉ 1 nguyên nhân.
Các đáp án khác chỉ nêu 1 yếu tố, không đủ. Đáp án: C
Đáp án: B
Giải thích:
🔎 Đoạn [7]:
“Các nước giàu phải đặt mục tiêu sớm hơn 5 năm...” → Điều này chỉ hợp lý khi họ chịu trách nhiệm lớn hơn và có năng lực hơn.
A – Không có trong văn bản. C – Không đúng (nước giàu cũng dùng nhiên liệu hóa thạch nhiều). D – Hoàn toàn sai (họ chưa hoàn tất).
→ B chính xác nhất.
Đáp án: B
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc tìm ra câu hỏi cần đặt ra trước những vấn đề của cuộc sống.
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Trong hành trình học tập, nghiên cứu và khám phá cuộc sống, con người không chỉ cần có tri thức mà còn cần biết đặt ra những câu hỏi đúng. Nhà sáng lập Tesla và SpaceX – Elon Musk – từng nói: “Một trong những điều thực sự khó khăn là tìm ra câu hỏi cần đặt ra. Một khi bạn tìm ra câu hỏi, câu trả lời sẽ tương đối dễ dàng.” Câu nói chứa đựng một chân lý sâu sắc: biết đặt câu hỏi đúng là khởi đầu của tư duy đúng, là nền tảng của sáng tạo và tiến bộ.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích
“Tìm ra câu hỏi cần đặt ra” nghĩa là xác định đúng bản chất vấn đề, biết đặt ra những thắc mắc trọng tâm, có ý nghĩa và định hướng cho việc tìm kiếm lời giải. → Elon Musk muốn nhấn mạnh rằng trong mọi lĩnh vực, khả năng nhận diện vấn đề và đặt ra câu hỏi đúng là yếu tố quyết định cho việc tìm ra hướng giải quyết hiệu quả.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
▪ Cuộc sống đa dạng, muôn màu, chứa đựng vô vàn những kiến thức và những điều mà con nguời cần phải học hỏi và khám phá. Chưa kể trong đời sống cá nhân của mỗi người, từ kiến thức, kinh tế, kỹ năng, bài học hoặc những lựa chọn đúng đắn chúng ta đều phải học tập và đưa ra quyết định phù hợp. Thế nên tư duy độc lập hay cách đặt câu hỏi là vô cùng quan trọng và cần thiết.
▪ Đặt câu hỏi đúng giúp con người nhìn thấy bản chất vấn đề, mở rộng hiểu biết tri thức trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiều người thất bại không phải vì thiếu câu trả lời, mà vì họ đang trả lời cho những câu hỏi sai. Chỉ khi đặt câu hỏi đúng, ta mới định hướng được tư duy và hành động đúng, mới mở ra được phương pháp học tập, chiếm lĩnh tri thức trong cuộc sống.
▪ Trong cuộc sống con người không thể thành công nếu thiếu sáng tạo, biết đặt câu hỏi là nền tảng của sáng tạo và phát minh ra những vấn đề mới, những tiến bộ mới trong đời sống. Mọi tiến bộ khoa học đều bắt đầu bằng một câu hỏi. Khi Newton tự hỏi “Vì sao quả táo rơi?”, ông đã mở ra định luật vạn vật hấp dẫn, thay đổi nhận thức nhân loại.
▪ người biết đặt câu hỏi là người chủ động trong tư duy, có tư duy phản biện, có lập luận và có thể tự bảo vệ mình trước những quan điểm sai lầm. Trong học tập hay công việc, người giỏi không chỉ học thuộc câu trả lời, mà biết chất vấn, phản biện, và mở rộng vấn đề đó là biểu hiện của tư duy độc lập và trưởng thành trí tuệ.
▪ Khi chúng ta biết đặt câu hỏi chính là lúc chúng ta đang học cách thấu hiểu bản thân và cuộc sống, và đây là kĩ năng vô cùng quan trọng của mỗi người trong cuộc đời. Như khổng tử nói; biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng...
▪ Một xã hội sẽ phát triển bền vững nếu như con người luôn có sự phát triển sâu sắc về tư duy. Khi chúng ta phát triêrn rộng mở tri thức sẽ có cách đóng góp cho xã hội phát triển mạnh mẽ.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
Nhà bác học Albert Einstein từng nói: “Nếu tôi có một giờ để giải quyết vấn đề, tôi sẽ dành 55 phút để tìm ra câu hỏi đúng và chỉ 5 phút để tìm lời giải.” Trong lĩnh vực công nghệ, Elon Musk đã đặt ra câu hỏi “Làm thế nào để nhân loại có thể sống trên các hành tinh khác?”, từ đó khai sinh SpaceX công ty tiên phong trong lĩnh vực hàng không vũ trụ tư nhân. Trong đời sống, những người thành công thường là người biết tự hỏi “Tôi có thể làm tốt hơn điều gì?”, “Điều gì thực sự có ý nghĩa?”, thay vì chỉ chấp nhận thực tại.
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
Tuy nhiên, nhiều người hiện nay chỉ chăm chăm đi tìm câu trả lời mà quên mất bước quan trọng là xác định câu hỏi đúng. Họ học thuộc lòng tri thức mà không tư duy, dẫn đến sự thụ động, máy móc và không hiểu bản chất, bởi vậy con người thường chỉ là con người của lí thuyết chứ không phải tư duy thực tế. Ngược lại, đặt quá nhiều câu hỏi vô định, thiếu mục tiêu cũng khiến tư duy rối loạn, lan man, khiến mỗi chúng ta mất nhiều thời gian và không xác định được mục đích sống của chính mình . Vì vậy, cần biết đặt câu hỏi đúng lúc, đúng trọng tâm, hướng tới giá trị thực tế.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
Mỗi người cần rèn luyện tư duy phản biện và kỹ năng đặt câu hỏi. Đặt câu hỏi không phải để hoài nghi vô ích, mà để hiểu sâu hơn, làm rõ hơn vấn đề. Đồng thời học cách đặt câu hỏi đúng lúc, đúng nội dung để rèn luyện tư duy phản biện phù hợp. Trong học tập, hãy dám hỏi “Tại sao?”, “Nếu khác đi thì sao?”, để kích hoạt tư duy độc lập, khả năng phản biện trong cuộc sống. Trong cuộc sống, hãy tập trung vào những câu hỏi mang lại giá trị: “Điều gì giúp tôi phát triển?”, “Lựa chọn nào khiến tôi sống có ý nghĩa hơn?”.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Quan điểm của Elon Musk nhắc nhở chúng ta rằng sự thông minh không nằm ở việc có bao nhiêu câu trả lời, mà ở việc biết đặt ra câu hỏi nào. Chỉ khi dám chất vấn, dám truy tìm bản chất vấn đề, con người mới thật sự phát triển trí tuệ, sáng tạo và tiến xa hơn trên con đường khám phá thế giới cũng như chính mình.
Đoạn viết tham khảo:
Trong hành trình học tập, nghiên cứu và khám phá cuộc sống, con người không chỉ cần tri thức mà còn cần khả năng đặt ra những câu hỏi đúng. Elon Musk cho rằng "Một trong những điều thực sự khó khăn là tìm ra câu hỏi cần đặt ra. Một khi bạn tìm ra câu hỏi, câu trả lời sẽ tương đối dễ dàng". Câu nói nhấn mạnh rằng biết đặt câu hỏi đúng chính là điểm khởi đầu của tư duy đúng và là nền tảng của sáng tạo cũng như tiến bộ. Tìm ra câu hỏi cần đặt ra có nghĩa là nhận diện đúng bản chất của vấn đề, biết đặt những thắc mắc trọng tâm để định hướng cho quá trình tìm kiếm tri thức và giải pháp. Trong một thế giới phức tạp và đa chiều như đời sống hôm nay, năng lực đặt câu hỏi trở thành một phẩm chất trí tuệ quan trọng của con người hiện đại. Albert Einstein từng nhắc nhở: "Điều quan trọng là đừng ngừng đặt câu hỏi". Chính trong sự tò mò và khát vọng tìm hiểu ấy mà trí tuệ con người được đánh thức và thế giới mở ra những chân trời mới, đột phá, mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Đặt câu hỏi đúng giúp con người nhìn thấy bản chất của vấn đề và định hướng hành động một cách đúng đắn. Thực tế cho thấy nhiều người thất bại không phải vì thiếu câu trả lời mà vì họ đang trả lời cho những câu hỏi sai. Khi câu hỏi đúng được đặt ra, tư duy sẽ có phương hướng rõ ràng và con đường giải quyết cũng dần sáng tỏ. "Sự khôn ngoan bắt đầu từ việc biết đặt câu hỏi"Socrates . Bởi vậy, trong lịch sử khoa học, nhiều bước tiến lớn của nhân loại đều bắt đầu từ một câu hỏi tưởng như giản dị. Khi Isaac Newton tự hỏi vì sao quả táo rơi xuống đất, ông đã khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn và mở ra một chương mới trong nhận thức của con người về vũ trụ. Nhà bác học Albert Einstein từng nói "Nếu tôi có một giờ để giải quyết vấn đề, tôi sẽ dành 55 phút để tìm ra câu hỏi đúng và chỉ 5 phút để tìm lời giải". Câu nói ấy không chỉ là kinh nghiệm của một nhà khoa học mà còn là một triết lí tư duy sâu sắc. Khi câu hỏi đã chạm tới bản chất của vấn đề thì con đường tìm ra lời giải gần như đã được mở ra một nửa. Bởi lẽ tư duy của con người giống như dòng nước, nếu không có hướng chảy đúng thì càng cố gắng càng dễ đi lạc. Chính vì vậy việc xác định câu hỏi đúng thực chất là quá trình nhận diện đúng vấn đề, từ đó giúp trí tuệ tập trung vào điều cốt lõi thay vì sa vào những chi tiết vụn vặt. Điều đó cho thấy sáng tạo không bắt đầu từ câu trả lời mà bắt đầu từ một câu hỏi đúng. Người biết đặt câu hỏi cũng là người có tư duy độc lập và tinh thần phản biện. Họ không tiếp nhận tri thức một cách thụ động mà luôn suy nghĩ, phân tích và kiểm chứng bằng các giải pháp khác nhau. Trong học tập cũng như trong công việc, người thực sự giỏi không phải là người ghi nhớ nhiều câu trả lời mà là người biết đặt vấn đề, biết mở rộng suy nghĩ và tìm kiếm bản chất của sự việc. Voltaire từng nói rằng "Hãy đánh giá một con người qua những câu hỏi họ đặt ra chứ không phải qua những câu trả lời họ đưa ra". Điều đó cho thấy khả năng đặt câu hỏi chính là thước đo chiều sâu của trí tuệ. Stephen Hawking cũng từng khuyến khích con người rằng "Hãy nhìn lên các vì sao chứ đừng nhìn xuống chân mình. Hãy tò mò". Chính sự tò mò ấy đã mở ra những chân trời tri thức mới cho nhân loại. Tuy nhiên trong đời sống thực tế, nhiều người lại quen tìm kiếm câu trả lời có sẵn mà quên mất việc đặt câu hỏi đúng. Họ học thuộc tri thức nhưng thiếu suy nghĩ và phản biện nên tri thức trở nên khô cứng và xa rời thực tiễn. Tuy vậy đặt câu hỏi cũng cần có định hướng và mục tiêu rõ ràng. Nếu đặt câu hỏi một cách lan man và thiếu trọng tâm, tư duy sẽ trở nên rối loạn. Francis Bacon từng nói rằng "Một câu hỏi đúng có thể dẫn đến nửa câu trả lời". Điều đó cho thấy câu hỏi đúng chính là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa tri thức. Vì thế mỗi người cần rèn luyện thói quen đặt câu hỏi như một năng lực của trí tuệ. Trong học tập hãy mạnh dạn đặt ra những câu hỏi như vì sao sự việc xảy ra, nếu thay đổi góc nhìn thì điều gì sẽ khác. Trong cuộc sống hãy tự hỏi điều gì giúp bản thân trưởng thành hơn và điều gì thực sự có ý nghĩa với cuộc đời mình. Khi con người biết đặt ra những câu hỏi đúng cho bản thân, mỗi câu hỏi sẽ trở thành kim chỉ nam dẫn dắt suy nghĩ và hành động. Quan điểm của Elon Musk vì thế nhắc nhở rằng trí tuệ không nằm ở việc có bao nhiêu câu trả lời mà nằm ở khả năng đặt ra câu hỏi đúng. Chỉ khi dám chất vấn và truy tìm bản chất của vấn đề, con người mới thật sự phát triển trí tuệ và tiến xa hơn trên con đường khám phá thế giới cũng như khám phá chính mình.
Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
[…] Có những mùa lá trước hiên nhà
theo năm tháng của chúng ta rơi về đâu
những chiếc lá vừa xanh non đã lìa cành
những chiếc lá sống đến úa vàng rồi rơi chạm đất
những chiếc lá vừa chớm niềm vui đã nhìn ra mất mát
những chiếc lá mà khổ đau song hành cùng hạnh phúc…
có ai biết?
Đôi khi chúng ta ngồi lại với bóng của mình
ngay giữa đám đông vội vã nhìn nuối tiếc
và tự hỏi giá như có thể
chọn lựa làm một chiếc lá giữa nắng mưa hay nép vào một góc nhỏ
chúng ta sẽ chọn lựa ra sao?
[...]
Có những năm tháng của chúng ta rơi theo mùa lá trước hiên nhà
Nhìn- đẹp- biết- bao…
(còn chuyện chúng ta có chấp nhận trả giá để rơi chạm đất
có lẽ chỉ những chiếc lá mới biết….)?
Giới thiệu tác giả: Nguyễn Phong Việt gương mặt thơ đương đại giàu cảm xúc, nổi bật trong dòng thơ tâm sự đời tư, chứa đầy suy tư triết lí về tổn thương, hạnh phúc và sự trưởng thành của con người. Giới thiệu tác phẩm: đoạn thơ trích trong bài “Chỉ những chiếc lá mới biết” – một trong những sáng tác thể hiện rõ phong cách nhận diện của Nguyễn Phong Việt: thơ như lời tự vấn nội tâm, giản dị nhưng day dứt. Dẫn vào vấn đề: Đoạn thơ sử dụng hình ảnh mùa lá rơi trước hiên nhà để suy ngẫm về kiếp người, sự mất mát, sự chọn lựa và cái giá phải trả của hành trình sống, gợi một triết lý nhẹ nhàng mà thấm thía.
II. THÂN BÀI
1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm – hoàn cảnh sáng tác
▪ Nguyễn Phong Việt sinh năm 1980 là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ Việt Nam đương đại. Anh được biết đến qua nhiều tập thơ gây tiếng vang như Đi qua thương nhớ, Từ yêu đến thương, Sinh ra để cô đơn, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc trẻ. Thơ Nguyễn Phong Việt giàu cảm xúc, trực diện với nỗi đau, cô đơn và những tổn thương rất thật của con người hiện đại. Giọng thơ anh không cầu kì về hình thức mà nghiêng về tự sự nội tâm, như những lời độc thoại chân thành, chạm đến những khoảng lặng sâu kín trong tâm hồn.
▪ “Chỉ những chiếc lá mới biết” thuộc mạch thơ chiêm nghiệm và hướng nội ấy. Ở đây, tác giả không còn chỉ nói về cảm xúc cá nhân mà mở rộng thành suy tư về đời người, về thời gian và những lựa chọn sống. Khi đã đi qua nhiều biến cố, giọng thơ trở nên trầm tĩnh hơn, đượm buồn nhưng không bi lụy. Nỗi buồn trong thơ anh mang sắc thái suy tưởng, như một cách đối diện với sự hữu hạn của đời sống.
▪ Hoàn cảnh ra đời của bài thơ gắn với cảm thức hiện sinh của con người hiện đại. Giữa nhịp sống vội vã, mỗi cá nhân vừa khát khao hạnh phúc vừa không ngừng đối diện với mất mát. Hình ảnh chiếc lá trong bài thơ vì thế không chỉ là hình ảnh thiên nhiên, mà trở thành biểu tượng cho những năm tháng của đời người, cho sự rơi rụng của thời gian và cho câu hỏi về cách sống giữa mong manh và hữu hạn.
2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG
▪ Luận điểm 1: Hình ảnh những chiếc lá rơi biểu tượng về số phận, về kiếp người trước thời gian, sự hữu hạn của cuộc đời.
▪ Hình ảnh những chiếc lá rơi biểu tượng cho số phận và kiếp người trước dòng chảy thời gian. Đoạn thơ mở ra bằng một hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi
“Có những mùa lá trước hiên nhà theo năm tháng của chúng ta rơi về đâu”
“Mùa lá trước hiên nhà” gợi một không gian quen thuộc, gần gũi với đời sống thường ngày. Đó không phải là một khu rừng xa xôi hay cảnh sắc hùng vĩ, mà là khoảng hiên nhà nhỏ bé, nơi con người lặng lẽ chứng kiến sự thay đổi của thời gian. Chính trong không gian bình dị ấy, sự rơi của lá trở thành dấu hiệu của năm tháng đang trôi qua. Câu hỏi “rơi về đâu” không chỉ dành cho lá, mà dành cho chính “năm tháng của chúng ta”. Lá ở đây đã vượt khỏi ý nghĩa tả thực để trở thành ẩn dụ cho đời người. Mỗi chiếc lá rụng là một khoảnh khắc trôi đi, một phần kí ức, một đoạn đời không thể giữ lại. Câu hỏi không có lời đáp khiến ý thơ mang âm hưởng trầm buồn, gợi cảm thức vô thường và hữu hạn.
▪ Chuỗi hình ảnh tiếp theo triển khai ý nghĩa biểu tượng ấy một cách cụ thể và giàu tầng nghĩa
“những chiếc lá vừa xanh non đã lìa cành” “những chiếc lá sống đến úa vàng rồi rơi chạm đất” “những chiếc lá vừa chớm niềm vui đã nhìn ra mất mát” “những chiếc lá mà khổ đau song hành cùng hạnh phúc”
Bốn câu thơ tương ứng với những trạng thái khác nhau của lá, cũng là những trạng thái khác nhau của đời người. “Lá xanh non đã lìa cành” gợi đến những số phận ngắn ngủi, những cuộc đời chưa kịp trưởng thành đã phải chịu chia lìa. Hình ảnh ấy mang sắc thái xót xa, như một tiếng thở dài trước những mất mát quá sớm. Ngược lại, “lá sống đến úa vàng rồi rơi chạm đất” diễn tả hành trình tự nhiên của đời sống, từ non trẻ đến già nua, từ sinh trưởng đến kết thúc. Sự rơi ở đây không còn đột ngột mà mang tính quy luật, như một vòng tuần hoàn không thể tránh.
▪ Câu thơ “vừa chớm niềm vui đã nhìn ra mất mát” lại chạm đến cảm giác mong manh của hạnh phúc. Niềm vui chưa kịp trọn vẹn đã thấp thoáng bóng dáng chia lìa. Điều đó cho thấy đời sống luôn ẩn chứa những đối cực song hành. “Khổ đau song hành cùng hạnh phúc” là một triết lí giản dị mà sâu sắc. Con người không thể lựa chọn chỉ giữ lại niềm vui mà loại bỏ nỗi buồn. Hai trạng thái ấy tồn tại cùng nhau, như hai mặt của một thực tại không thể tách rời.
▪ Qua hệ thống hình ảnh chiếc lá, Nguyễn Phong Việt đã xây dựng một biểu tượng nhân sinh giàu sức ám ảnh. Lá không chỉ là thiên nhiên mà là kiếp người, là năm tháng, là hành trình sống với đủ đầy non trẻ, trưởng thành, hạnh phúc và mất mát. Hình ảnh được diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị nhưng mở ra chiều sâu suy tư về số phận và thời gian, khiến người đọc không chỉ nhìn thấy lá rơi mà còn nhận ra chính mình trong từng chiếc lá ấy.
Liên hệ: Trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng, chiếc lá thường xuân trở thành biểu tượng của niềm tin và sự sống bởi đối với Giôn-xi, chiếc lá còn lại trên tường là ranh giới mong manh giữa hi vọng và tuyệt vọng. Nếu ở Nguyễn Phong Việt chiếc lá là tấm gương phản chiếu vòng đời con người qua bốn mùa, thì ở O. Henry, chiếc lá mang ý nghĩa cứu rỗi tinh thần. Điểm gặp gỡ của hai tác phẩm là việc nâng một sự vật nhỏ bé của tự nhiên lên thành biểu tượng nhân sinh. Qua đó, chiếc lá không còn là vật thể vô tri, mà trở thành nơi gửi gắm suy tư về sự sống, niềm tin và thân phận con người.
▪ Luận điểm 2: Con người đối diện với chính mình trong cô độc và tự vấn về lựa chọn sống, lối sống của mình giữa muôn vàn ngã rẽ
▪ Nếu ở phần đầu, hình ảnh chiếc lá gợi suy tư về số phận và thời gian, thì đến đoạn này, mạch thơ chuyển vào chiều sâu nội tâm của con người
“Đôi khi chúng ta ngồi lại với bóng của mình ngay giữa đám đông vội vã nhìn nuối tiếc”
“Ngồi lại với bóng của mình” là một hình ảnh giàu tính biểu tượng. Bóng ở đây không chỉ là cái bóng vật lí, mà là phần khuất lấp, phần sâu kín nhất trong tâm hồn. Khi “ngồi lại”, con người tạm dừng nhịp sống bên ngoài để đối diện với chính mình. Đó là khoảnh khắc tự vấn, khi mỗi cá nhân buộc phải nhìn thẳng vào những điều đã qua, những điều còn day dứt. Hình ảnh này gợi cảm giác cô độc nội tâm, bởi có những câu hỏi, những trăn trở chỉ bản thân mới có thể trả lời.
▪ Câu thơ “ngay giữa đám đông vội vã” tạo nên một nghịch lí nghệ thuật. Giữa không gian đông người, nhịp sống gấp gáp, con người vẫn có thể cảm thấy lạc lõng. Sự ồn ào của đời sống hiện đại không lấp đầy khoảng trống tinh thần. Trái lại, chính trong đám đông ấy, cảm giác cô đơn càng trở nên rõ rệt. “Nhìn nuối tiếc” là trạng thái tâm lí gắn với ý thức về thời gian đã trôi qua. Nuối tiếc không chỉ vì mất mát, mà còn vì những cơ hội chưa nắm giữ, những lựa chọn từng bỏ lỡ. Ở đây, chiếc lá rơi không chỉ là biểu tượng của năm tháng, mà còn là biểu tượng của những điều không thể quay trở lại.
▪ Từ trạng thái tự vấn ấy, tác giả đặt ra một câu hỏi đầy suy tư “giá như có thể chọn lựa làm một chiếc lá giữa nắng mưa hay nép vào một góc nhỏ, chúng ta sẽ chọn lựa ra sao?” Câu hỏi tu từ không nhằm tìm kiếm một đáp án cụ thể, mà mở ra một triết lí sống. “Giữa nắng mưa” gợi hình ảnh dấn thân, chấp nhận thử thách, đối diện va đập. “Nép vào một góc nhỏ” lại gợi lối sống an toàn, thu mình, tránh tổn thương. Hai hình ảnh đặt cạnh nhau làm nổi bật sự lựa chọn mà mỗi con người phải đối diện. Không ai có thể trả lời thay, bởi đó là quyết định gắn với giá trị sống và cái giá mỗi người sẵn sàng chấp nhận và đánh đổi.
▪ Tác giả không đưa ra lời khuyên trực tiếp. Chính sự im lặng ấy khiến câu hỏi trở nên day dứt hơn. Con người trưởng thành khi biết tự hỏi mình sẽ sống thế nào, sẽ chấp nhận đánh đổi điều gì để đi hết hành trình của mình. Qua hình ảnh chiếc lá và những câu hỏi lặng lẽ, đoạn thơ khắc họa hành trình đối diện bản thân trong cô độc, nơi mỗi cá nhân phải tự tìm ra con đường và ý nghĩa sống cho riêng mình.
Liên hệ: Nếu Nguyên Phong Việt chiêm nghiệm đời người qua vòng đời chiếc lá, thì Xuân Diệu trong Vội vàng lại nhìn đời qua sự trôi chảy của mùa xuân. Câu thơ “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua” thể hiện ý thức mãnh liệt về tính hữu hạn của thời gian. Cả hai thi sĩ đều nhận ra rằng sự sống luôn vận động trong thế chuyển hóa không ngừng. Tuy nhiên, nếu Xuân Diệu bộc lộ nỗi lo âu và khát vọng tận hưởng trước bước đi của thời gian, thì Nguyễn Minh Khiêm lại nghiêng về giọng điệu trầm tĩnh, chiêm nghiệm. Dù khác sắc thái cảm xúc, cả hai đều gặp nhau ở nhận thức sâu sắc về quy luật sinh tồn và sự mong manh của kiếp người.
▪ Luận điểm 3: Từ hình ảnh của chiếc lá thi nhân mở ra triết lí về giá trị của sống thực sự của sự tồn tại trong cuộc đời của con người.
▪ Nếu ở phần đầu, chiếc lá là biểu tượng cho số phận và thời gian, thì đến đoạn cuối, hình ảnh ấy được nâng lên thành một chiêm nghiệm sâu xa về ý nghĩa của sự kết thúc
“Có những năm tháng của chúng ta rơi theo mùa lá trước hiên nhà Nhìn đẹp biết bao…”
▪ “Năm tháng của chúng ta rơi theo mùa lá” là một cách nói giàu tính ẩn dụ. Năm tháng không thể nhìn thấy, nhưng qua sự rơi của lá, thời gian như hiện hình cụ thể. Cái rơi ở đây không còn đơn thuần gợi buồn. Khi tác giả thốt lên “Nhìn đẹp biết bao”, một góc nhìn nghệ thuật đã được mở ra. Sự rơi trở thành vẻ đẹp của hoàn tất, của một chu kì sống đi đến điểm cuối tự nhiên. Lá rơi sau khi đã xanh non, đã úa vàng, đã đi hết hành trình của mình. Vì thế, rơi không phải là thất bại, mà là sự khép lại trọn vẹn.
▪ Cách ngắt nhịp “Nhìn đẹp biết bao” tạo âm hưởng lắng lại, như một tiếng thở dài pha trộn giữa tiếc nuối và chiêm nghiệm. Nhịp thơ chậm hơn, sâu hơn, khiến người đọc không chỉ quan sát lá rơi mà còn suy ngẫm về chính năm tháng đời mình. Cái đẹp ấy không ồn ào mà thấm vào tâm trí như một sự thức nhận.
▪ Đoạn thơ khép lại bằng một câu hỏi đầy ám gợi
“còn chuyện chúng ta có chấp nhận trả giá để rơi chạm đất có lẽ chỉ những chiếc lá mới biết…?”
▪ Ở đây, “chấp nhận trả giá” trở thành một cụm từ mang tính triết lí. Mọi lựa chọn sống đều có cái giá của nó. Nếu muốn sống trọn vẹn như một chiếc lá giữa nắng mưa, con người phải chấp nhận va đập, tổn thương và cả sự rơi xuống. “Rơi chạm đất” vì thế không chỉ là hình ảnh kết thúc, mà là biểu tượng cho sự đối diện chân thật với số phận, với thử thách và với nỗi đau. Chạm đất là khoảnh khắc không còn lơ lửng, không còn né tránh, mà chấp nhận hiện thực một cách trọn vẹn.
▪ Tác giả không đưa ra lời giải đáp. Câu hỏi được bỏ ngỏ, tạo nên một kết cấu mở đặc trưng. Chính sự không trả lời ấy làm cho ý thơ lan rộng, buộc mỗi người đọc phải tự suy nghĩ về cách mình sẽ sống và cái giá mình sẵn sàng trả. Qua sự song hành giữa phận lá và đời người, đoạn thơ gửi gắm một triết lí sâu sắc. Sống đẹp không phải là tránh rơi, mà là dám rơi sau khi đã đi hết hành trình của mình.
3. PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT
a. Thể thơ, giọng điệu
▪ Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do, câu thơ dài ngắn linh hoạt, không gò bó niêm luật, nhờ đó tạo được khoảng thở rộng cho cảm xúc và suy tưởng. Có những câu trải dài như một dòng độc thoại nội tâm, miên man theo mạch chiêm nghiệm về năm tháng và số phận, lại có những câu ngắt nhịp ngắn, dừng lại đột ngột như một cái chạm của ý nghĩ, khiến cảm xúc lắng xuống và dư vang lâu hơn. Sự linh hoạt ấy phù hợp với giọng thơ trầm tĩnh, đượm buồn, vừa kể vừa nghĩ, vừa quan sát vừa tự hỏi.
▪ Giọng điệu của đoạn thơ mang sắc thái trầm tĩnh và giàu trải nghiệm. Nhà thơ không nói bằng cảm xúc bột phát hay sự than thở ồn ào, mà bằng một giọng chậm rãi, lắng sâu, như đang tự đối thoại với chính mình. Mỗi hình ảnh chiếc lá, mỗi câu hỏi về “rơi về đâu”, “chọn lựa ra sao” đều được đặt trong nhịp thơ suy tư, tạo cảm giác như dòng ý nghĩ đang lan tỏa từ một tâm hồn từng trải. Chính sự điềm đạm ấy làm cho triết lí trong thơ không khô cứng mà thấm dần vào cảm xúc người đọc.
▪ Đoạn thơ phảng phất một nét buồn nhẹ nhàng. Đó là nỗi buồn của ý thức về thời gian trôi đi, về mất mát và những điều không thể giữ lại. Tuy nhiên, nỗi buồn ấy không rơi vào bi lụy hay tuyệt vọng. Ngược lại, nó mang màu sắc tỉnh thức. Qua việc chấp nhận sự rơi rụng của lá và đặt câu hỏi về lựa chọn sống, giọng thơ hướng người đọc đến một thái độ bình thản trước quy luật đời sống. Buồn để hiểu sâu hơn về giá trị của hiện tại, suy tư để trưởng thành hơn trong cách lựa chọn. Chính sự kết hợp giữa trầm lắng và tỉnh táo ấy đã tạo nên âm hưởng riêng cho đoạn thơ, vừa day dứt vừa thức nhận.
b. Cấu tứ của đoạn thơ được triển khai theo hướng triết lí và tự vấn. Tác giả không kể một câu chuyện theo trình tự thời gian, mà để mạch thơ lan tỏa từ hình ảnh trung tâm “lá rơi”. Từ “mùa lá trước hiên nhà”, ý thơ mở ra suy niệm về những năm tháng của con người “rơi về đâu”, rồi tỏa vào nhiều số phận khác nhau của lá, tương ứng với những kiếp người khác nhau. Từ quan sát bên ngoài, đoạn thơ chuyển vào nội tâm với hình ảnh “ngồi lại với bóng của mình” và câu hỏi về lựa chọn sống. Cuối cùng, mạch suy tư trở về với phận lá và khép lại ở triết lí “rơi chạm đất”, để lại một câu hỏi bỏ ngỏ. Nhờ cấu tứ lan tỏa như vậy, đoạn thơ tạo được chiều sâu suy tưởng, khiến hình ảnh chiếc lá vừa cụ thể vừa ám ảnh, trở thành điểm tụ của những trăn trở về thời gian, cô độc và giá trị của một đời người.
c. Ngôn ngữ
▪ Ngôn ngữ đoạn thơ mang vẻ giản dị, gần gũi nhưng ẩn chứa chiều sâu chiêm nghiệm. Tác giả không sử dụng những hình ảnh cầu kì hay lối diễn đạt hoa mỹ, mà chọn những từ ngữ đời thường như “nuối tiếc”, “mất mát”, “chọn lựa”, “trả giá”. Chính sự mộc mạc ấy khiến suy tư về thời gian và số phận trở nên chân thật, dễ chạm đến người đọc. Những từ ngữ này không chỉ gọi tên cảm xúc mà còn gợi mở một trạng thái nội tâm phức tạp, nơi con người vừa ý thức được sự hữu hạn của đời sống vừa day dứt trước những điều đã qua.
▪ Bên cạnh đó, đoạn thơ sử dụng liên tiếp các câu hỏi tu từ như “rơi về đâu”, “chúng ta sẽ chọn lựa ra sao”, “có chấp nhận trả giá để rơi chạm đất”. Những câu hỏi ấy không nhằm tìm kiếm một lời đáp cụ thể, mà mở ra không gian suy nghĩ. Chúng buộc người đọc phải dừng lại, tự vấn về chính mình, về lựa chọn sống và cái giá phải trả cho mỗi lựa chọn. Nhờ hệ thống câu hỏi ấy, giọng thơ mang sắc thái đối thoại nội tâm, vừa lắng đọng vừa day dứt, khiến đoạn thơ không khép lại ở ý nghĩa cố định mà tiếp tục vang vọng trong suy tư của người đọc.
d. Hình ảnh nghệ thuật
▪ Hình ảnh nghệ thuật nổi bật và xuyên suốt đoạn thơ là hình ảnh chiếc lá. Lá vừa là một chi tiết quen thuộc của thiên nhiên, vừa được nâng lên thành biểu tượng trung tâm cho đời người và năm tháng. Từ “mùa lá trước hiên nhà” đến “lá xanh non đã lìa cành”, “lá úa vàng rồi rơi chạm đất”, mỗi trạng thái của lá đều gợi liên tưởng đến những chặng đường khác nhau của kiếp người. Chiếc lá vì thế không còn là vật thể vô tri mà trở thành hình ảnh mang chiều sâu nhân sinh, hàm chứa suy tư về sự sinh trưởng, mất mát, hoàn tất và chấp nhận quy luật rơi rụng của thời gian.
▪ Bên cạnh biểu tượng chiếc lá, tác giả còn sử dụng những hình ảnh đời thường như “hiên nhà”, “đám đông vội vã”, “bóng của mình”. “Hiên nhà” tạo nên không gian thân thuộc, gần gũi, khiến suy tư về thời gian không xa vời mà gắn với đời sống thường nhật. “Đám đông vội vã” gợi nhịp sống hiện đại hối hả, trong đó con người dễ rơi vào trạng thái cô đơn giữa đông người. “Bóng của mình” là hình ảnh giàu tính biểu tượng cho phần nội tâm sâu kín, cho những giằng co và tự vấn chỉ bản thân mới có thể đối diện. Nhờ những hình ảnh cụ thể ấy, triết lí về lựa chọn sống và cái giá của sự rơi không trở nên trừu tượng, mà được neo lại trong những cảnh đời quen thuộc, làm cho suy tư thêm chân thật và thấm thía.
IV. TỔNG KẾT NỘI DUNG – NGHỆ THUẬT
▪ Về nội dung, đoạn thơ là một bản suy tư sâu sắc về đời sống và sự hữu hạn của kiếp người trước dòng chảy thời gian. Từ hình ảnh những chiếc lá rơi trước hiên nhà, tác giả mở ra những trăn trở về năm tháng đã qua, về mất mát, nuối tiếc và về sự lựa chọn sống của mỗi cá nhân. Chiếc lá trở thành biểu tượng nhân sinh giàu sức gợi, đại diện cho những số phận khác nhau và cho hành trình trọn vẹn hay dang dở của đời người. Qua đó, đoạn thơ đặt ra câu hỏi về việc con người có dám dấn thân, chấp nhận “rơi chạm đất” và trả giá để trưởng thành trong cuộc sống.
▪ Về nghệ thuật, đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Phong Việt với thể thơ tự do linh hoạt, phù hợp với mạch suy tư nội tâm. Ngôn ngữ giản dị nhưng hàm súc, giàu tính chiêm nghiệm; hình ảnh biểu tượng chiếc lá được khai thác xuyên suốt, vừa cụ thể vừa mở rộng tầng nghĩa. Giọng điệu trầm tĩnh, giàu trải nghiệm, pha chút buồn nhẹ nhưng không bi lụy đã tạo nên chất thơ riêng, để lại dư âm suy ngẫm sâu sắc trong lòng người đọc.
V. KẾT BÀI
Khẳng định giá trị: đoạn thơ góp phần thể hiện rõ phong cách thơ Nguyễn Phong Việt luôn hướng con người tới sự tự nhận thức. Mở rộng: tác phẩm gửi lời nhắc nhở về cách sống: mỗi chúng ta giống những chiếc lá, quan trọng không phải rơi khi nào mà rơi như thế nào, và có đủ can đảm để “chạm đất” một cách trọn vẹn và ý nghĩa trong cuộc sống.
Nhà thơ Tố Hữu từng khẳng định: “Thơ chỉ bật ra trong tim khi cuộc sống đã thật tràn đầy.” Bởi vậy, những vần thơ chân chính luôn bắt nguồn từ những trải nghiệm sâu sắc của đời sống và từ những rung động chân thành của tâm hồn con người. Trong dòng thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Phong Việt là một gương mặt giàu cảm xúc, thường viết về những suy tư nội tâm, về tổn thương, hạnh phúc và hành trình trưởng thành của con người. Đoạn thơ trích trong bài “Chỉ những chiếc lá mới biết” đã mượn hình ảnh mùa lá rơi trước hiên nhà để gợi lên những chiêm nghiệm sâu lắng về kiếp người, về sự mất mát, những lựa chọn sống và cái giá của hành trình trưởng thành, tạo nên một triết lí nhẹ nhàng nhưng giàu sức ám ảnh.
Văn học từ lâu vẫn được xem là tấm gương phản chiếu đời sống và tâm hồn con người. Nguyễn Minh Châu từng khẳng định rằng “Văn học và cuộc đời là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người”. Bởi vậy mọi sáng tạo nghệ thuật chân chính suy cho cùng đều hướng về con người, về những niềm vui, nỗi buồn và day dứt của đời sống. Trong dòng chảy thơ Việt Nam đương đại, Nguyễn Phong Việt là một gương mặt tiêu biểu của khuynh hướng thơ hướng nội. Thơ anh không cầu kì về hình thức mà nghiêng về giọng điệu tâm tình, giản dị mà chân thành, như những lời tự bạch của tâm hồn. Chính sự giản dị ấy lại chạm tới tầng sâu cảm xúc của người đọc, bởi như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét “Thơ không cần nhiều từ ngữ, nó chỉ cần truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ”. Bài thơ Chỉ những chiếc lá mới biết nằm trong mạch suy tưởng ấy. Ở đây nhà thơ không chỉ bộc lộ cảm xúc cá nhân mà còn gửi gắm những chiêm nghiệm về thời gian, về đời sống và hành trình tồn tại của con người. Trong nhịp sống hiện đại nhiều vội vã, hình ảnh chiếc lá hiện lên không chỉ như một chi tiết thiên nhiên mà còn là một ẩn dụ đẹp cho sự mong manh của đời người, cho dấu vết âm thầm của thời gian và cho những lựa chọn con người phải đối diện trên hành trình sống.
Thơ ca từ lâu vẫn được xem là tiếng nói tinh tế của tâm hồn con người trước những biến động của đời sống. Tố Hữu từng khẳng định “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời”. Vì thế thơ nhiều khi không cần đến những hình ảnh lớn lao mà chỉ từ những chi tiết bình dị của thiên nhiên cũng có thể gợi mở những suy tư sâu sắc về kiếp người. Trong đoạn thơ này, Nguyễn Phong Việt đã chọn hình ảnh chiếc lá rơi trước hiên nhà để nói về thời gian và sự hữu hạn của đời sống con người. Câu thơ mở ra bằng một hình ảnh quen thuộc “Tôi có những mùa lá trước hiên nhà / theo năm tháng của chúng ta rơi về đâu”. Hiên nhà là không gian đời thường, nơi con người lặng lẽ quan sát sự biến đổi của thiên nhiên và của thời gian. Trong không gian bình dị ấy, sự rơi của chiếc lá trở thành dấu hiệu của năm tháng đang trôi qua. Nhà thơ không chỉ nhìn thấy lá rơi mà còn nhận ra trong đó sự rơi của “năm tháng của chúng ta”. Hình ảnh chiếc lá vì thế từ một chi tiết thiên nhiên đã trở thành ẩn dụ cho đời người. Mỗi chiếc lá rơi giống như một phần thời gian của đời người đang lặng lẽ trôi đi. Câu hỏi “rơi về đâu” vang lên như một nỗi băn khoăn về hành trình của đời người trước dòng chảy vô tận của thời gian. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh rằng “Thơ ca bắt nguồn từ những vui buồn của loài người”. Ý nghĩa biểu tượng ấy tiếp tục được mở rộng qua những trạng thái khác nhau của chiếc lá “những chiếc lá vừa xanh non đã lìa cành / những chiếc lá sống đến úa vàng rồi rơi chạm đất”. Hai hình ảnh này gợi ra hai số phận khác nhau của chiếc lá cũng như của con người. “Lá xanh non đã lìa cành” gợi đến những cuộc đời ngắn ngủi, những số phận chưa kịp trưởng thành đã phải rời khỏi cuộc sống. Ngược lại “lá sống đến úa vàng rồi rơi chạm đất” lại gợi một hành trình trọn vẹn của đời sống. Chiếc lá đi từ xanh non đến úa vàng rồi trở về với đất theo quy luật tự nhiên. Qua đó người đọc nhận ra rằng đời người dù dài hay ngắn cuối cùng cũng phải đối diện với quy luật của thời gian. Không dừng lại ở đó, hình ảnh chiếc lá còn được mở rộng sang những trạng thái cảm xúc của con người “những chiếc lá vừa chớm niềm vui đã nhìn ra mất mát / những chiếc lá mà khổ đau song hành cùng hạnh phúc”. Những câu thơ gợi đến những trải nghiệm rất thật của đời sống. Niềm vui nhiều khi chưa kịp trọn vẹn đã thấp thoáng bóng dáng của mất mát, hạnh phúc dường như luôn đi cùng với những dự cảm chia lìa. Điều ấy khiến ta nhớ đến nhận định của Nguyễn Văn Thạc rằng “Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trên thực tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu buồn”. Niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau luôn song hành trong hành trình sống của con người. Chiếc lá không còn là chi tiết của thiên nhiên mà trở thành hình ảnh của đời người với đủ non trẻ, trưởng thành, niềm vui và mất mát. Đọc đoạn thơ, người đọc không chỉ nhìn thấy lá rơi trước hiên nhà mà còn nhận ra bóng dáng của chính mình trong dòng chảy hữu hạn của đời sống. Điều đó gợi nhớ đến truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O. Henry. Nếu ở Nguyễn Phong Việt chiếc lá phản chiếu vòng đời con người qua những mùa rơi của thời gian, thì ở O. Henry chiếc lá lại trở thành biểu tượng của niềm tin và sự sống. Điểm gặp gỡ của hai tác phẩm nằm ở chỗ đều nâng một hình ảnh rất nhỏ bé của thiên nhiên thành biểu tượng nhân sinh sâu sắc, qua đó gửi gắm những suy tư về thân phận và ý nghĩa của đời sống con người.
Trong hành trình khám phá đời sống tinh thần của con người, văn học không chỉ phản ánh những biến động bên ngoài mà còn đi sâu vào những cuộc đối thoại thầm lặng trong tâm hồn. Fyodor Dostoevsky từng nói rằng “Con người là một bí ẩn. Cần phải giải mã nó”. Chính vì thế nhiều tác phẩm văn học thường hướng ánh nhìn vào khoảnh khắc con người đối diện với chính mình, nơi những câu hỏi về lựa chọn sống và giá trị tồn tại được đặt ra. Đoạn thơ của Nguyễn Phong Việt cũng đi theo mạch suy tưởng ấy khi đưa người đọc từ hình ảnh chiếc lá của thời gian vào không gian nội tâm của con người. Nếu ở phần trước chiếc lá gợi suy tư về số phận và sự trôi chảy của năm tháng, thì ở đây mạch thơ lắng lại trong khoảnh khắc tự vấn “Đôi khi chúng ta ngồi lại với bóng của mình /ngay giữa đám đông vội vã nhìn nuối tiếc”. Hình ảnh “ngồi lại với bóng của mình” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Bóng không chỉ là hình chiếu vật lí mà còn gợi phần sâu kín của tâm hồn nơi con người đối diện với chính mình. Động tác “ngồi lại” gợi sự dừng nhịp của đời sống giữa vòng quay gấp gáp của thời gian. Khoảnh khắc ấy giống như một cuộc đối thoại nội tâm khi con người nhìn lại những điều đã qua và những điều còn day dứt. Chỉ bằng hình ảnh giản dị ấy, Nguyễn Phong Việt đã khơi mở một chiều sâu tâm lí. Hình tượng “bóng của mình” trở thành cách nói về cái tôi sâu kín của con người. Điều đó khiến ta nhớ đến lời Thạch Lam rằng “Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới”. Cái đẹp ở đây chính là khoảnh khắc con người thành thật với chính mình. Câu thơ tiếp theo lại mở ra một nghịch lí “ngay giữa đám đông vội vã nhìn nuối tiếc”.Đám đông thường gợi sự gắn kết nhưng ở đây lại trở thành không gian của sự lạc lõng. Sự “vội vã” của đám đông gợi nhịp sống gấp gáp của đời sống hiện đại. Trong dòng chảy ấy, mỗi cá nhân nhiều khi đánh mất khoảnh khắc lắng nghe chính mình. Vì thế con người có thể ở giữa rất nhiều người nhưng vẫn cảm thấy đơn độc. Kierkegaard cho rằng “Đám đông là sự không thật”, Khi hòa vào đám đông, cái tôi cá nhân dễ bị che lấp. Vì thế khoảnh khắc “ngồi lại với bóng của mình” lại càng trở nên cần thiết. Trạng thái “nhìn nuối tiếc” là biểu hiện của ý thức về thời gian đã trôi qua. Nuối tiếc không chỉ vì mất mát mà còn vì những lựa chọn từng bỏ lỡ. Những chiếc lá rơi trong đoạn thơ trước giờ đây như trở thành biểu tượng cho những năm tháng không thể quay lại. Xuân Diệu từng nói “Thơ là tiếng nói đầu tiên của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống”. Cảm giác nuối tiếc trong câu thơ chính là tiếng nói chân thật của tâm hồn khi con người nhận ra sự trôi đi không thể giữ lại của thời gian. Từ khoảnh khắc tự vấn ấy, nhà thơ đặt ra câu hỏi mang tính triết lí “giá như có thể chọn lựa làm một chiếc lá giữa nắng mưa hay nép vào một góc nhỏ/ chúng ta sẽ chọn lựa ra sao”. Câu hỏi này không nhằm tìm một đáp án cụ thể mà mở ra suy tư về cách sống. “Chiếc lá giữa nắng mưa” gợi một đời sống dấn thân, sẵn sàng đối diện thử thách. “Nép vào một góc nhỏ” lại gợi lối sống an toàn, tránh va đập. Hai hình ảnh đặt cạnh nhau làm nổi bật những lựa chọn căn bản mà mỗi con người phải đối diện trong hành trình sống. Câu hỏi của Nguyễn Phong Việt cũng chính là cách nhà thơ khơi dậy trong người đọc một sự tự vấn. Không ai có thể trả lời thay cho người khác bởi mỗi lựa chọn đều gắn với giá trị sống và cái giá phải chấp nhận. Chính vì thế câu hỏi “chúng ta sẽ chọn lựa ra sao” không chỉ là câu hỏi của riêng nhà thơ mà là câu hỏi dành cho tất cả những ai đang đi qua hành trình hữu hạn của đời mình. Suy tư ấy gợi sự gặp gỡ với cảm thức thời gian trong thơ Xuân Diệu khi ông viết “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua”. Nếu Xuân Diệu bộc lộ nỗi lo âu trước bước đi của thời gian, thì Nguyễn Phong Việt lại lựa chọn giọng điệu trầm tĩnh và chiêm nghiệm. Dù khác sắc thái cảm xúc, cả hai vẫn gặp nhau ở một điểm chung. Đó là nhận thức rằng đời người luôn mong manh trước dòng chảy của thời gian và mỗi con người đều phải tự lựa chọn cách sống của mình trong hành trình hữu hạn ấy.
Văn học nhiều khi bắt đầu từ những hình ảnh rất nhỏ bé của tự nhiên nhưng lại mở ra những suy tư lớn lao về đời sống. Chế Lan Viên từng viết “Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt. Một mật ngọt thành đòi vạn chuyến ong bay”. Từ những chi tiết giản dị, thi ca có thể chưng cất nên ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Hình ảnh chiếc lá trong đoạn thơ của Nguyễn Phong Việt cũng vận động theo cách ấy. Từ biểu tượng của thời gian và số phận, chiếc lá dần mở ra suy tưởng sâu xa về giá trị của sự tồn tại trong đời người. Câu thơ “Có những năm tháng của chúng ta rơi theo mùa lá trước hiên nhà / Nhìn đẹp biết bao” gợi một cách nói giàu tính ẩn dụ. Thời gian vốn vô hình nhưng qua hình ảnh chiếc lá rơi, nó hiện ra cụ thể và gần gũi. Mỗi chiếc lá rơi giống như một phần năm tháng của đời người lặng lẽ trôi qua. Như Belinski từng khẳng định “Nhà thơ tư duy bằng hình tượng”, vì thế hình ảnh lá rơi không chỉ là cảnh vật mà trở thành biểu tượng cho hành trình sống của con người. Điều đáng chú ý là sau khi nói đến sự rơi của năm tháng, nhà thơ lại thốt lên “Nhìn đẹp biết bao”. Ở đây sự rơi không còn chỉ gợi buồn hay mất mát mà trở thành vẻ đẹp của sự hoàn tất. Chiếc lá đã đi trọn vòng đời từ xanh non đến úa vàng rồi trở về với đất. Cũng như đời người khi đã sống trọn vẹn thì sự kết thúc không còn đáng sợ. Đoạn thơ khép lại bằng một câu hỏi đầy ám gợi “còn chuyện chúng ta có chấp nhận trả giá để rơi chạm đất / có lẽ chỉ những chiếc lá mới biết”. Cụm từ “chấp nhận trả giá” mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. Mọi lựa chọn sống đều có cái giá của nó. Nếu muốn sống trọn vẹn như chiếc lá giữa nắng mưa, con người phải chấp nhận thử thách và va đập của đời sống. Câu hỏi ấy không đưa ra một lời giải đáp mà để ngỏ cho suy tư. Hoài Thanh từng viết “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Câu hỏi của Nguyễn Phong Việt cũng chính là lời tự vấn dành cho mỗi người về cách sống của mình trong thế giới rộng lớn này. Đoạn thơ mở ra một triết lí giản dị mà sâu sắc. Sống đẹp không phải là tránh rơi mà là dám rơi sau khi đã đi hết hành trình của mình. Khi một chiếc lá rơi xuống đất sau mùa nắng mưa, nó khép lại vòng đời của mình trong sự trọn vẹn. Và con người cũng vậy! Giá trị của đời sống không nằm ở việc kéo dài sự tồn tại mà ở việc đã sống trọn vẹn với những gì mình lựa chọn. Chính trong suy tư ấy, hình ảnh chiếc lá nhỏ bé bỗng trở thành tấm gương phản chiếu cả hành trình sống của con người.
Trong thơ ca, hình thức nghệ thuật không chỉ là phương tiện biểu đạt mà còn là nơi bộc lộ nhịp điệu của tâm hồn thi sĩ. Belinski từng khẳng định “Nội dung và hình thức trong nghệ thuật là hai mặt không thể tách rời”. Bởi vậy khi cảm xúc và suy tưởng trở nên sâu lắng thì hình thức biểu đạt cũng cần linh hoạt để chứa đựng dòng suy tư ấy. Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do với câu thơ dài ngắn biến đổi tự nhiên, khi trải dài theo dòng suy nghĩ, khi dừng lại ở những câu ngắn như “Nhìn đẹp biết bao”, tạo nên khoảng lặng cho suy tưởng. Nhịp điệu ấy giúp cảm xúc vận động nhẹ nhàng theo mạch chiêm nghiệm về thời gian và đời người. Xuân Diệu từng nói “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Giọng thơ vì thế trầm tĩnh và lắng sâu, như một cuộc trò chuyện thầm lặng với chính mình. Những câu hỏi về sự rơi rụng của chiếc lá gợi nỗi suy tư về thời gian nhưng không bi lụy mà mang sắc thái tỉnh thức, khiến con người nhận ra giá trị của hiện tại và trưởng thành hơn trong cách sống.
Cấu tứ không chỉ là cách sắp xếp ý thơ mà còn là con đường vận động của tư tưởng nghệ thuật. Belinski từng khẳng định “Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng phải sống trong hình tượng”. Vì thế những suy tư của nhà thơ thường lan tỏa qua sự vận động của hình ảnh và cảm xúc. Đoạn thơ của Nguyễn Phong Việt được triển khai theo cấu tứ chiêm nghiệm bắt đầu từ hình ảnh “lá rơi”. Từ “mùa lá trước hiên nhà”, ý thơ mở ra suy niệm về “năm tháng của chúng ta rơi về đâu”, từ một hình ảnh thiên nhiên nhỏ bé dẫn tới suy tư về thời gian và đời người. Cách triển khai ấy gợi nhớ lời Chế Lan Viên “Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt”. Từ điểm khởi đầu ấy, mạch thơ tiếp tục gợi nhiều trạng thái của chiếc lá như “xanh non đã lìa cành” hay “sống đến úa vàng rồi rơi chạm đất”, qua đó gợi những số phận khác nhau trước quy luật thời gian. Dòng suy tưởng dần chuyển vào nội tâm với hình ảnh “ngồi lại với bóng của mình”, rồi khép lại ở triết lí “rơi chạm đất”, khiến hình ảnh chiếc lá trở thành điểm tụ cho những suy tư về thời gian và đời người.
Ngôn ngữ và hình ảnh không chỉ là phương tiện biểu đạt mà còn là nơi tư tưởng và cảm xúc của nhà thơ kết tinh. Vì vậy chiều sâu triết lí của thơ thường được gửi gắm qua những hình ảnh giản dị của đời sống. Tố Hữu cũng từng nói “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời”. Đoạn thơ sử dụng ngôn ngữ mộc mạc để gợi mở suy tư về thời gian và thân phận con người. Ngôn ngữ đoạn thơ giản dị nhưng giàu sức gợi. Tác giả sử dụng những từ quen thuộc như “nuối tiếc”, “mất mát”, “chọn lựa”, “trả giá” để diễn tả những trạng thái rất thật của đời sống. Những từ ngữ ấy không chỉ gọi tên cảm xúc mà còn gợi lên ý thức về sự hữu hạn của thời gian và trách nhiệm của con người trước mỗi lựa chọn. Chính sự giản dị ấy khiến suy tư của bài thơ trở nên gần gũi và dễ chạm đến người đọc. Đoạn thơ còn sử dụng nhiều câu hỏi tu từ như “rơi về đâu”, “chúng ta sẽ chọn lựa ra sao”, “có chấp nhận trả giá để rơi chạm đất”. Những câu hỏi ấy không nhằm tìm lời đáp cụ thể mà mở ra không gian suy nghĩ. Người đọc khi đối diện với những câu hỏi ấy cũng buộc phải tự hỏi về cách sống của chính mình. Những trăn trở của đời sống đã đi vào thi ca và trở thành suy tư nghệ thuật. Hình ảnh trung tâm của đoạn thơ là chiếc lá. Từ “mùa lá trước hiên nhà” đến “lá xanh non đã lìa cành”, rồi “lá úa vàng rơi chạm đất”, mỗi trạng thái của lá gợi liên tưởng đến những chặng đường của đời người. Chiếc lá vì thế trở thành biểu tượng cho quy luật thời gian và hành trình sống. Belinski từng nói “Tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn làm cho cái riêng trở thành cái chung”. Một chiếc lá nhỏ bé đã gợi lên suy tư về số phận con người. Bên cạnh đó những hình ảnh đời thường như “hiên nhà”, “đám đông vội vã”, “bóng của mình” cũng góp phần tạo nên chiều sâu suy tưởng. Từ những chi tiết rất nhỏ của đời sống thi phẩm đã chưng cất nên những chiêm nghiệm lặng lẽ về thời gian và ý nghĩa của một đời người.
Đoạn thơ khép lại bằng một suy tư lắng sâu về đời sống và sự hữu hạn của kiếp người trước dòng chảy thời gian. Từ hình ảnh những chiếc lá rơi trước hiên nhà, nhà thơ gợi lên những trăn trở về năm tháng đã qua, về mất mát, nuối tiếc và về cách con người lựa chọn sống. Chiếc lá vì thế trở thành biểu tượng nhân sinh giàu sức gợi cho hành trình trọn vẹn hay dang dở của đời người, đồng thời đặt ra câu hỏi về việc con người có dám dấn thân, chấp nhận “rơi chạm đất” để trưởng thành trong cuộc sống. Như Nguyễn Minh Châu từng nói “Nhà văn là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Về nghệ thuật, đoạn thơ mang phong cách quen thuộc của Nguyễn Phong Việt với thể thơ tự do linh hoạt, phù hợp với mạch suy tư nội tâm. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu chiêm nghiệm, hình ảnh chiếc lá được khai thác xuyên suốt vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, giọng điệu trầm tĩnh và giàu trải nghiệm tạo nên âm hưởng lắng sâu, để lại dư âm suy ngẫm trong lòng người đọc.
Nhà văn M. Gorki từng nói: “Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình.” Đoạn thơ trong “Chỉ những chiếc lá mới biết” đã làm được điều đó khi mượn hình ảnh chiếc lá để gợi suy tư về đời người, về mất mát, lựa chọn và ý nghĩa của hành trình sống. Qua giọng thơ trầm lắng, giàu chiêm nghiệm, Nguyễn Phong Việt đã gửi gắm một thông điệp nhân sinh nhẹ nhàng mà sâu sắc: điều quan trọng không phải là đời người dài hay ngắn, mà là ta có đủ can đảm để sống trọn vẹn và “chạm đất” một cách ý nghĩa hay không.