Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
VĂN BẢN 1
Tín ngưỡng thờ cúng linh hồn là một loại hình tín ngưỡng dân gian đã tồn tại từ lâu đời và phổ biến trong đời sống tinh thần của người Việt Nam (từ xưa đến nay). Nhờ sự ghi nhận và quy định khá rõ ràng về tế tự, thờ cúng trong các văn bản pháp luật của các triều đại phong kiến Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, tín ngưỡng này đã được củng cố và duy trì cho đến ngày nay [Trần Văn Giàu 1983; Phan Ngọc 2002].
Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con người có hai nhóm hồn: hồn (psyche) và vía (astral). Mỗi người có ba hồn (psyche), nhưng có nhiều vía (astral). Đàn ông có bảy hồn, phụ nữ có chín hồn, hồn còn được gọi là phách, nên trong dân gian thường gọi là hồn vía hoặc hồn phách. Những hồn này trú ngụ trong cơ thể con người khi còn sống. Cơ thể tiếp nhận linh hồn vào ngày sinh hoặc ngày thụ thai. Khái niệm hồn và vía được thể hiện cụ thể như sau:
Hồn (psyche) chỉ các linh hồn tâm linh, và vía (astral) chỉ các linh hồn vật chất. Astral được hình dung như một trung gian giữa cơ thể và linh hồn. Ba hồn bao gồm Tinh (sự tinh tế trong nhận thức), Khí (năng lượng tạo nên cơ thể), và Thần (linh hồn của sự sống). Bảy vía (astral) của con người cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và một miệng. Chín vía (astral) của phụ nữ cai quản bảy thứ như ở đàn ông cộng thêm hai thứ nữa. Có nhiều cách giải thích cho hai astral của phụ nữ, nhưng người ta chấp nhận rộng rãi rằng chúng có thể là hai núm vú của phụ nữ, đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con cái [Phan Ngọc 2002; Phan Kế Bính 2005].
Theo quan niệm dân gian Việt Nam, hồn thiêng hơn vía, nên khi ai đó còn sống (là sự hòa quyện giữa thể xác và linh hồn), vì lòng kính trọng, người ta tránh nói đến hồn của người đó . Vía có thể vừa có lợi vừa có hại trong cuộc sống hàng ngày. Vía có những đặc tính khác nhau, tùy thuộc vào việc người đó có vía xấu hay vía tốt: có người có vía tốt; có người có vía xấu và có tà ma. Vía tốt mang lại may mắn, có người gặp may mắn và người ta tìm cách gặp vía tốt. Vía xấu có tác dụng có hại, trong mọi việc, người ta cố gắng tránh vía xấu.
Cái chết là sự tách rời của hồn vía khỏi thể xác. Hồn và vía rời khỏi thể xác khi một người trút hơi thở cuối cùng. Chúng được các linh hồn do thần linh phái đến mang đi, và từ đó, tiếp tục sống độc lập với thể xác. Linh hồn, sau khi chết, có những nhu cầu và mong muốn giống như người sống. Để soi sáng những bước chân của hồn và vía khi rời khỏi thể xác, người ta thắp nến (hoặc đèn dầu); người ta cho linh hồn tiền để trả tiền đi phà xuống âm phủ; người ta dâng thức ăn và đồ uống để giải cơn đói và cơn khát của linh hồn. Linh hồn được đốt bằng giấy vàng mã mô phỏng những gì linh hồn cần: đồ đạc, ngựa, người hầu, v.v. Người giàu còn đốt xe đạp, xe máy, ô tô và đôi khi cả máy bay. Đúng là bổn phận hiếu thảo thiêng liêng của người con là phải chu cấp mọi nhu cầu của tổ tiên đã khuất. Đối với người Việt Nam, người thực hiện các nghi lễ trên cho tổ tiên thường là con trai cả trong gia đình [Phan Kế Bính 2005].
Nhưng trong thế giới huyền bí, những linh hồn bị bỏ rơi phải lang thang hoặc không có người thân, bạn bè. Đó là những linh hồn bất hạnh, những người đã chết vì tai nạn hoặc nghèo đói trên đường, những người không được chôn cất, không có ai để thắp hương, tế lễ và chăm sóc. Những linh hồn này lang thang theo những đám mây đen, mưa phùn dày đặc, hoặc nằm trên cành cây. Cũng chính những linh hồn chết đuối trên sông, trên biển, quanh quẩn nơi họ đã chết, chờ đợi một người khác chết đi, đó mới là linh hồn. Để xoa dịu những linh hồn khốn khổ đó, đôi khi người ta đốt giấy vàng bạc, cúng cháo gạo, v.v., đặc biệt là vào những ngày rằm và mùng một.
Tất cả những quan niệm sống chết nêu trên đã tạo nên trong tâm thức người Việt Nam quan niệm về sự tồn tại của linh hồn sau khi chết [Nguyễn Duy Hinh 2007; Vũ Hồng Vận 2017; Vũ Hồng Vân 2022]. Do đó, từ rất xa xưa, trong sinh hoạt tâm linh hàng ngày của người Việt Nam, thói quen thờ cúng người chết (linh hồn) đã được hình thành [Phan Huy Chú 1992; Vũ Hồng Vân, Nguyễn Trọng Long 2019; Long, Vân 2022]. Thói quen đó từ lâu đời, trải qua nhiều thế hệ, đã trở thành phong tục, tín ngưỡng của người Việt [Phan Ngọc 2002; Toàn Ánh 2005]. Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi của thời đại và sự giao lưu, tiếp thu các luồng văn hóa trên thế giới trong thời kỳ hội nhập, phong tục thờ cúng này đã có những thay đổi so với ban đầu, mang theo cả những tác động tích cực và tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến nhận thức cũng như hành vi xã hội của một bộ phận người Việt Nam.
Tín ngưỡng thờ cúng linh hồn là một loại hình tín ngưỡng dân gian đã tồn tại từ lâu đời và phổ biến trong đời sống tinh thần của người Việt Nam (từ xưa đến nay). Nhờ sự ghi nhận và quy định khá rõ ràng về tế tự, thờ cúng trong các văn bản pháp luật của các triều đại phong kiến Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử, tín ngưỡng này đã được củng cố và duy trì cho đến ngày nay [Trần Văn Giàu 1983; Phan Ngọc 2002].
Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con người có hai nhóm hồn: hồn (psyche) và vía (astral). Mỗi người có ba hồn (psyche), nhưng có nhiều vía (astral). Đàn ông có bảy hồn, phụ nữ có chín hồn, hồn còn được gọi là phách, nên trong dân gian thường gọi là hồn vía hoặc hồn phách. Những hồn này trú ngụ trong cơ thể con người khi còn sống. Cơ thể tiếp nhận linh hồn vào ngày sinh hoặc ngày thụ thai. Khái niệm hồn và vía được thể hiện cụ thể như sau:
Hồn (psyche) chỉ các linh hồn tâm linh, và vía (astral) chỉ các linh hồn vật chất. Astral được hình dung như một trung gian giữa cơ thể và linh hồn. Ba hồn bao gồm Tinh (sự tinh tế trong nhận thức), Khí (năng lượng tạo nên cơ thể), và Thần (linh hồn của sự sống). Bảy vía (astral) của con người cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và một miệng. Chín vía (astral) của phụ nữ cai quản bảy thứ như ở đàn ông cộng thêm hai thứ nữa. Có nhiều cách giải thích cho hai astral của phụ nữ, nhưng người ta chấp nhận rộng rãi rằng chúng có thể là hai núm vú của phụ nữ, đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con cái [Phan Ngọc 2002; Phan Kế Bính 2005].
Theo quan niệm dân gian Việt Nam, hồn thiêng hơn vía, nên khi ai đó còn sống (là sự hòa quyện giữa thể xác và linh hồn), vì lòng kính trọng, người ta tránh nói đến hồn của người đó . Vía có thể vừa có lợi vừa có hại trong cuộc sống hàng ngày. Vía có những đặc tính khác nhau, tùy thuộc vào việc người đó có vía xấu hay vía tốt: có người có vía tốt; có người có vía xấu và có tà ma. Vía tốt mang lại may mắn, có người gặp may mắn và người ta tìm cách gặp vía tốt. Vía xấu có tác dụng có hại, trong mọi việc, người ta cố gắng tránh vía xấu.
Cái chết là sự tách rời của hồn vía khỏi thể xác. Hồn và vía rời khỏi thể xác khi một người trút hơi thở cuối cùng. Chúng được các linh hồn do thần linh phái đến mang đi, và từ đó, tiếp tục sống độc lập với thể xác. Linh hồn, sau khi chết, có những nhu cầu và mong muốn giống như người sống. Để soi sáng những bước chân của hồn và vía khi rời khỏi thể xác, người ta thắp nến (hoặc đèn dầu); người ta cho linh hồn tiền để trả tiền đi phà xuống âm phủ; người ta dâng thức ăn và đồ uống để giải cơn đói và cơn khát của linh hồn. Linh hồn được đốt bằng giấy vàng mã mô phỏng những gì linh hồn cần: đồ đạc, ngựa, người hầu, v.v. Người giàu còn đốt xe đạp, xe máy, ô tô và đôi khi cả máy bay. Đúng là bổn phận hiếu thảo thiêng liêng của người con là phải chu cấp mọi nhu cầu của tổ tiên đã khuất. Đối với người Việt Nam, người thực hiện các nghi lễ trên cho tổ tiên thường là con trai cả trong gia đình [Phan Kế Bính 2005].
Nhưng trong thế giới huyền bí, những linh hồn bị bỏ rơi phải lang thang hoặc không có người thân, bạn bè. Đó là những linh hồn bất hạnh, những người đã chết vì tai nạn hoặc nghèo đói trên đường, những người không được chôn cất, không có ai để thắp hương, tế lễ và chăm sóc. Những linh hồn này lang thang theo những đám mây đen, mưa phùn dày đặc, hoặc nằm trên cành cây. Cũng chính những linh hồn chết đuối trên sông, trên biển, quanh quẩn nơi họ đã chết, chờ đợi một người khác chết đi, đó mới là linh hồn. Để xoa dịu những linh hồn khốn khổ đó, đôi khi người ta đốt giấy vàng bạc, cúng cháo gạo, v.v., đặc biệt là vào những ngày rằm và mùng một.
Tất cả những quan niệm sống chết nêu trên đã tạo nên trong tâm thức người Việt Nam quan niệm về sự tồn tại của linh hồn sau khi chết [Nguyễn Duy Hinh 2007; Vũ Hồng Vận 2017; Vũ Hồng Vân 2022]. Do đó, từ rất xa xưa, trong sinh hoạt tâm linh hàng ngày của người Việt Nam, thói quen thờ cúng người chết (linh hồn) đã được hình thành [Phan Huy Chú 1992; Vũ Hồng Vân, Nguyễn Trọng Long 2019; Long, Vân 2022]. Thói quen đó từ lâu đời, trải qua nhiều thế hệ, đã trở thành phong tục, tín ngưỡng của người Việt [Phan Ngọc 2002; Toàn Ánh 2005]. Tuy nhiên, cùng với sự biến đổi của thời đại và sự giao lưu, tiếp thu các luồng văn hóa trên thế giới trong thời kỳ hội nhập, phong tục thờ cúng này đã có những thay đổi so với ban đầu, mang theo cả những tác động tích cực và tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến nhận thức cũng như hành vi xã hội của một bộ phận người Việt Nam.
Nguồn: https://vietnamjournal.ru/2618-9453/article/view/123534?
Câu 1 [1073085]: Theo nội dung bài viết, hàm ý đúng nhất khi nói rằng “hồn thiêng hơn vía” trong quan niệm dân gian Việt Nam là gì?
A, Hồn có sức mạnh tâm linh vượt trội hơn vía, nên người còn sống thường tránh nhắc tới hồn.
B, Hồn chịu trách nhiệm tạo nên vận mệnh, còn vía chỉ điều khiển hành vi bên ngoài.
C, Vía có thể gây họa nếu xấu, nhưng hồn luôn mang lại vận may làm thay đổi cuộc sống của con người.
D, Người ta tin nếu nói tên hồn người sống sẽ khơi phóng may rủi hoặc hiện tượng mất vía.
Đáp án đúng: B. Vì trong văn hóa Việt, “bánh” vốn không gắn với bữa ăn chính như “cơm”.
Căn cứ văn bản – đoạn [2]:
“Loại thức ăn này tồn tại trong cái nhìn của dân ta là bánh — hiểu là món ăn chơi, không phải là thực phẩm thường xuyên như cơm…”
Tác giả giải thích rất rõ: trong cái nhìn truyền thống, “bánh” = món ăn chơi, còn “cơm” = thực phẩm chính, dùng cho bữa ăn “đàng hoàng”.
Vì thế, khi bánh mì xuất hiện, nó được xếp vào nhóm “bánh” → bị coi là món ăn chơi, không phải “thức ăn chính” như cơm.
Loại đáp án nhiễu:
A. Vì bánh mì quá đắt đỏ… → Văn bản không hề nói bánh mì đắt, chỉ nói về cách nhìn văn hóa: “bánh” ≠ cơm.
C. Vì người Việt không quen vị… và có giá thành đắt đỏ → Vừa gán thêm “không quen vị”, vừa gán “giá đắt”, đều không có trong văn bản.
D. Vì bánh mì chỉ được bán trong các tiệm ăn sang trọng… → Hoàn toàn không có thông tin này.
✅ B bám sát đúng cụm: “bánh — món ăn chơi, không… như cơm”. Đáp án: B
Căn cứ văn bản – đoạn [2]:
“Loại thức ăn này tồn tại trong cái nhìn của dân ta là bánh — hiểu là món ăn chơi, không phải là thực phẩm thường xuyên như cơm…”
Tác giả giải thích rất rõ: trong cái nhìn truyền thống, “bánh” = món ăn chơi, còn “cơm” = thực phẩm chính, dùng cho bữa ăn “đàng hoàng”.
Vì thế, khi bánh mì xuất hiện, nó được xếp vào nhóm “bánh” → bị coi là món ăn chơi, không phải “thức ăn chính” như cơm.
Loại đáp án nhiễu:
A. Vì bánh mì quá đắt đỏ… → Văn bản không hề nói bánh mì đắt, chỉ nói về cách nhìn văn hóa: “bánh” ≠ cơm.
C. Vì người Việt không quen vị… và có giá thành đắt đỏ → Vừa gán thêm “không quen vị”, vừa gán “giá đắt”, đều không có trong văn bản.
D. Vì bánh mì chỉ được bán trong các tiệm ăn sang trọng… → Hoàn toàn không có thông tin này.
✅ B bám sát đúng cụm: “bánh — món ăn chơi, không… như cơm”. Đáp án: B
Câu 2 [1073086]: Trong văn bản, đàn ông có bảy vía, phụ nữ có chín vía và có quan niệm rằng “hai vía thêm ở phụ nữ” chính là hai núm vú. Ý nghĩa sâu xa của quan niệm này phản ánh điều gì về cách dân gian nhìn nhận vai trò giới tính?
A, Phụ nữ được coi là có nhiều linh hồn hơn, nên thường được xem là thiêng hơn đàn ông và có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng con cái
B, Sự khác biệt về số lượng vía phản ánh vai trò đặc biệt của phụ nữ trong việc nuôi dưỡng, gắn với thiên chức làm mẹ.
C, Người Việt quan niệm nữ giới yếu đuối hơn, cần nhiều vía để bù đắp cho sự thiếu hụt thể chất và đề cao thiên chức làm mẹ.
D, Quan niệm này cho thấy người xưa coi vai trò của phụ nữ trong việc nuôi dưỡng, gắn với thiên chức làm mẹ.
Đáp án đúng: B. Vì nguyên liệu gốc có nguồn từ châu Âu nhưng được nêm nếm theo khẩu vị Hoa – Việt.
Căn cứ văn bản – đoạn [5]:
“bánh mì xíu mại, bánh mì xá xíu, bánh mì phết tương đen, kẹp lạp xưởng... là cuộc hôn phối Tây – Tàu.”
“Tây”: chính là bánh mì – món ăn có nguồn gốc phương Tây.
“Tàu”: xíu mại, xá xíu, tương đen, lạp xưởng… là các món/quầng vị có nguồn gốc Hoa. → Bản thân cụm “hôn phối Tây – Tàu” đã nói tới sự kết hợp giữa bánh mì phương Tây và nhân/khẩu vị Hoa (rồi Việt hóa).
Loại đáp án nhiễu:
A. Quy trình làm giống bánh bao Trung Hoa → Văn bản không hề nói đến quy trình làm, chỉ nói cách kết hợp món.
C. Người Pháp hướng dẫn người Hoa làm món này → Không có chi tiết lịch sử đó.
D. Kết hợp thịt bò và xốt vang của ẩm thực Pháp → Chi tiết này thuộc về món bò kho ở đoạn [6], không phải bánh mì xíu mại, xá xíu, tương đen, lạp xưởng ở đoạn [5].
✅ B là phương án diễn giải đúng tinh thần “Tây – Tàu”: bánh (Tây) + nhân vị Hoa (Tàu) + sự biến tấu tại xứ ta. Đáp án: B
Căn cứ văn bản – đoạn [5]:
“bánh mì xíu mại, bánh mì xá xíu, bánh mì phết tương đen, kẹp lạp xưởng... là cuộc hôn phối Tây – Tàu.”
“Tây”: chính là bánh mì – món ăn có nguồn gốc phương Tây.
“Tàu”: xíu mại, xá xíu, tương đen, lạp xưởng… là các món/quầng vị có nguồn gốc Hoa. → Bản thân cụm “hôn phối Tây – Tàu” đã nói tới sự kết hợp giữa bánh mì phương Tây và nhân/khẩu vị Hoa (rồi Việt hóa).
Loại đáp án nhiễu:
A. Quy trình làm giống bánh bao Trung Hoa → Văn bản không hề nói đến quy trình làm, chỉ nói cách kết hợp món.
C. Người Pháp hướng dẫn người Hoa làm món này → Không có chi tiết lịch sử đó.
D. Kết hợp thịt bò và xốt vang của ẩm thực Pháp → Chi tiết này thuộc về món bò kho ở đoạn [6], không phải bánh mì xíu mại, xá xíu, tương đen, lạp xưởng ở đoạn [5].
✅ B là phương án diễn giải đúng tinh thần “Tây – Tàu”: bánh (Tây) + nhân vị Hoa (Tàu) + sự biến tấu tại xứ ta. Đáp án: B
Câu 3 [1073087]: Nhận định nào sau đây không phù hợp với tinh thần phê phán học thuật hiện đại khi tiếp cận tín ngưỡng này?
A, Nghi lễ thờ cúng cần được hiểu trong bối cảnh văn hóa truyền thống và tín ngưỡng dân gian.
B, Một số biểu hiện thờ cúng quá mức có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi xã hội.
C, Tín ngưỡng thờ cúng cần được giữ nguyên bản sắc và hạn chế tiếp nhận các ảnh hưởng văn hóa nước ngoài.
D, Phân tích nghi thức nên tổng hợp từ góc độ xã hội học, lịch sử và tâm lý học.
Đáp án đúng: C. Quá trình giao lưu – xung đột – thích ứng là động lực để hình thành giá trị mới.
Căn cứ đoạn [8]:
“đó là một quá trình tiêu biểu cho cuộc đụng đầu lịch sử: tập trung những xung đột và giao lưu, những áp đặt và giải trừ, những áp bức và đấu tranh, những thất bại đau thương và những thắng lợi hào hùng, những thách thức của tình trạng thế giới hoá và những nỗ lực bảo tồn phong hoá.”
Tác giả không hề mô tả việc tiếp nhận bánh mì như sự “nuốt trọn” thụ động, mà là một quá trình va chạm – xung đột – đấu tranh – chọn lọc – bảo tồn.
Từ đó, bánh mì được “Việt hóa”, trở thành một thành tố của “văn hóa ẩm thực” chứ không còn là vật ngoại lai thuần túy.
Loại nhiễu:
A. Văn hóa Việt luôn bị động… → Ngược tinh thần đoạn [8]: có “đấu tranh”, “thắng lợi hào hùng”, “bảo tồn phong hoá”.
B. Hội nhập do ép buộc chính trị từ phương Tây → Văn bản có nhắc “áp đặt và giải trừ”, nhưng không quy về chỉ ép buộc chính trị, mà là quá trình phức tạp và hai chiều.
D. Ẩm thực độc lập với biến động lịch sử → Đoạn [8] chứng minh ngược lại: hội nhập bánh mì gắn chặt với lịch sử xung đột – thế giới hóa – bảo tồn văn hóa.
✅ C khái quát đúng nhất: chính giao lưu – xung đột – thích ứng tạo nên giá trị văn hóa mới. Đáp án: C
Căn cứ đoạn [8]:
“đó là một quá trình tiêu biểu cho cuộc đụng đầu lịch sử: tập trung những xung đột và giao lưu, những áp đặt và giải trừ, những áp bức và đấu tranh, những thất bại đau thương và những thắng lợi hào hùng, những thách thức của tình trạng thế giới hoá và những nỗ lực bảo tồn phong hoá.”
Tác giả không hề mô tả việc tiếp nhận bánh mì như sự “nuốt trọn” thụ động, mà là một quá trình va chạm – xung đột – đấu tranh – chọn lọc – bảo tồn.
Từ đó, bánh mì được “Việt hóa”, trở thành một thành tố của “văn hóa ẩm thực” chứ không còn là vật ngoại lai thuần túy.
Loại nhiễu:
A. Văn hóa Việt luôn bị động… → Ngược tinh thần đoạn [8]: có “đấu tranh”, “thắng lợi hào hùng”, “bảo tồn phong hoá”.
B. Hội nhập do ép buộc chính trị từ phương Tây → Văn bản có nhắc “áp đặt và giải trừ”, nhưng không quy về chỉ ép buộc chính trị, mà là quá trình phức tạp và hai chiều.
D. Ẩm thực độc lập với biến động lịch sử → Đoạn [8] chứng minh ngược lại: hội nhập bánh mì gắn chặt với lịch sử xung đột – thế giới hóa – bảo tồn văn hóa.
✅ C khái quát đúng nhất: chính giao lưu – xung đột – thích ứng tạo nên giá trị văn hóa mới. Đáp án: C
Câu 4 [1073088]: Trong văn bản, chi tiết “Ba hồn bao gồm Tinh (sự tinh tế trong nhận thức), Khí (năng lượng tạo nên cơ thể), và Thần (linh hồn của sự sống)” cho thấy điều gì về cách cấu tạo tâm linh của con người theo dân gian?
A, Mỗi phần hồn đều gắn với một chức năng tinh thần cụ thể riêng biệt
B, Tinh – Khí – Thần chỉ tồn tại ở người chết, không phải người sống.
C, Các yếu tố này mang tính vật chất thuần túy, có liên quan mật thiết đến yếu tố tâm linh.
D, Tinh – Khí – Thần là các trạng thái biến đổi và thay đổi linh hoạt của linh hồn và thể xác.
Đáp án đúng: B. Những biến dạng văn hóa ban đầu gây khó chịu nhưng có khả năng hòa nhập, chuyển hóa tích cực về sau.
Căn cứ đoạn [9]:
“nơi đây… đã sản sinh các “cục bướu văn xã" mà thoạt nhìn có phần lại tạp, kì quái… Tuy nhiên, trong thực tế, các cục bướu này về sau lại được lồng ghép vào đời sống dân tộc và không ít trường hợp đã thành công… bởi vì chúng đáp ứng được nhu cầu ích dụng của cuộc sống đời thường và xu thế phát triển.”
“Cục bướu văn xã” là hình ảnh ẩn dụ: ban đầu trông như khối u, “tạp”, “kì quái”, bị nghi ngại.
Nhưng về sau, nhiều “cục bướu” lại được chấp nhận, lồng ghép, trở thành phần của cơ thể văn hóa dân tộc vì chúng hữu dụng và phù hợp với xu thế.
Loại nhiễu:
A. Gây cản trở nghiêm trọng cho phát triển → Văn bản cho thấy ngược lại: có nhiều “cục bướu” thành công, đáp ứng nhu cầu.
C. Giá trị ngoại lai độc hại xâm lấn… → Cách nhìn ban đầu có thể là nghi ngại, nhưng kết luận là nhiều yếu tố được tích hợp thành công.
D. Phong trào nhất thời, không giá trị lâu dài → Văn bản nói “được minh định lẫn mặc định”, tức là có giá trị bền trong đời sống.
✅ B diễn giải chính xác sắc thái mỉa – mà thương: “bướu” nhưng lại có khi là “tế bào mới” của văn hóa. Đáp án: B
Căn cứ đoạn [9]:
“nơi đây… đã sản sinh các “cục bướu văn xã" mà thoạt nhìn có phần lại tạp, kì quái… Tuy nhiên, trong thực tế, các cục bướu này về sau lại được lồng ghép vào đời sống dân tộc và không ít trường hợp đã thành công… bởi vì chúng đáp ứng được nhu cầu ích dụng của cuộc sống đời thường và xu thế phát triển.”
“Cục bướu văn xã” là hình ảnh ẩn dụ: ban đầu trông như khối u, “tạp”, “kì quái”, bị nghi ngại.
Nhưng về sau, nhiều “cục bướu” lại được chấp nhận, lồng ghép, trở thành phần của cơ thể văn hóa dân tộc vì chúng hữu dụng và phù hợp với xu thế.
Loại nhiễu:
A. Gây cản trở nghiêm trọng cho phát triển → Văn bản cho thấy ngược lại: có nhiều “cục bướu” thành công, đáp ứng nhu cầu.
C. Giá trị ngoại lai độc hại xâm lấn… → Cách nhìn ban đầu có thể là nghi ngại, nhưng kết luận là nhiều yếu tố được tích hợp thành công.
D. Phong trào nhất thời, không giá trị lâu dài → Văn bản nói “được minh định lẫn mặc định”, tức là có giá trị bền trong đời sống.
✅ B diễn giải chính xác sắc thái mỉa – mà thương: “bướu” nhưng lại có khi là “tế bào mới” của văn hóa. Đáp án: B
Câu 5 [1073089]: Từ các đoạn liên quan đến các linh hồn bất hạnh không được thờ cúng, có thể suy ra nguyên nhân sâu xa khiến người Việt hay cúng cô hồn, rằm tháng 7, hoặc rải cháo gạo ở các ngã ba đường là gì?
A, Để cầu xin may mắn, tài lộc từ các linh hồn lang thang, đồng thời thể hiện sự nhớ ơn ông bà, tổ tiên nhiều đời.
B, Để chuộc lỗi, an ủi tinh thần khi không thể chăm lo hết cho người chết.
C, Vì lo sợ bị các linh hồn oán hận quấy phá nên cần xoa dịu.
D, Vì quan niệm nhân ái, kết hợp với truyền thống xưa cổ, thể hiện sự quan tâm đến người đã mất.
Đáp án đúng: C. Tiếp biến văn hóa là quá trình vừa tự nhiên vừa có định hướng, vừa ngẫu nhiên vừa có chọn lọc.
Căn cứ:
Đoạn [5], [6] – về lai tạp Tây – Tàu – Ta trong món ăn:
“cuộc hôn phối Tây – Tàu” “tổng hợp phẩm Tây – Ta”… → Cho thấy nhiều sự kết hợp diễn ra rất tự nhiên, từ nhu cầu ăn uống, khẩu vị, thực tế đời sống.
Đoạn [8] – về “xung đột và giao lưu”, “áp đặt và giải trừ”, “áp bức và đấu tranh”… → Không phải chỉ có một phía áp đặt hay chỉ một chiều chủ động; đó là quá trình lịch sử phức hợp.
Đoạn [10]:
“văn hoá không thoát li được lịch sử… không độc lập với các điều kiện… chính trị, kinh tế, xã hội…” “văn hóa phát triển đồng thời trên cả hai con đường tự giác và tự phát, trong từng thời đoạn cụ thể, mỗi con đường mạnh yếu khác nhau, nhưng chúng luôn tương tác để tạo nên sự cân bằng…”
“Tự giác” → phần định hướng, chủ trương, ý thức.
“Tự phát” → phần ngẫu nhiên, tự nhiên, từ đời sống thường nhật.
Chúng “tương tác” → vừa có tự nhiên, vừa có chọn lọc, điều chỉnh.
Loại nhiễu:
A. Chỉ tự nhiên, không cần định hướng → trái với “tự giác và tự phát”.
B. Chỉ thành công khi có kế hoạch hóa từ trên xuống → cũng trái với ý văn bản, vì tác giả nhấn mạnh hai con đường cùng tồn tại.
D. Càng ít kiểm soát càng dễ thành công → văn bản không hề khẳng định điều này.
✅ C là đáp án duy nhất phản ánh đúng luận điểm: văn hóa luôn cân bằng giữa tự phát và tự giác, giữa ngẫu nhiên và định hướng. Đáp án: C
Căn cứ:
Đoạn [5], [6] – về lai tạp Tây – Tàu – Ta trong món ăn:
“cuộc hôn phối Tây – Tàu” “tổng hợp phẩm Tây – Ta”… → Cho thấy nhiều sự kết hợp diễn ra rất tự nhiên, từ nhu cầu ăn uống, khẩu vị, thực tế đời sống.
Đoạn [8] – về “xung đột và giao lưu”, “áp đặt và giải trừ”, “áp bức và đấu tranh”… → Không phải chỉ có một phía áp đặt hay chỉ một chiều chủ động; đó là quá trình lịch sử phức hợp.
Đoạn [10]:
“văn hoá không thoát li được lịch sử… không độc lập với các điều kiện… chính trị, kinh tế, xã hội…” “văn hóa phát triển đồng thời trên cả hai con đường tự giác và tự phát, trong từng thời đoạn cụ thể, mỗi con đường mạnh yếu khác nhau, nhưng chúng luôn tương tác để tạo nên sự cân bằng…”
“Tự giác” → phần định hướng, chủ trương, ý thức.
“Tự phát” → phần ngẫu nhiên, tự nhiên, từ đời sống thường nhật.
Chúng “tương tác” → vừa có tự nhiên, vừa có chọn lọc, điều chỉnh.
Loại nhiễu:
A. Chỉ tự nhiên, không cần định hướng → trái với “tự giác và tự phát”.
B. Chỉ thành công khi có kế hoạch hóa từ trên xuống → cũng trái với ý văn bản, vì tác giả nhấn mạnh hai con đường cùng tồn tại.
D. Càng ít kiểm soát càng dễ thành công → văn bản không hề khẳng định điều này.
✅ C là đáp án duy nhất phản ánh đúng luận điểm: văn hóa luôn cân bằng giữa tự phát và tự giác, giữa ngẫu nhiên và định hướng. Đáp án: C
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.
VĂN BẢN 2
Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam với hai thành phần chính: đột quỵ và IHD, tự chúng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Khác với những gì được thấy ở các nước công nghiệp hóa, đột quỵ cướp đi sinh mạng của nhiều nạn nhân hơn IHD mỗi năm. Mô hình này không chỉ có ở Việt Nam mà còn được thấy ở các nước khác trong khu vực Đông Nam Á và phần còn lại của Châu Á (ví dụ như Trung Quốc). Lý do cho sự ưu tiên của đột quỵ so với IHD này vẫn chưa được biết rõ nhưng nó đã được quan sát và thảo luận trong một số năm. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra bao gồm lượng protein tương đối thấp và lượng muối tiêu thụ cao. Giả thuyết về chế độ ăn uống cho tim cho rằng tác động của tăng huyết áp, tiểu đường, hút thuốc và các yếu tố nguy cơ khác trong một quần thể có chế độ ăn ít gây xơ vữa động mạch có ý nghĩa hơn ở động mạch não so với động mạch tim. Khi chế độ ăn uống của các quốc gia này thay đổi theo hướng phương Tây hóa hơn, mô hình CVD thay đổi và IHD trở nên nổi bật hơn đột quỵ. 21 22 Thành công trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh truyền nhiễm là động lực quan trọng nhất đằng sau sự gia tăng tuổi thọ được quan sát thấy của người Việt Nam. Thách thức mà quốc gia đang phải đối mặt hiện nay, để đảm bảo duy trì và cải thiện mức tăng tuổi thọ, tỷ lệ mắc bệnh và tàn tật, là tránh làm xấu đi các thói quen sống vốn là những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch, đồng thời điều trị thành công các bệnh lý (ví dụ: huyết áp cao, tiểu đường, cholesterol máu cao) vốn là nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch, đột quỵ, các biểu hiện bệnh tim mạch khác và các bệnh lý mạn tính suy nhược khác, cũng như các nguyên nhân gây tử vong. Các số liệu về tỷ lệ mắc bệnh, nhận thức và kiểm soát tăng huyết áp đang ở mức báo động, đặc biệt là tỷ lệ rất thấp những người tăng huyết áp được nhận thức, điều trị và kiểm soát thành công. Những con số này cho thấy nhu cầu triển khai các chiến lược giáo dục cho cả cộng đồng nói chung và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe.
Bệnh tiểu đường cũng đang gia tăng với tỷ lệ mắc bệnh ước tính sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030. Mức độ hoạt động thể chất thấp, thừa cân và béo phì đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức gia tăng dự kiến. Thật không may, như đã mô tả, những thói quen sống chính của người Việt Nam đang nhanh chóng thay đổi theo hướng không lành mạnh hơn, điều này sẽ ảnh hưởng đến những cải thiện lâu dài đã được quan sát thấy cho đến nay ở Việt Nam.
Việc Tây hóa chế độ ăn uống truyền thống của người Việt với mật độ calo cao, hàm lượng chất béo, mỡ động vật, đường đơn cao, lượng trái cây và rau quả thấp cuối cùng sẽ được phản ánh trong việc gia tăng gánh nặng bệnh tim mạch, đặc biệt nếu điều này không đi kèm với các chiến lược toàn diện để ngăn ngừa và điều trị thành công huyết áp cao và bệnh tiểu đường và chiến dịch thành công nhằm giảm hút thuốc lá và tác động có hại mạnh mẽ của nó không chỉ đối với người hút thuốc mà còn đối với những người sống và làm việc xung quanh họ. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở Việt Nam thấp và con số hiện tại đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia có tỷ lệ béo phì thấp nhất trên thế giới, tuy nhiên xu hướng quan sát được là đáng lo ngại và nếu không được kiểm soát, các xu hướng hiện tại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân Việt Nam. Hút thuốc lá và uống nhiều rượu là một thách thức đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng, chủ yếu giới hạn ở nam giới ở cả nông thôn và thành thị. Các chiến lược giáo dục và phòng ngừa đã được thực hiện nhưng thành công cho đến nay vẫn còn rất nhỏ.
...
Việt Nam là một quốc gia năng động đang trải qua sự thay đổi nhanh chóng và đáng kể về kinh tế với những thay đổi mạnh mẽ về điều kiện kinh tế và xã hội của nhiều người Việt Nam. Sự chuyển đổi này gắn liền với những thay đổi đáng kể về mô hình bệnh tật và tử vong với tuổi thọ trung bình tăng đáng kể (21 năm trong 50 năm qua) và bệnh mãn tính chiếm ưu thế là nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật. Để duy trì và cải thiện mức tăng tuổi thọ trung bình, điều quan trọng là phải giải quyết các yếu tố rủi ro về môi trường và lối sống đã được xác định là đóng vai trò chính trong nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của các bệnh mãn tính. Xu hướng hiện tại của các yếu tố rủi ro này là không thuận lợi, và điều quan trọng là cá nhân và cộng đồng phải áp dụng một cách tiếp cận đa hướng; một cách tiếp cận bao gồm hành động lập pháp và các chiến dịch giáo dục, nhắm vào công chúng và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, sẽ giúp hiểu được tác động của các hành vi đối với sức khỏe và tầm quan trọng của việc phòng ngừa và điều trị chúng khi được xác định.
Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam với hai thành phần chính: đột quỵ và IHD, tự chúng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Khác với những gì được thấy ở các nước công nghiệp hóa, đột quỵ cướp đi sinh mạng của nhiều nạn nhân hơn IHD mỗi năm. Mô hình này không chỉ có ở Việt Nam mà còn được thấy ở các nước khác trong khu vực Đông Nam Á và phần còn lại của Châu Á (ví dụ như Trung Quốc). Lý do cho sự ưu tiên của đột quỵ so với IHD này vẫn chưa được biết rõ nhưng nó đã được quan sát và thảo luận trong một số năm. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra bao gồm lượng protein tương đối thấp và lượng muối tiêu thụ cao. Giả thuyết về chế độ ăn uống cho tim cho rằng tác động của tăng huyết áp, tiểu đường, hút thuốc và các yếu tố nguy cơ khác trong một quần thể có chế độ ăn ít gây xơ vữa động mạch có ý nghĩa hơn ở động mạch não so với động mạch tim. Khi chế độ ăn uống của các quốc gia này thay đổi theo hướng phương Tây hóa hơn, mô hình CVD thay đổi và IHD trở nên nổi bật hơn đột quỵ. 21 22 Thành công trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh truyền nhiễm là động lực quan trọng nhất đằng sau sự gia tăng tuổi thọ được quan sát thấy của người Việt Nam. Thách thức mà quốc gia đang phải đối mặt hiện nay, để đảm bảo duy trì và cải thiện mức tăng tuổi thọ, tỷ lệ mắc bệnh và tàn tật, là tránh làm xấu đi các thói quen sống vốn là những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch, đồng thời điều trị thành công các bệnh lý (ví dụ: huyết áp cao, tiểu đường, cholesterol máu cao) vốn là nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch, đột quỵ, các biểu hiện bệnh tim mạch khác và các bệnh lý mạn tính suy nhược khác, cũng như các nguyên nhân gây tử vong. Các số liệu về tỷ lệ mắc bệnh, nhận thức và kiểm soát tăng huyết áp đang ở mức báo động, đặc biệt là tỷ lệ rất thấp những người tăng huyết áp được nhận thức, điều trị và kiểm soát thành công. Những con số này cho thấy nhu cầu triển khai các chiến lược giáo dục cho cả cộng đồng nói chung và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe.
Bệnh tiểu đường cũng đang gia tăng với tỷ lệ mắc bệnh ước tính sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030. Mức độ hoạt động thể chất thấp, thừa cân và béo phì đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức gia tăng dự kiến. Thật không may, như đã mô tả, những thói quen sống chính của người Việt Nam đang nhanh chóng thay đổi theo hướng không lành mạnh hơn, điều này sẽ ảnh hưởng đến những cải thiện lâu dài đã được quan sát thấy cho đến nay ở Việt Nam.
Việc Tây hóa chế độ ăn uống truyền thống của người Việt với mật độ calo cao, hàm lượng chất béo, mỡ động vật, đường đơn cao, lượng trái cây và rau quả thấp cuối cùng sẽ được phản ánh trong việc gia tăng gánh nặng bệnh tim mạch, đặc biệt nếu điều này không đi kèm với các chiến lược toàn diện để ngăn ngừa và điều trị thành công huyết áp cao và bệnh tiểu đường và chiến dịch thành công nhằm giảm hút thuốc lá và tác động có hại mạnh mẽ của nó không chỉ đối với người hút thuốc mà còn đối với những người sống và làm việc xung quanh họ. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở Việt Nam thấp và con số hiện tại đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia có tỷ lệ béo phì thấp nhất trên thế giới, tuy nhiên xu hướng quan sát được là đáng lo ngại và nếu không được kiểm soát, các xu hướng hiện tại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân Việt Nam. Hút thuốc lá và uống nhiều rượu là một thách thức đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng, chủ yếu giới hạn ở nam giới ở cả nông thôn và thành thị. Các chiến lược giáo dục và phòng ngừa đã được thực hiện nhưng thành công cho đến nay vẫn còn rất nhỏ.
...
Việt Nam là một quốc gia năng động đang trải qua sự thay đổi nhanh chóng và đáng kể về kinh tế với những thay đổi mạnh mẽ về điều kiện kinh tế và xã hội của nhiều người Việt Nam. Sự chuyển đổi này gắn liền với những thay đổi đáng kể về mô hình bệnh tật và tử vong với tuổi thọ trung bình tăng đáng kể (21 năm trong 50 năm qua) và bệnh mãn tính chiếm ưu thế là nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật. Để duy trì và cải thiện mức tăng tuổi thọ trung bình, điều quan trọng là phải giải quyết các yếu tố rủi ro về môi trường và lối sống đã được xác định là đóng vai trò chính trong nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của các bệnh mãn tính. Xu hướng hiện tại của các yếu tố rủi ro này là không thuận lợi, và điều quan trọng là cá nhân và cộng đồng phải áp dụng một cách tiếp cận đa hướng; một cách tiếp cận bao gồm hành động lập pháp và các chiến dịch giáo dục, nhắm vào công chúng và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, sẽ giúp hiểu được tác động của các hành vi đối với sức khỏe và tầm quan trọng của việc phòng ngừa và điều trị chúng khi được xác định.
Nguồn: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC7664505/?
Câu 6 [1073090]: Theo văn bản, tại sao đột quỵ lại là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam chứ không phải bệnh tim thiếu máu cục bộ (IHD), như tại các nước công nghiệp hóa?
A, Vì Việt Nam chưa có hệ thống cấp cứu IHD đầy đủ như phương Tây.
B, Vì tỉ lệ người Việt ăn nhiều đạm và tiêu thụ muối thấp hơn các nước phát triển.
C, Vì các yếu tố nguy cơ như huyết áp, tiểu đường,... gây tổn thương não nhiều hơn tim do đặc điểm chế độ ăn.
D, Vì người Việt có xu hướng bị các bệnh tiêu đường, huyết áp cao và ít quan tâm đến điều trị bệnh tim trước khi quá muộn.
Trích dẫn – vị trí (đoạn mở đầu): “Giả thuyết về chế độ ăn uống cho tim cho rằng tác động của tăng huyết áp, tiểu đường, hút thuốc và các yếu tố nguy cơ khác trong một quần thể có chế độ ăn ít gây xơ vữa động mạch có ý nghĩa hơn ở động mạch não so với động mạch tim. Khi chế độ ăn… Tây hóa, mô hình CVD thay đổi và IHD trở nên nổi bật hơn đột quỵ.”
Suy luận: Văn bản thừa nhận “lý do… chưa được biết rõ”, nhưng nêu giả thuyết: trong chế độ ăn ít gây xơ vữa, gánh nặng yếu tố nguy cơ dồn nhiều hơn lên mạch não → tỉ lệ đột quỵ cao hơn IHD.
Loại trừ:
• A: không có chi tiết về “hệ thống cấp cứu IHD”.
• B: ngược văn bản (văn bản nêu “protein tương đối thấp và muối cao”, không phải muối thấp).
• D: không có dữ liệu “ngừng điều trị trước khi quá muộn”. Đáp án: C
Suy luận: Văn bản thừa nhận “lý do… chưa được biết rõ”, nhưng nêu giả thuyết: trong chế độ ăn ít gây xơ vữa, gánh nặng yếu tố nguy cơ dồn nhiều hơn lên mạch não → tỉ lệ đột quỵ cao hơn IHD.
Loại trừ:
• A: không có chi tiết về “hệ thống cấp cứu IHD”.
• B: ngược văn bản (văn bản nêu “protein tương đối thấp và muối cao”, không phải muối thấp).
• D: không có dữ liệu “ngừng điều trị trước khi quá muộn”. Đáp án: C
Câu 7 [1073091]: Qua toàn bộ văn bản, có thể rút ra mối quan hệ nào sau đây giữa phát triển kinh tế và mô hình bệnh tật tại Việt Nam?
A, Kinh tế phát triển giúp giảm hẳn cả bệnh truyền nhiễm và mãn tính nhưng gia tăng bệnh tim mạch
B, Kinh tế tăng trưởng đi kèm sự gia tăng bệnh tim mạch do thay đổi lối sống.
C, Sự gia tăng thu nhập giúp tăng tỷ lệ tử vong do đột quỵ và các bệnh nan y
D, Phát triển đô thị kéo theo tỷ lệ người hút thuốc và uống rượu tăng cao.
Trích dẫn – vị trí (đoạn cuối): “Việt Nam… thay đổi nhanh… Sự chuyển đổi này gắn liền với những thay đổi đáng kể về mô hình bệnh tật và tử vong… bệnh mãn tính chiếm ưu thế là nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật.”
Bổ trợ (các đoạn giữa):
“Những thói quen sống… đang nhanh chóng thay đổi theo hướng không lành mạnh hơn… Tây hóa chế độ ăn… sẽ gia tăng gánh nặng bệnh tim mạch… hút thuốc, rượu là thách thức đáng kể… thành công… còn rất nhỏ.”
Suy luận: Tăng tuổi thọ nhờ kiểm soát bệnh nhiễm trùng, nhưng đô thị hóa/Tây hóa lối sống → tăng CVD, ĐTĐ, béo phì.
Loại trừ:
• A: sai (bệnh mạn tăng, không “giảm hẳn”).
• C/D: không có câu chữ nào quy nạp như vậy; hút thuốc/rượu đã hiện diện ở cả nông thôn–thành thị, nhưng văn bản không quy trực tiếp cho “đô thị hóa làm tăng”. Đáp án: B
Bổ trợ (các đoạn giữa):
“Những thói quen sống… đang nhanh chóng thay đổi theo hướng không lành mạnh hơn… Tây hóa chế độ ăn… sẽ gia tăng gánh nặng bệnh tim mạch… hút thuốc, rượu là thách thức đáng kể… thành công… còn rất nhỏ.”
Suy luận: Tăng tuổi thọ nhờ kiểm soát bệnh nhiễm trùng, nhưng đô thị hóa/Tây hóa lối sống → tăng CVD, ĐTĐ, béo phì.
Loại trừ:
• A: sai (bệnh mạn tăng, không “giảm hẳn”).
• C/D: không có câu chữ nào quy nạp như vậy; hút thuốc/rượu đã hiện diện ở cả nông thôn–thành thị, nhưng văn bản không quy trực tiếp cho “đô thị hóa làm tăng”. Đáp án: B
Câu 8 [1073092]: Theo văn bản, vì sao giáo dục sức khỏe được xem là chiến lược cốt lõi nhưng chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng?
A, Vì nội dung giáo dục chưa đúng chuyên môn y khoa, chưa phổ cập rộng rãi trong đời sống
B, Vì người dân Việt Nam chưa tiếp cận được các phương tiện truyền thông đại chúng phổ cập giáo dục sức khỏe một cách toàn diện
C, Vì giáo dục cần đi kèm lập pháp và tác động đa chiều mới thay đổi được hành vi.
D, Vì người dân không tiếp cận và hiểu sâu sắc lời khuyên của chuyên gia sức khỏe.
Trích dẫn – vị trí (đoạn cuối): “Điều quan trọng là… áp dụng một cách tiếp cận đa hướng; một cách tiếp cận bao gồm hành động lập pháp và các chiến dịch giáo dục, nhắm vào công chúng và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe…”
Bổ trợ (đoạn giữa): “Các chiến lược giáo dục và phòng ngừa đã được thực hiện nhưng thành công… còn rất nhỏ.”
Suy luận: Chỉ truyền thông/khuyến cáo chưa đủ; cần khung chính sách + giáo dục đồng thời để chuyển đổi hành vi quy mô lớn.
Loại trừ: A/B/D: không có chỗ nào nói “nội dung chưa đúng chuyên môn/không tiếp cận phương tiện/không hiểu lời khuyên” là nguyên nhân chính. Đáp án: C
Bổ trợ (đoạn giữa): “Các chiến lược giáo dục và phòng ngừa đã được thực hiện nhưng thành công… còn rất nhỏ.”
Suy luận: Chỉ truyền thông/khuyến cáo chưa đủ; cần khung chính sách + giáo dục đồng thời để chuyển đổi hành vi quy mô lớn.
Loại trừ: A/B/D: không có chỗ nào nói “nội dung chưa đúng chuyên môn/không tiếp cận phương tiện/không hiểu lời khuyên” là nguyên nhân chính. Đáp án: C
Câu 9 [1073093]: Dựa trên các thông tin trong văn bản, có thể suy ra mối quan hệ giữa chuyển đổi mô hình dinh dưỡng và sự gia tăng tỷ lệ mắc IHD tại Việt Nam như thế nào?
A, Dinh dưỡng cải thiện giúp giảm tỷ lệ mắc IHD nhưng lại tăng nguy cơ đột quỵ.
B, Việc Tây hóa chế độ ăn truyền thống khiến tỷ lệ IHD tăng lên, thay thế vai trò của đột quỵ.
C, Dinh dưỡng không liên quan trực tiếp tới IHD mà chủ yếu tác động đến các bệnh truyền nhiễm.
D, Tây hóa khẩu phần ăn góp phần làm giảm huyết áp nhưng tăng cholesterol máu.
Trích dẫn – vị trí (đoạn mở đầu + đoạn giữa): “Khi chế độ ăn uống… Tây hóa hơn, mô hình CVD thay đổi và IHD trở nên nổi bật hơn đột quỵ.”
“Tây hóa chế độ ăn… mật độ calo cao, chất béo… đường đơn cao, ít rau quả… sẽ gia tăng gánh nặng bệnh tim mạch…”
Suy luận: Khẩu phần nhiều mỡ/đường/calo → xơ vữa động mạch vành tăng → IHD tăng, đột quỵ giảm tỷ trọng tương đối.
Loại trừ:
• A: trái văn bản.
• C: văn bản nêu dinh dưỡng liên quan trực tiếp đến CVD/IHD.
D: Tây hóa không “giảm huyết áp”; văn bản cảnh báo huyết áp/ĐTĐ cần kiểm soát. Đáp án: B
Suy luận: Khẩu phần nhiều mỡ/đường/calo → xơ vữa động mạch vành tăng → IHD tăng, đột quỵ giảm tỷ trọng tương đối.
Loại trừ:
• A: trái văn bản.
• C: văn bản nêu dinh dưỡng liên quan trực tiếp đến CVD/IHD.
D: Tây hóa không “giảm huyết áp”; văn bản cảnh báo huyết áp/ĐTĐ cần kiểm soát. Đáp án: B
Câu 10 [1073094]: Thông điệp cốt lõi của đoạn cuối văn bản có thể tóm gọn bằng câu nào sau đây?
A, Mọi cá nhân đều có trách nhiệm phòng bệnh cho chính mình, thực hiện các chính sách chung để bảo vệ sức khỏe
B, Muốn duy trì tuổi thọ, cần chống lão hóa bằng thuốc, kết hợp chế độ dinh dưỡng
C, Phòng bệnh mãn tính đòi hỏi nỗ lực phối hợp đa ngành, từ cá nhân đến chính sách.
D, Cần có các bệnh viện chuyên sâu mới đủ sức đối phó bệnh tim mạch.
Trích dẫn – vị trí (đoạn cuối): “Để duy trì và cải thiện… điều quan trọng là phải giải quyết các yếu tố rủi ro môi trường và lối sống… xu hướng hiện tại… không thuận lợi, và điều quan trọng là cá nhân và cộng đồng phải áp dụng một cách tiếp cận đa hướng; một cách tiếp cận bao gồm hành động lập pháp và các chiến dịch giáo dục, nhắm vào công chúng và các chuyên gia…”
Suy luận: Nhấn đồng thời: (i) cá nhân/cộng đồng thay đổi hành vi; (ii) lập pháp/chính sách; (iii) giáo dục rộng rãi.
Loại trừ:
• A: thiếu vế chính sách đa ngành và “đa hướng”.
• B: không nói đến “thuốc chống lão hóa”.
• D: không nêu “cần bệnh viện chuyên sâu” như trọng tâm.
Suy luận: Nhấn đồng thời: (i) cá nhân/cộng đồng thay đổi hành vi; (ii) lập pháp/chính sách; (iii) giáo dục rộng rãi.
Loại trừ:
• A: thiếu vế chính sách đa ngành và “đa hướng”.
• B: không nói đến “thuốc chống lão hóa”.
• D: không nêu “cần bệnh viện chuyên sâu” như trọng tâm.
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1073095]: Đã có ý kiến cho rằng: "Sống nhạt là một lựa chọn dễ dãi và nguy hiểm hơn cả sự cẩu thả hay bất lương, bởi nó bào mòn phẩm giá con người từ bên trong, khiến tâm hồn trở nên sa mạc hóa giữa cuộc đời vốn đĩ muôn màu."
Hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: “Sống nhạt là một lựa chọn dễ dãi và nguy hiểm hơn cả sự cẩu thả hay bất lương”.
Hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: “Sống nhạt là một lựa chọn dễ dãi và nguy hiểm hơn cả sự cẩu thả hay bất lương”.
DÀN Ý CHI TIẾT
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luậnTrong cuộc sống hiện đại, giữa những guồng quay hối hả của vật chất, danh vọng và mạng xã hội, không ít người chọn cho mình một lối sống “an toàn” thờ ơ, dửng dưng với mọi thứ xung quanh. Tuy nhiên, như một ý kiến sâu sắc đã cảnh báo: “Sống nhạt là một lựa chọn dễ dãi và nguy hiểm hơn cả sự cẩu thả hay bất lương, bởi nó bào mòn phẩm giá con người từ bên trong, khiến tâm hồn trở nên sa mạc hóa giữa cuộc đời vốn dĩ muôn màu.” Câu nói là lời thức tỉnh mạnh mẽ, khẳng định rằng sự vô cảm và sống hời hợt không chỉ làm con người đánh mất giá trị bản thân mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội.
2. Thân đoạn
2.1. Giải thích
“Sống nhạt” là lối sống thờ ơ, thiếu đam mê, thiếu trách nhiệm, không có mục tiêu, lí tưởng, chẳng có khát vọng sống, cũng không quan tâm đến người khác hay những giá trị tinh thần. “Sự cẩu thả hay bất lương” là những biểu hiện tiêu cực dễ nhận ra, song vẫn còn khả năng sửa chữa nếu con người ý thức được lỗi lầm. → Quan điểm trên nhấn mạnh rằng sống nhạt nguy hiểm hơn, vì nó làm bào mòn tâm hồn chai sạn, mất cảm xúc, khiến con người sống như một cái bóng vô hồn giữa xã hội.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
■ Cuộc sống vốn dĩ rất tươi đẹp, giàu ý nghĩa nhưng nó tùy thuộc vào tâm thế, cả mục đích khát vọng sống và những gía trị đích thực bạn tạo ra cho cuộc đời, xã hội. Tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra điều đó, do vậy, nhiều người chỉ đang thực sự “tồn tại” chứ đang không thực sự sống một cuộc đời ý nghĩa.
■ Sống nhạt khiến con người đánh mất ý nghĩa của sự tồn tại của mình trong cuộc sống. Khi không còn biết rung động, yêu thương hay dấn thân, con người dần trở nên trống rỗng, vô nghĩa giữa cuộc đời đầy cơ hội và sắc màu.
■ Đa phần những người như vậy sống không hề có mục tiêu, lí tưởng, hay kế hoạch trong tương lai mà cứ để cho cuộc đời của mình trôi nổi như con thuyền không bến bờ.
■ Lối sống ấy khiến con người mệt mỏi, thờ ơ, vô định, chẳng cảm nhận được niềm vui sống của cuộc đời, cũng không biết cách làm cho bức tranh cuộc đời của mình trở nên thú vị hơn.
■ Sống nhạt là căn bệnh của thời hiện đại, đó là khi con người mải chạy theo tiện nghi mà quên đi trách nhiệm và quên nuôi dưỡng tâm hồn, đời sống tinh thần khiến bản thân dần trở nên cô đơn, vô cảm, thờ ơ trước cuộc đời và con người. Người sống nhạt dễ thoả hiệp, không có chính kiến, không dám đấu tranh cho điều đúng, khiến xã hội mất đi những cá nhân dũng cảm và nhân văn.
■ Thứ ba, người sống nhạt cũng là người đánh mất khả năng sáng tạo và niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Bởi sáng tạo chỉ đến khi ta có đam mê, còn niềm tin chỉ tồn tại khi ta biết rung động và đồng cảm với cuộc sống, từ đó có thể khiến tâm hồn trở nên thờ ơ, vô cảm.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
■ Không chỉ dừng lại ở lối sống “độc thân kí sinh”, trong xã hội Nhật Bản hiện đại còn xuất hiện một biến thể đáng suy ngẫm hơn, đó là thế hệ “Satori”là những người trẻ gần như từ bỏ khát vọng tiền bạc, tình yêu và sự nghiệp, lựa chọn sống tối giản và thụ động.
■ Trong đời sống hiện nay, nhiều người trẻ sa vào thế giới ảo, sống dửng dưng với thời cuộc, thờ ơ trước bất công xã hội hay nỗi đau của người khác, đó cũng là biểu hiện của “sống nhạt”.
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
■ Tuy nhiên, cần phân biệt “sống nhạt” với sống bình thản, biết đủ, sống thảnh thơi, ung dung trước sóng gió và cả sự vận động không ngừng của cuộc đời. Có người chọn cuộc sống trầm lặng không phải vì thờ ơ, mà để lắng nghe, chiêm nghiệm, sống sâu sắc và sống có giá trị hơn. Do đó, vấn đề không nằm ở mức độ sôi nổi hay im lặng, mà ở thái độ con người phải biết sống có ý nghĩa, có rung động, và có trách nhiệm với cuộc đời.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
■ Mỗi người cần nhận thức rằng vô cảm chính là “kẻ thù thầm lặng” hủy hoại nhân tính. Hãy sống nhiệt huyết, dấn thân, biết yêu thương và sẻ chia, bởi chỉ khi ta thật sự sống, ta mới cảm nhận được giá trị của tồn tại. Tuổi trẻ cần nuôi dưỡng đam mê, quan tâm đến con người và các vấn đề xã hội, lan tỏa năng lượng tích cực để làm cho cuộc sống thêm ấm áp và ý nghĩa.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Quan điểm trên là lời cảnh tỉnh sâu sắc cho thế hệ hôm nay: “Sống nhạt” không chỉ là lối sống vô hại, mà là sự bào mòn âm thầm của nhân cách và cảm xúc. Giữa cuộc đời muôn sắc, hãy chọn sống thực sự có ý nghĩa, sống có cảm xúc, có trách nhiệm và có khát vọng, để không trở thành “kẻ mù lòa” trong thế giới đầy ánh sáng của nhân tính và yêu thương.
Bài viết tham khảo:
Giữa những guồng quay hối hả của vật chất, danh vọng và mạng xã hội, không ít người chọn cho mình một lối sống an toàn, thờ ơ và dửng dưng với mọi biến động xung quanh. Tuy nhiên, đã có ý kiến sâu sắc cho rằng “Sống nhạt là một lựa chọn dễ dãi và nguy hiểm hơn cả sự cẩu thả hay bất lương, bởi nó bào mòn phẩm giá con người từ bên trong, khiến tâm hồn trở nên sa mạc hóa giữa cuộc đời vốn dĩ muôn màu”, đó không chỉ là lời nhận xét mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh đối với mỗi chúng ta. “Sống nhạt” là lối sống thiếu mục tiêu, thiếu đam mê, không có lí tưởng, không quan tâm đến những giá trị tinh thần hay con người xung quanh, trong khi đó sự cẩu thả hay bất lương tuy tiêu cực nhưng vẫn còn khả năng nhận diện và sửa chữa. Chính vì vậy, sống nhạt trở nên nguy hiểm hơn bởi nó âm thầm làm chai sạn tâm hồn, khiến con người dần trở nên vô cảm, sống như một cái bóng giữa cuộc đời. Cuộc sống vốn là một bức tranh nhiều sắc màu, nơi con người được trao cơ hội để sống, để cảm và để tạo nên ý nghĩa cho chính mình. Nhưng ý nghĩa ấy không tự nhiên mà có, nó phụ thuộc vào cách mỗi người lựa chọn tồn tại.Con người không chỉ sống bằng sự tồn tại sinh học mà còn sống bằng những giá trị và ý nghĩa khiến cuộc đời trở nên đáng sống. Khi sống nhạt, con người đánh mất khả năng rung động trước cái đẹp, không còn thiết tha với những điều tốt đẹp, từ đó rơi vào trạng thái trống rỗng và vô định. Friedrich Nietzsche từng khẳng định “Ai có lí do để sống thì có thể chịu đựng hầu như mọi cách sống”, nhưng khi không còn lí do, con người sẽ dễ buông xuôi và đánh mất động lực. Nguy hiểm hơn, sống nhạt không chỉ dừng lại ở sự thờ ơ bề ngoài mà còn âm thầm bào mòn nhân cách. Khi con người không còn quan tâm đến đúng sai, họ dễ chấp nhận sự im lặng trước cái xấu, dễ thỏa hiệp với những điều lệch lạc, sai trái trong cuộc sống. Sự im lặng ấy tưởng chừng vô hại nhưng lại góp phần nuôi dưỡng cái ác tồn tại. Dần dần, con người quen với việc không liên quan đến mình và đánh mất trách nhiệm công dân. Một xã hội nếu thiếu những con người dám lên tiếng, dám hành động thì những giá trị tốt đẹp cũng sẽ bị lu mờ. Như Gandhi từng nhấn mạnh, muốn thay đổi thế giới, trước hết con người phải thay đổi chính mình. nhưng nếu con người sống nhạt, họ sẽ không còn đủ nhiệt huyết để thay đổi bất cứ điều gì. Ở một phương diện khác, sống nhạt còn làm thui chột khả năng sáng tạo và niềm tin sống. Bởi sáng tạo bắt nguồn từ cảm xúc, từ sự rung động trước cuộc đời. Albert Einstein từng khẳng định: “Trí tưởng tượng quan trọng hơn tri thức, bởi tri thức có giới hạn, còn trí tưởng tượng bao trùm cả thế giới.” nhưng trí tưởng tượng ấy chỉ có thể nảy sinh từ một tâm hồn biết sống sâu, biết cảm nhận. Khi con người trở nên vô cảm, họ không còn động lực khám phá hay theo đuổi những điều tốt đẹp, từ đó rơi vào trạng thái tồn tại cầm chừng. Thực tế đời sống hiện nay cũng cho thấy hiện tượng này đang dần trở nên phổ biến, như ở Nhật Bản với thế hệ “Satori”, những người trẻ từ bỏ khát vọng, sống thụ động và thiếu mục tiêu. Nhà văn Albert Camus từng trăn trở về trạng thái sống phi lí của con người khi đánh mất ý nghĩa tồn tại, và chính sự trống rỗng ấy là mảnh đất cho lối sống nhạt nhòa phát triển. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa sống nhạt và sống bình thản. Không phải sự trầm lặng nào cũng là vô cảm, thờ ơ trước cuộc sống. Có những con người chọn sống chậm để lắng nghe và cảm nhận sâu sắc hơn. Marcus Aurelius từng nói “Hạnh phúc của đời người phụ thuộc vào chất lượng suy nghĩ của họ”, điều đó cho thấy giá trị sống nằm ở chiều sâu nội tâm chứ không phải ở sự ồn ào bên ngoài. Sống bình thản là khi con người biết đủ nhưng vẫn giữ được khát vọng và trách nhiệm, còn sống nhạt là khi con người buông xuôi và đánh mất khả năng cảm nhận. Bởi vậy, mỗi người cần nhận thức rằng vô cảm chính là kẻ thù thầm lặng của nhân tính. Như Dostoevsky từng khẳng định, con người là một bí ẩn vô tận, và hành trình khám phá chính bản thân mình chưa bao giờ là vô nghĩa. Điều đó nhắc nhở rằng con người chỉ thực sự có ý nghĩa khi biết sống sâu và sống thật. Hãy sống nhiệt huyết hơn, biết yêu thương, sẻ chia và dấn thân vì những điều tốt đẹp. Helen Keller từng khẳng định “Cuộc sống là một cuộc phiêu lưu táo bạo hoặc không là gì cả”, nếu không dám sống hết mình, con người sẽ chỉ tồn tại mà không thực sự sống. Như vậy, sống nhạt không phải là một trạng thái vô hại mà là sự bào mòn âm thầm của tâm hồn và nhân cách. Giữa cuộc đời muôn sắc, mỗi chúng ta cần lựa chọn sống có ý nghĩa, sống có cảm xúc, có trách nhiệm và có khát vọng để không trở thành kẻ vô cảm trong một thế giới vốn tràn đầy ánh sáng của yêu thương và nhân tính. Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
Câu 12 [1073096]: Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
Những con đường về nam
Những dòng sông trái đất này đều đổ ra biển cả
Đất nước tôi, một thời
Tất cả những con đường đều hướng về Nam
Đôi lứa dằn lòng đem dải yếm bắc cầu nối đôi bờ xa cách
Nỗi nhớ đêm Nam, niềm thương ngày Bắc
Vắt qua bom lửa rập rình.
Bao bờ vai con gái dịu mềm
Gánh những con đường bay qua hủy diệt
Tuổi đổi mươi
Kết hoa mình trên sắt thép
Hương bưởi gội tóc thề vương vấn bước quân đi
Vòm ngực trẻ phơi nắng dãi mưa dầu
Chân dép lốp cao su
Và nhịp đập tuổi xuân ngạo cười cõi chết
Cho vạn lí băng xuyên về phía trước
Như dòng máu hồng bất tử dưới trời xanh
Nơi không gian, thời gian cháy một niềm tin
Nỗi khát chảy về Nam
Như sông suối vỡ òa tràn qua ghềnh thác
Như lứa đổi đã thương đến đỏ lòng, không thể gì chia cắt
Trái tim yêu mở lối của riêng mình
Đất nước một thời những con đường về Nam
Dẫu có tên hay không tên, nhưng đều không có tuổi
Tất cả đều hóa thân thành lịch sử
Chúng tôi như những hạt hồng cầu
Theo đó, mãi trôi đi.
Những con đường về nam
Những dòng sông trái đất này đều đổ ra biển cả
Đất nước tôi, một thời
Tất cả những con đường đều hướng về Nam
Đôi lứa dằn lòng đem dải yếm bắc cầu nối đôi bờ xa cách
Nỗi nhớ đêm Nam, niềm thương ngày Bắc
Vắt qua bom lửa rập rình.
Bao bờ vai con gái dịu mềm
Gánh những con đường bay qua hủy diệt
Tuổi đổi mươi
Kết hoa mình trên sắt thép
Hương bưởi gội tóc thề vương vấn bước quân đi
Vòm ngực trẻ phơi nắng dãi mưa dầu
Chân dép lốp cao su
Và nhịp đập tuổi xuân ngạo cười cõi chết
Cho vạn lí băng xuyên về phía trước
Như dòng máu hồng bất tử dưới trời xanh
Nơi không gian, thời gian cháy một niềm tin
Nỗi khát chảy về Nam
Như sông suối vỡ òa tràn qua ghềnh thác
Như lứa đổi đã thương đến đỏ lòng, không thể gì chia cắt
Trái tim yêu mở lối của riêng mình
Đất nước một thời những con đường về Nam
Dẫu có tên hay không tên, nhưng đều không có tuổi
Tất cả đều hóa thân thành lịch sử
Chúng tôi như những hạt hồng cầu
Theo đó, mãi trôi đi.
(Nguyễn Đình Minh, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 818 + 819 tháng 4/2015, tr.49)
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀIGiới thiệu tác giả: Nguyễn Đình Minh – nhà thơ trưởng thành trong môi trường quân đội, thơ ông giàu chất sử thi, đậm hơi thở chiến tranh và hậu chiến; nhiều sáng tác đăng trên Văn nghệ Quân đội.
Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ “Những con đường về Nam” được viết về một thời lịch sử hào hùng, khi cả dân tộc hướng về cuộc chiến giải phóng miền Nam.
Nêu vấn đề: Bài thơ tái hiện bằng giọng điệu trữ tình – sử thi vẻ đẹp của con người và đất nước trong những năm tháng chiến tranh, qua hình tượng những con đường hướng về Nam là biểu tượng của khát vọng giải phóng, của tình yêu, nỗi nhớ, niềm tin và sự hi sinh bất tận.
II. THÂN BÀI
1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm – hoàn cảnh ra đời
■ Nguyễn Đình Minh thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành sau chiến tranh nhưng luôn hướng ngòi bút về những ký ức lịch sử của dân tộc. Ông không trực tiếp sống trong những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, song trong thơ ông vẫn hiện diện một nỗi đau đáu với quá khứ, với hình ảnh người lính và những thế hệ tuổi trẻ đã dâng hiến đời mình cho đất nước. Thơ Nguyễn Đình Minh giàu chất suy tưởng, kết hợp giữa cảm hứng lịch sử và chiều sâu nhân văn, giữa ký ức tập thể và cái nhìn chiêm nghiệm của người viết hôm nay.
■ Bài thơ được in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2015, trong mạch sáng tác hướng về quá khứ dân tộc, tri ân một thời chiến tranh gian khổ mà hào hùng. Dù được viết ở thời bình, tác phẩm không chỉ là sự hồi tưởng mà còn là sự tái hiện đầy cảm xúc về một giai đoạn thiêng liêng của lịch sử.
■ Hình tượng trung tâm “những con đường về Nam” gợi nhắc thời chống Mỹ khi miền Nam là tiền tuyến lớn, là nơi hội tụ khát vọng thống nhất non sông. “Tất cả những con đường đều hướng về Nam” không chỉ phản ánh một thực tại lịch sử mà còn biểu tượng cho ý chí, cho niềm tin và sự dấn thân của cả dân tộc. Từ đó, bài thơ mở ra một không gian sử thi, nơi cá nhân hòa vào vận mệnh chung của đất nước trong những năm tháng quyết liệt nhất.
2. Phân tích nội dung bài thơ
■ Luận điểm 1: Hình tượng những con đường là biểu tượng chung của dân tộc trong khát vọng giải phóng và thống nhất đất nước.
■ Bài thơ mở ra bằng một so sánh giàu tính khái quát
“Những dòng sông trái đất này đều đổ ra biển cả Đất nước tôi, một thời Tất cả những con đường đều hướng về Nam”
Hình ảnh những dòng sông đổ ra biển cả gợi một quy luật tự nhiên mang tính tất yếu. Sông sinh ra để tìm về biển lớn, như một định hướng không thể đảo ngược. Trên nền quy luật ấy, nhà thơ nâng tầm lịch sử dân tộc lên thành một quy luật của thời đại. Nếu sông tìm biển, thì trong một thời khắc thiêng liêng của đất nước, mọi con đường đều hướng về Nam. Câu thơ không chỉ tả một phương hướng địa lí mà khắc họa một hướng đi của lịch sử, của ý chí dân tộc. “Một thời” là cách nói lặng lẽ mà trang trọng, gợi nhắc giai đoạn đất nước chia cắt, khi miền Nam là tiền tuyến lớn, nơi hội tụ khát vọng thống nhất non sông. Hướng về Nam vì thế không chỉ là di chuyển về không gian mà là dấn thân vì một sứ mệnh thiêng liêng.
■ Khát vọng ấy không chỉ hiện diện trong những đoàn quân, mà còn lan tỏa vào đời sống riêng tư của mỗi con người
“Đôi lứa dằn lòng đem dải yếm bắc cầu nối đôi bờ xa cách Nỗi nhớ đêm Nam, niềm thương ngày Bắc Vắt qua bom lửa rập rình”
Hình ảnh “dải yếm bắc cầu” mang đậm sắc thái văn hóa dân gian Việt Nam. Dải yếm vốn mềm mại, nữ tính, gắn với tình yêu đôi lứa. Khi “dằn lòng” đem dải yếm bắc cầu, đó là hành động của hi sinh và chia sẻ. Tình yêu riêng tư được đặt trong hoàn cảnh chia cắt, trở thành chiếc cầu nối hai bờ Bắc Nam xa cách. Cấu trúc “đêm Nam, ngày Bắc” tạo thế đối xứng, làm nổi bật nỗi nhớ và niềm thương trải dài trong mọi khoảnh khắc. Cụm từ “vắt qua bom lửa rập rình” cho thấy tình yêu không bị bom đạn dập tắt mà ngược lại, chính trong hiểm nguy, nó càng trở nên mãnh liệt.
■ Qua đó, hình tượng “những con đường về Nam” không chỉ mang ý nghĩa quân sự hay chính trị, mà còn chứa đựng tình người, tình yêu và những hi sinh thầm lặng. Con đường của dân tộc cũng là con đường của những trái tim riêng tư, nơi cái cá nhân hòa vào đại sự. Khát vọng giải phóng vì thế không phải mệnh lệnh khô cứng, mà là dòng chảy của tình thương và niềm tin, nâng đỡ dân tộc vượt qua năm tháng chiến tranh khốc liệt.
■ Luận điểm 2: Vẻ đẹp của thế hệ trẻ trong chiến tranh với sức mạnh vừa dịu dàng vừa kiêu hãnh, chứa đựng trong đó sức mạnh chiến đấu và niềm tin bất diệt vào một ngày mai tươi sáng như mạch máu xuyên suốt hành trình dân tộc.
■ Nếu những con đường về Nam là biểu tượng của khát vọng dân tộc thì những con người bước trên con đường ấy chính là linh hồn của lịch sử. Nguyễn Đình Minh đã khắc họa thế hệ trẻ bằng những hình ảnh giàu xúc cảm và đối lập đầy ấn tượng
“Bao bờ vai con gái dịu mềm Gánh những con đường bay qua hủy diệt Tuổi đôi mươi Kết hoa mình trên sắt thép”
■ Hình ảnh “bờ vai con gái dịu mềm” gợi vẻ đẹp nữ tính, thanh tân, mong manh của tuổi trẻ. Nhưng chính những bờ vai ấy lại “gánh những con đường bay qua hủy diệt”. Động từ “gánh” khiến con đường không còn là vật thể vô tri mà trở thành một trọng trách lịch sử. Các cô gái thanh niên xung phong, những người hậu phương lớn, đã nâng đỡ và tiếp sức cho tiền tuyến. Sự đối lập giữa “dịu mềm” và “hủy diệt”, giữa vẻ đẹp nữ tính và khốc liệt chiến tranh, làm nổi bật vẻ đẹp kiêu hãnh và bản lĩnh của người con gái Việt Nam trong thời bom đạn.
■ Cụm từ “kết hoa mình trên sắt thép” là một hình ảnh giàu chất lãng mạn. Hoa tượng trưng cho cái đẹp, cho tuổi trẻ, cho sự sống. Sắt thép gợi chiến tranh, bom đạn, khắc nghiệt. Khi tuổi đôi mươi “kết hoa mình trên sắt thép”, đó là sự hi sinh thầm lặng nhưng rực rỡ. Tuổi trẻ không chỉ chịu đựng chiến tranh mà còn làm đẹp chiến tranh bằng lý tưởng và tình yêu đất nước. Cái đẹp không bị hủy diệt, mà ngược lại tỏa sáng ngay giữa thử thách.
■ Bên cạnh đó, nhà thơ còn khắc họa vẻ đẹp dịu dàng, thấm đẫm hương quê, “Hương bưởi gội tóc thề vương vấn bước quân đi” Hương bưởi là mùi hương quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, của những mùa hoa trắng trong. “Gội tóc thề” gợi sự thủy chung, lời hẹn ước. Hương bưởi theo bước quân đi như một nguồn nâng đỡ tinh thần, như ký ức trong trẻo của quê hương tiếp sức cho người lính trên hành trình về Nam. Chính những điều bình dị ấy làm mềm đi sự khốc liệt của chiến tranh và làm sâu thêm ý nghĩa của sự dấn thân. Qua những hình ảnh ấy, Nguyễn Đình Minh không chỉ ca ngợi tinh thần chiến đấu mà còn tôn vinh vẻ đẹp toàn vẹn của thế hệ trẻ. Họ vừa can trường, dám “gánh con đường” vượt qua hủy diệt, vừa mang trong mình sự dịu dàng và tinh khiết của tuổi xuân. Chính sự hòa quyện giữa lý tưởng và tình yêu, giữa bản lĩnh và nhân ái đã làm nên vẻ đẹp bất tử của tuổi trẻ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh.
■ Nếu ở khổ thơ trước, thế hệ trẻ hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng mà kiêu hãnh, thì đến đây, họ được khắc họa trong tư thế trực diện của người chiến sĩ giữa chiến trường khốc liệt
“Vòm ngực trẻ phơi nắng dãi mưa dầu Chân dép lốp cao su Và nhịp đập tuổi xuân ngạo cười cõi chết”
Ba hình ảnh “vòm ngực trẻ”, “chân dép lốp cao su”, “nhịp đập tuổi xuân” tạo nên một chân dung vừa cụ thể vừa biểu tượng. “Vòm ngực trẻ” gợi sức vóc thanh xuân, sức sống căng đầy. “Chân dép lốp cao su” là chi tiết rất thực, gắn với hình ảnh người lính Trường Sơn, giản dị mà bền bỉ. Không áo giáp sắt thép, họ mang trên mình những vật dụng thô sơ nhưng chứa đựng ý chí kiên cường. Đặc biệt, “nhịp đập tuổi xuân” là hình ảnh mang tính ẩn dụ sâu sắc, cho thấy trái tim trẻ trung vẫn đập rộn ràng giữa bom đạn. Cụm từ “ngạo cười cõi chết” là điểm nhấn đầy ấn tượng. Động từ “ngạo cười” diễn tả thái độ hiên ngang, coi thường hiểm nguy. “Cõi chết” được nhân hóa, như một thế lực có thể thách thức, nhưng tuổi trẻ vẫn mỉm cười bước qua. Ở đây, cái chết không còn là nỗi ám ảnh mà trở thành đối tượng để vượt qua. Đó là tinh thần bất khuất, là bản lĩnh của một thế hệ dám sống và dám hi sinh cho lý tưởng lớn.
Tinh thần ấy tiếp tục được nâng lên ở những câu thơ sau “Cho vạn lí băng xuyên về phía trước/ Như dòng máu hồng bất tử dưới trời xanh”. “Vạn lí băng xuyên” là cách nói phóng đại, gợi hành trình dài rộng, vượt qua mọi trở lực để tiến về phía trước. Hình ảnh ấy không chỉ nói về quãng đường địa lí mà còn biểu tượng cho hành trình lịch sử gian nan của dân tộc. So sánh “như dòng máu hồng bất tử dưới trời xanh” làm nổi bật sức sống trường tồn. Dòng máu hồng là sự sống, là nhiệt huyết, là tinh thần truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. “Dưới trời xanh” gợi khát vọng hòa bình, gợi bầu trời tự do mà bao lớp người đã hi sinh để giữ gìn. Qua những hình ảnh giàu chất sử thi và lãng mạn, đoạn thơ khẳng định sức mạnh bền bỉ của tuổi trẻ trong thời chiến. Niềm tin không chỉ là cảm xúc nhất thời mà trở thành mạch máu nuôi dưỡng hành trình dân tộc. Chính nhịp đập tuổi xuân ấy đã làm nên một thời đại anh hùng, để thanh xuân đất nước không chỉ rực rỡ trong chiến đấu mà còn bất tử trong lịch sử.
■ Luận điểm 3: Khát vọng giải phóng miền Nam hiện lên như một dòng chảy mãnh liệt của niềm tin và tình yêu dân tộc
■ Ở những khổ thơ cuối, cảm hứng sử thi được đẩy lên cao trào khi nhà thơ khắc họa niềm tin và khát vọng giải phóng miền Nam bằng những hình ảnh giàu sức bùng nổ
“Nơi không gian, thời gian cháy một niềm tin Nỗi khát chảy về Nam Như sông suối vỡ òa tràn qua ghềnh thác”
Câu thơ “cháy một niềm tin” gợi một trạng thái tinh thần rực lửa. Niềm tin không âm thầm lặng lẽ mà “cháy”, nghĩa là bền bỉ, dữ dội, lan rộng. Từ “cháy” đặt trong “không gian, thời gian” cho thấy niềm tin ấy không chỉ của một cá nhân hay một khoảnh khắc, mà bao trùm cả một thời đại. Nó thấm vào đời sống, vào từng bước đi của dân tộc.
■ “Nỗi khát chảy về Nam” là một cách nói giàu biểu tượng. “Nỗi khát” vừa là khát vọng, vừa là nhu cầu cấp thiết. Động từ “chảy” gợi sự liên tục, bền bỉ, không thể ngăn cản. So sánh “như sông suối vỡ òa tràn qua ghềnh thác” mở ra một không gian rộng lớn, hùng tráng. Dòng sông không còn hiền hòa mà vỡ òa, tràn qua mọi trở lực. Hình ảnh ấy gợi sức mạnh tập thể, khi khát vọng thống nhất không thể bị kìm hãm bởi bom đạn hay chia cắt.
■ Cảm xúc ấy tiếp tục được soi chiếu qua một hình ảnh gần gũi và đầy nhân bản. “Như lứa đôi đã thương đến đỏ lòng, không thể gì chia cắt/ Trái tim yêu mở lối của riêng mình”. Tình yêu đôi lứa trở thành phép ẩn dụ cho tình cảm Bắc Nam gắn bó máu thịt. “Thương đến đỏ lòng” là cách diễn đạt vừa cụ thể vừa biểu tượng. Màu đỏ gợi đến máu, đến trái tim, đến nhiệt huyết sục sôi. Tình yêu ấy sâu nặng đến mức không gì có thể chia cắt. Câu thơ “trái tim yêu mở lối của riêng mình” khẳng định sức mạnh của tình cảm chân thành. Khi trái tim đã quyết, nó sẽ tự tìm ra con đường, vượt qua mọi rào cản.
■ Qua những hình ảnh vừa sử thi vừa trữ tình, nhà thơ cho thấy giải phóng miền Nam không chỉ là một nhiệm vụ chính trị hay quân sự. Đó là khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc, là dòng chảy của tình yêu và niềm tin. Chính sức mạnh của trái tim, của tình thương và ý chí thống nhất đã tạo nên con đường lịch sử, đưa đất nước đến ngày toàn thắng.
■ Luận điểm 5: Những con đường hóa thân thành lịch sử, con người hòa vào dòng chảy dân tộc như những “hạt hồng cầu” nuôi sống đất nước, thể hiện sức mạnh, tinh thần đoàn kết, tinh thần dân tộc Việt Nam kiên trung, kiêu hùng.
■ Ở khổ thơ cuối, cảm hứng sử thi được lắng lại trong một suy tưởng sâu sắc về giá trị của những con đường và những con người đã bước trên đó
“Đất nước một thời những con đường về Nam Dẫu có tên hay không tên, nhưng đều không có tuổi Tất cả đều hóa thân thành lịch sử”
Cụm từ “có tên hay không tên” gợi nhắc đến những con đường cụ thể trong chiến tranh, từ đường Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh đến những lối mòn vô danh giữa rừng sâu. Đồng thời, đó cũng là ẩn dụ cho những con người bình dị, có người được ghi danh, có người lặng lẽ hi sinh không ai biết tới. Khi nhà thơ nói “đều không có tuổi”, ý nghĩa không nằm ở sự thiếu vắng thời gian mà ở tính vĩnh cửu. Những con đường ấy vượt khỏi giới hạn của một giai đoạn lịch sử để trở thành biểu tượng bất tử. Chúng không già đi vì đã hòa vào ký ức và bản sắc dân tộc.
Câu thơ “Tất cả đều hóa thân thành lịch sử” là một khẳng định trang trọng. Con đường không chỉ dẫn lối cho đoàn quân mà còn trở thành phần máu thịt của lịch sử. Mỗi bước chân, mỗi hi sinh, mỗi giọt mồ hôi đều được kết tinh thành ký ức chung của đất nước. Ý tưởng ấy được đẩy lên một tầng biểu tượng độc đáo
“Chúng tôi như những hạt hồng cầu Theo đó, mãi trôi đi.”
Hình ảnh “hạt hồng cầu” gợi liên tưởng đến những tế bào nhỏ bé nhưng giữ vai trò thiết yếu trong cơ thể con người. Hồng cầu mang oxy nuôi sống toàn thân, âm thầm và bền bỉ. So sánh mình với “hạt hồng cầu”, cái tôi trữ tình tự nhận thức về sự nhỏ bé của cá nhân trước vận mệnh dân tộc, nhưng đồng thời khẳng định giá trị không thể thiếu của mỗi con người. Mỗi cá nhân, dù bình dị, vẫn góp phần nuôi dưỡng “cơ thể Tổ quốc” bằng chính máu thịt và thanh xuân của mình. Cụm từ “mãi trôi đi” gợi sự liên tục, không ngừng nghỉ. Đó là sự hi sinh thầm lặng, nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không phô trương, không đòi hỏi ghi nhận, những “hạt hồng cầu” ấy vẫn âm thầm chảy trong mạch máu lịch sử, làm nên sức sống bền bỉ của đất nước.
Qua hình ảnh giàu chất suy tưởng ấy, đoạn thơ khẳng định giá trị bất tử của những con người đã dâng hiến đời mình cho con đường về Nam. Họ có thể vô danh trong từng khoảnh khắc, nhưng trong chiều sâu lịch sử, họ chính là dòng máu đỏ nuôi dưỡng và làm nên sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.
3. Phân tích nghệ thuật của bài thơ
a. Thể thơ, giọng điệu
■ Bài thơ được viết theo thể thơ tự do với câu dài ngắn linh hoạt, tạo điều kiện cho cảm xúc triển khai mạnh mẽ và giàu nhịp điệu. Có những câu thơ mở rộng không gian bằng hình ảnh lớn lao như dòng sông, biển cả, vạn lí băng xuyên, lại có những câu ngắn cô đọng, nhấn mạnh một chi tiết như chân dép lốp cao su hay hạt hồng cầu. Sự thay đổi nhịp điệu ấy phù hợp với mạch cảm xúc dồn dập, khi sôi nổi hào sảng, khi lắng lại suy tư. Thể thơ tự do giúp nhà thơ kết hợp được chất trữ tình với âm hưởng sử thi, tạo nên giọng điệu vừa phóng khoáng vừa trang trọng.
■ Giọng điệu bài thơ mang sắc thái trữ tình hòa quyện với âm hưởng sử thi. Ở tầng sâu, đó là giọng tha thiết, bởi con đường về Nam không chỉ là nhiệm vụ lịch sử mà còn là nỗi nhớ, niềm thương, là tình yêu đôi lứa và tình nghĩa Bắc Nam. Vì thế bài thơ có những đoạn mềm mại, trong trẻo, giàu chất nữ tính như bờ vai con gái dịu mềm, hương bưởi gội tóc thề, làm dịu đi sự khốc liệt của chiến tranh bằng vẻ đẹp đời thường và tình người.
■ Nhưng song song với chất trữ tình ấy là một giọng hào hùng, dữ dội, khi bài thơ nói về hủy diệt, về vỡ òa, về nhịp đập tuổi xuân ngạo cười cõi chết. Sự chuyển giọng linh hoạt tạo nên một chất giọng đa thanh. Có lúc là tiếng thì thầm của nhớ thương, có lúc là tiếng trống trận của niềm tin và ý chí. Chính sự đan xen ấy làm nên vẻ đẹp riêng của bài thơ, vừa gần gũi, ấm áp, vừa có tầm vóc lớn lao, lấp lánh tinh thần thời đại.
b. Cấu tứ
■ Cấu tứ bài thơ được triển khai theo hướng mở rộng và nâng cao dần tầm khái quát. Từ quy luật tự nhiên của những dòng sông đổ ra biển cả, nhà thơ liên tưởng đến quy luật lịch sử khi mọi con đường của đất nước cùng hướng về Nam. Từ biểu tượng con đường, mạch thơ chuyển sang khắc họa con người bước trên con đường ấy với vẻ đẹp của tuổi trẻ, của niềm tin và ý chí. Sau đó, cảm xúc được đẩy lên cao trào trong khát vọng giải phóng miền Nam, để rồi lắng lại trong suy tưởng về sự hóa thân của cá nhân vào lịch sử. Trình tự ấy làm nên một cấu trúc chặt chẽ và giàu ý nghĩa. Cấu tứ vừa mang tầm vóc sử thi khi đặt cá nhân trong vận mệnh dân tộc, vừa đậm chất trữ tình khi đi sâu vào cảm xúc, tình yêu và niềm tin của con người. Nhờ vậy, bài thơ không chỉ tái hiện một thời lịch sử mà còn khơi dậy chiều sâu nhân văn trong hành trình ấy.
c. Hệ thống hình ảnh
■ Hệ thống hình ảnh trong bài thơ vừa phong phú vừa có sức liên kết cao, tạo nên một trường liên tưởng rộng mở về lịch sử và con người. Nổi bật là những ẩn dụ và so sánh độc đáo giàu tính phát hiện. “Dải yếm bắc cầu” đem chất liệu văn hóa dân gian và tình yêu đôi lứa đặt vào hoàn cảnh chia cắt, biến sự mềm mại riêng tư thành chiếc cầu nối hai bờ Bắc Nam. “Sông suối vỡ òa” là so sánh mạnh, gợi dòng chảy khát vọng cuộn trào không gì ngăn nổi, làm hiện lên tầm vóc của cảm xúc dân tộc. “Dòng máu hồng” vừa tả sức sống, vừa biểu tượng cho lý tưởng bất tử chảy trong mạch đất nước. Đặc biệt, “hạt hồng cầu” là hình ảnh ẩn dụ giàu suy tưởng. Nhỏ bé nhưng thiết yếu, âm thầm mà sống còn, nó giúp nhà thơ khắc họa sự hóa thân của mỗi cá nhân vào cơ thể Tổ quốc, nơi máu thịt con người trở thành sức sống của lịch sử.
■ Điều đáng chú ý là bài thơ biết kết hợp nhuần nhị hình ảnh đời thường với hình ảnh lớn lao. Một bên là “dải yếm”, “hương bưởi”, “chân dép lốp”, những chi tiết gần gũi, thân thuộc, gợi hồn quê và sự bình dị của người lính, người dân. Một bên là những hình ảnh mang tầm vóc sử thi như “những con đường về Nam”, “vạn lí băng xuyên”, “không gian, thời gian cháy một niềm tin”, mở ra chiều rộng của thời đại và lịch sử. Sự đan cài ấy tạo nên chiều sâu cảm xúc. Lịch sử không còn là khái niệm trừu tượng mà hiện lên qua mùi hương, bước chân, nhịp tim. Tình cảm riêng tư không bị thu nhỏ mà được nâng lên thành sức mạnh chung của dân tộc. Nhờ hệ thống hình ảnh vừa cụ thể vừa biểu tượng ấy, bài thơ gợi được một thời chống Mỹ hào hùng mà vẫn thấm đẫm chất người, vừa có tầm vóc sử thi vừa có độ rung trữ tình sâu sắc.
c. Ngôn ngữ thơ và hệ thống biện pháp tu từ độc đáo
Ngôn ngữ bài thơ giàu tính tạo hình và gợi cảm, mỗi câu thơ như dựng lên một cảnh, một dáng, một nhịp chuyển động của thời đại. Tác giả lựa chọn nhiều từ ngữ cụ thể, giàu sức gợi như dải yếm, hương bưởi, chân dép lốp, vòm ngực trẻ, khiến lịch sử hiện lên bằng những chi tiết có thể nhìn, có thể chạm, có thể cảm. Bên cạnh đó, nhạc tính được tạo nên từ nhịp câu linh hoạt, từ các cụm từ lặp và những cấu trúc song đôi như đêm Nam ngày Bắc, có tên hay không tên, tạo độ ngân vang và sức lan tỏa cho cảm xúc.
Đặc biệt, hệ thống động từ mạnh góp phần tạo nên khí thế sử thi. Những từ như băng xuyên, cháy, vỡ òa, tràn qua không chỉ miêu tả hành động mà còn biểu hiện nội lực. “Băng xuyên” gợi bước tiến quyết liệt không gì cản nổi. “Cháy” làm niềm tin trở thành ngọn lửa bền bỉ lan khắp không gian thời gian. “Vỡ òa” và “tràn qua” tạo cảm giác cuộn trào của khát vọng, khiến bài thơ mang âm hưởng sôi động, hào sảng. Ngôn ngữ vì thế vừa có độ mềm của đời sống, vừa có độ mạnh của sử thi, làm hiện lên một thời đại chuyển động không ngừng về phía trước.
Các biện pháp tu từ độc đáo, Trên nền ấy, các biện pháp tu từ được vận dụng linh hoạt, từ so sánh “như sông suối vỡ òa”, “như dòng máu hồng bất tử dưới trời xanh” đến ẩn dụ “dải yếm bắc cầu”, “hạt hồng cầu”, rồi nhân hóa “trái tim yêu mở lối của riêng mình”, tất cả đều góp phần nâng cái cụ thể thành biểu tượng. Nhờ vậy, bài thơ đã dựng nên một thế giới vừa gần gũi vừa lớn lao, nơi một thời chống Mỹ hiện lên không chỉ với tầm vóc sử thi mà còn thấm đẫm chất người và chiều sâu cảm xúc.
4. Tổng kết nội dung và nghệ thuật
Về nội dung, bài thơ tái hiện một thời khắc lịch sử thiêng liêng khi cả dân tộc đồng lòng hướng về miền Nam bằng trái tim rực lửa. Hình tượng những con đường về Nam trở thành biểu tượng của khát vọng thống nhất và ý chí giải phóng. Trên những con đường ấy là hình ảnh người lính, người thanh niên xung phong, những cô gái hậu phương và bao con người vô danh đã dâng hiến tuổi xuân cho Tổ quốc. Tất cả hòa vào dòng chảy chung, hóa thân thành lịch sử, làm nên sức sống bất tử của dân tộc. Bài thơ vì thế không chỉ là lời hồi tưởng mà còn là bản ngợi ca sâu lắng về một thế hệ đã sống và hi sinh vì lý tưởng lớn.
Về nghệ thuật, tác phẩm được viết theo thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, phù hợp mạch cảm xúc dâng trào. Hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng như con đường, dòng sông, dải yếm, hạt hồng cầu đã tạo nên chiều sâu liên tưởng và sức khái quát cao. Giọng điệu trữ tình hòa quyện với âm hưởng sử thi, khi mềm mại thiết tha, khi hào hùng mạnh mẽ, góp phần khắc họa rõ nét tinh thần thời đại. Ngôn ngữ thơ giàu sức gợi, nhiều động từ giàu nội lực, cùng cấu tứ mạch lạc từ quy luật tự nhiên đến con đường, con người và lịch sử, đã làm nên một chỉnh thể vừa chặt chẽ vừa giàu cảm xúc, đậm dấu ấn suy tưởng nhân văn.
III. KẾT BÀI
Khẳng định giá trị của bài thơ: “Những con đường về Nam” là khúc tráng ca của thời đại chống Mỹ cứu nước, đồng thời là bản tình ca dành cho những con người đã hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ quốc. Mở rộng: Bài thơ nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết gìn giữ hòa bình, tự hào về lịch sử, trân trọng sức mạnh của đoàn kết dân tộc – những con đường nối liền Bắc – Nam bằng máu, niềm tin và tình yêu lớn.
Bài viết tham khảo:
Hoài Thanh từng khẳng định: “Thơ ca bắt nguồn từ những rung động sâu xa của tâm hồn” từ những rung động riêng tư ấy, thi ca chân chính luôn vươn tới những vấn đề lớn lao của thời đại và dân tộc. Trong dòng chảy ấy, thơ Nguyễn Đình Minh hiện lên với giọng điệu giàu chất sử thi, thấm đẫm hơi thở chiến tranh và hậu chiến, nơi cái tôi cá nhân hòa vào cái ta chung của lịch sử. Là nhà thơ trưởng thành trong môi trường quân đội, ông đã ghi dấu ấn qua bài thơ “Những con đường về Nam”, một thi phẩm tái hiện thời kì hào hùng khi cả dân tộc cùng hướng về miền Nam ruột thịt. Qua hình tượng những con đường, bài thơ không chỉ khắc họa hiện thực mà còn biểu tượng hóa khát vọng giải phóng, kết tinh tình yêu, nỗi nhớ, niềm tin và sự hi sinh của con người Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh.Khi nhìn về quá khứ, người nghệ sĩ không chỉ dừng lại ở việc kể lại mà còn đi sâu vào chiều sâu tinh thần của lịch sử, nơi những mất mát và hi sinh đã hóa thành giá trị bền vững của dân tộc. Từ điểm nhìn ấy, Nguyễn Đình Minh thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành sau chiến tranh nhưng luôn hướng ngòi bút về những ký ức lịch sử của dân tộc. Thơ ông vẫn hiện diện một nỗi đau đáu với quá khứ, với hình ảnh người lính và những thế hệ tuổi trẻ đã dâng hiến đời mình cho đất nước. Đó là những vần thơ giàu chất suy tưởng, kết hợp giữa cảm hứng lịch sử và chiều sâu nhân văn, giữa ký ức tập thể và cái nhìn chiêm nghiệm của người viết hôm nay. Bài thơ được in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2015, trong mạch sáng tác hướng về quá khứ dân tộc, như một lời tri ân lặng lẽ mà sâu sắc đối với một thời chiến tranh gian khổ mà hào hùng. Dù được viết ở thời bình, tác phẩm không chỉ là sự hồi tưởng mà còn là sự tái hiện đầy cảm xúc về một giai đoạn thiêng liêng của lịch sử. Nổi bật trong bài thơ là hình tượng “những con đường về Nam”, gợi nhắc thời chống Mỹ khi miền Nam là tiền tuyến lớn, nơi hội tụ khát vọng thống nhất non sông. Câu thơ “Tất cả những con đường đều hướng về Nam” không chỉ phản ánh một thực tại lịch sử mà còn nâng lên thành biểu tượng cho ý chí, niềm tin và sự dấn thân của cả dân tộc. Từ đó, bài thơ mở ra một không gian sử thi giàu sức gợi, nơi cá nhân không còn đứng riêng lẻ mà hòa vào vận mệnh chung của đất nước trong những năm tháng quyết liệt và thiêng liêng nhất.
Bởi vậy, trong những thời khắc dữ dội nhất của lịch sử, văn chương không chỉ ghi lại chiến tranh như một biến cố bên ngoài mà còn đi sâu khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người trong chiến tranh, bởi suy cho cùng, điều còn lại sau khói lửa không chỉ là chiến công mà còn là phẩm giá, là tư thế tinh thần của con người khi đối diện với thử thách. Thơ ca, với ưu thế của hình tượng và ngôn từ hàm súc, thường khắc họa con người trong thế thống nhất giữa cái mong manh và cái bền bỉ, giữa đời thường và lí tưởng. Chính từ đặc trưng ấy, Nguyễn Đình Minh đã dựng lên hình tượng thế hệ trẻ như một biểu tượng giàu tính sử thi mà vẫn đằm thắm chất trữ tình, nơi vẻ đẹp dịu dàng hòa quyện với sức mạnh kiêu hãnh và niềm tin bất diệt. Nếu những con đường về Nam là biểu tượng của khát vọng dân tộc thì những con người bước trên con đường ấy chính là linh hồn của lịch sử. Nguyễn Đình Minh đã khắc họa thế hệ trẻ bằng những hình ảnh vừa cụ thể vừa giàu sức nâng đỡ “Bao bờ vai con gái dịu mềm/ Gánh những con đường bay qua hủy diệt/ Tuổi đôi mươi/ Kết hoa mình trên sắt thép”. Hình ảnh “bờ vai con gái dịu mềm” trước hết gợi lên vẻ đẹp nữ tính, thanh tân, trong trẻo của tuổi trẻ. Hai chữ “dịu mềm” không chỉ tả dáng hình mà còn gợi cả một thế giới tâm hồn đằm thắm, giàu yêu thương, biết nâng niu sự sống và giữ gìn những điều đẹp đẽ. Nhưng cảm động hơn là chính những bờ vai tưởng như mảnh mai ấy lại “gánh những con đường bay qua hủy diệt”. Động từ “gánh” làm cho “con đường” không còn là một nét vẽ địa lí mà trở thành trọng trách lịch sử, thành con đường ra trận, con đường nối liền khát vọng giải phóng, con đường chuyên chở niềm tin của một dân tộc đang hướng về ngày thống nhất. Một bên là “dịu mềm”, một bên là “hủy diệt”, sự đối lập ấy không hề làm con người nhỏ bé đi mà trái lại càng tôn cao vẻ đẹp tinh thần của họ. Ở đây, thơ đã làm đúng điều Belinski từng khẳng định “Nhà thơ tư duy bằng hình tượng”. Chỉ bằng cách đặt “bờ vai con gái dịu mềm” bên cạnh “hủy diệt”, nhà thơ đã làm sáng lên tầm vóc tinh thần của cả một thế hệ. Đặc biệt, câu thơ “Tuổi đôi mươi/ Kết hoa mình trên sắt thép” là một sáng tạo giàu sức gợi. “Tuổi đôi mươi” là tuổi của mơ mộng, của yêu thương, của những dự cảm trong trẻo nhất về cuộc đời, còn “hoa” là biểu tượng của cái đẹp, của sức sống, của sự nở bừng. Trong khi đó, “sắt thép” lại gợi chiến tranh khốc liệt, gợi gian truân, va đập, mất mát. Nhưng điều đáng quý là khi đặt cạnh nhau, cái đẹp không bị nghiền nát mà lại nở ra ngay trên nền khốc liệt ấy. Tuổi trẻ không chỉ chịu đựng hiện thực mà còn làm đẹp hiện thực bằng lí tưởng, bằng lòng can đảm, bằng chính vẻ đẹp không chịu úa tàn của tâm hồn mình. Bởi thế, câu thơ không chỉ nói về sự hi sinh mà còn nói về khả năng chiến thắng của cái đẹp trước sự tàn phá. Điều đó gợi nhớ tới suy ngẫm của Nguyễn Minh Châu khi ông cho rằng nhà văn phải “đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử”.
Nguyễn Đình Minh đã không chỉ nhìn chiến tranh như mất mát mà còn nhìn thấy trong chiến tranh một vẻ đẹp người bền bỉ và sáng trong. Hình tượng ấy trở nên mềm hơn, sâu hơn trong câu thơ “Hương bưởi gội tóc thề vương vấn bước quân đi”. “Hương bưởi” là mùi hương của làng quê, của vườn nhà, của những mùa cũ thân thương, còn “tóc thề” gợi vẻ đẹp thiếu nữ và sự thủy chung son sắt. Hương bưởi ở đây không chỉ là một chi tiết tả thực mà là một mảnh hồn quê theo bước chân người lính, là cái dịu dàng của đời sống vẫn âm thầm neo giữ con người giữa bão lửa. Nhờ chi tiết ấy, chiến tranh hiện lên không chỉ có bom đạn và hủy diệt mà còn thấm đẫm những điều rất đỗi đời thường, rất người, rất Việt Nam. Chính những yếu tố mềm mại ấy làm cho sự dấn thân của tuổi trẻ không khô cứng mà giàu chất trữ tình, khiến họ đi vào chiến tranh không phải như những cỗ máy chiến đấu mà như những con người mang theo hồn quê, hồn nhà, mang theo cả mùi hương và kí ức. Bởi vậy, ta thấy rõ vẻ đẹp toàn vẹn của thế hệ trẻ. Họ không chỉ can trường mà còn giàu yêu thương, không chỉ bước vào chiến tranh bằng ý chí mà còn mang theo cả phần sâu kín nhất của tâm hồn. Điều này gặp gỡ tự nhiên với các cô gái trong “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, những con người vừa dũng cảm trước bom đạn vừa giữ được tâm hồn trong trẻo, hồn nhiên, giàu rung cảm. Cũng như “bờ vai con gái dịu mềm” trong thơ Nguyễn Đình Minh, họ cho thấy một chân lí đẹp đẽ rằng tuổi trẻ thời chiến không đánh mất vẻ đẹp người mà càng qua thử thách càng hiện lên nguyên vẹn hơn. Nếu ở trên là vẻ đẹp dịu dàng thì ở phần sau, thế hệ trẻ hiện lên trực diện trong tư thế người chiến sĩ “Vòm ngực trẻ phơi nắng dãi mưa dầu/ Chân dép lốp cao su/ Và nhịp đập tuổi xuân ngạo cười cõi chết”. Ở đây không có gì hào nhoáng. Không phải áo bào, không phải ánh hào quang, mà chỉ là “vòm ngực trẻ”, “chân dép lốp cao su”, những chi tiết rất đỗi bình thường, thậm chí thô mộc. Nhưng chính cái bình thường ấy lại tạc nên dáng vẻ anh hùng, bởi vẻ đẹp cao cả nhiều khi không nằm ở sự tô vẽ mà nằm ở sức mạnh tinh thần toát ra từ những gì giản dị nhất. Ta có thể nhớ tới lời Nguyễn Văn Siêu “Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Nguyễn Đình Minh không tô vẽ người lính bằng sự hào nhoáng bên ngoài. Ông giữ họ ở vẻ đẹp bình dị nhất để từ đó làm hiện lên cái cao cả. Đặc sắc hơn cả là câu thơ “nhịp đập tuổi xuân ngạo cười cõi chết”. “Nhịp đập tuổi xuân” là hình ảnh rất giàu chất sống, gợi trái tim trẻ trung, gợi dòng máu nóng, gợi sự sống đang căng tràn và niềm tin chưa từng tắt. Nhưng cái làm câu thơ bật sáng lại là cụm từ “ngạo cười cõi chết”. Đó là nụ cười trong tư thế ngẩng cao đầu, nụ cười khinh cái chết, vượt lên trên hiểm nguy. Câu thơ không né tránh cái chết, nhưng cũng không để cái chết trở thành trung tâm. Trung tâm vẫn là “nhịp đập tuổi xuân”. Chính điều đó làm nên chiều sâu của hình tượng. Cái chết hiện diện để tôn lên sức sống. Nỗi hiểm nguy hiện diện để làm sáng rõ lòng can đảm. Hình tượng ấy gặp gỡ rất đẹp với tinh thần của Quang Dũng trong “Tây Tiến” “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Cả hai đều cho thấy tuổi trẻ thời chiến sống và hi sinh trong ý thức tự nguyện, kiêu hãnh, không bi lụy mà rực rỡ một lí tưởng lớn. Tinh thần ấy còn tiếp tục được nâng cao trong câu thơ “Cho vạn lí băng xuyên về phía trước/ Như dòng máu hồng bất tử dưới trời xanh”. “Vạn lí băng xuyên” gợi hành trình dài rộng, gian lao mà không gì ngăn nổi, còn “dòng máu hồng bất tử” nâng sự sống cá nhân thành sức sống dân tộc. “Dòng máu hồng” là sự sống, là nhiệt huyết, là sức trẻ, là nguồn năng lượng tinh thần chảy mãi trong lịch sử dân tộc. Hai chữ “bất tử” đã nâng dòng máu cá nhân thành sức sống trường tồn của giống nòi, còn “dưới trời xanh” lại mở ra một không gian rộng lớn, thanh bình, gợi bầu trời tự do mà bao lớp người đã hi sinh để giữ gìn. Từ một chi tiết rất cụ thể là máu, nhà thơ đã nâng lên thành biểu tượng của lịch sử và dân tộc. Đó chính là khả năng khái quát đáng quý của thơ ca, từ cái riêng đến cái chung, từ cái hữu hạn của đời người đến cái bền vững của non sông. Như vậy, đoạn thơ đã khắc họa thật sâu sắc hình tượng thế hệ trẻ trong chiến tranh. Họ vừa dịu dàng vừa kiêu hãnh, vừa mang hồn quê vừa mang tầm vóc sử thi. Có “bờ vai con gái dịu mềm” mà vẫn “gánh những con đường bay qua hủy diệt”, có “nhịp đập tuổi xuân” mà dám “ngạo cười cõi chết”. Chính ở họ, sức mạnh chiến đấu và vẻ đẹp tâm hồn đã hòa làm một, làm nên một thời đại anh hùng và một thanh xuân bất tử trong lịch sử dân tộc.
Khát vọng giải phóng miền Nam trong đoạn thơ của Nguyễn Đình Minh không hiện lên như một lời kêu gọi khô cứng mà dâng trào như một dòng chảy cảm xúc lớn, nơi niềm tin và tình yêu dân tộc hòa quyện, lan tỏa và bừng sáng trong toàn bộ không gian lịch sử. Như Tố Hữu từng khẳng định “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời”, nhưng trong những thời khắc quyết định của dân tộc, tiếng nói ấy không còn chỉ là tiếng lòng riêng lẻ mà đã trở thành nhịp đập chung của cả một cộng đồng, một thời đại. Chính trong mạch nguồn ấy, đoạn thơ đã nâng cảm xúc cá nhân lên tầm vóc sử thi bằng hệ thống hình ảnh vừa giàu sức gợi vừa mang tính khái quát sâu sắc “Nơi không gian, thời gian cháy một niềm tin/ Nỗi khát chảy về Nam/ Như sông suối vỡ òa tràn qua ghềnh thác”. Câu thơ “cháy một niềm tin” không chỉ gợi ra sự mãnh liệt mà còn khẳng định độ bền bỉ và lan tỏa của niềm tin dân tộc, bởi “cháy” là trạng thái không ngừng lan rộng, không thể dập tắt, là ánh lửa được nuôi dưỡng từ ý chí và khát vọng của cả một thời đại. Khi đặt trong “không gian, thời gian”, niềm tin ấy vượt khỏi giới hạn của một khoảnh khắc để trở thành sức mạnh bao trùm lịch sử, thấm vào từng bước đi, từng nhịp sống của dân tộc. Đó chính là đặc trưng nổi bật của thơ ca hiện đại khi biến cái vô hình của tâm lí thành cái hữu hình của hình tượng, khiến “niềm tin” không còn là khái niệm trừu tượng mà trở nên rực rỡ, có hình, có sắc, có sức lan truyền mạnh mẽ. Dòng cảm xúc ấy tiếp tục được đẩy lên một cung bậc mới qua hình ảnh “Nỗi khát chảy về Nam”, nơi khát vọng thống nhất được diễn tả như một nhu cầu cấp thiết, thôi thúc, không thể trì hoãn. Động từ “chảy” gợi sự liên tục, dẻo dai, không ngừng nghỉ, đồng thời mở ra liên tưởng về những dòng sông miên viễn trong tâm thức dân tộc. Đến khi được so sánh “như sông suối vỡ òa tràn qua ghềnh thác”, hình tượng ấy đạt tới độ bùng nổ, vừa hùng tráng vừa dữ dội, thể hiện sức mạnh không gì có thể ngăn cản của dòng chảy lịch sử. Cảm xúc đã được khuếch đại đến tận cùng, qua đó làm nổi bật một quy luật tất yếu, khi khát vọng của nhân dân đã dâng lên như nước lũ thì mọi rào cản đều sẽ bị cuốn trôi. Nhưng điều làm nên chiều sâu nhân văn của đoạn thơ không chỉ nằm ở âm hưởng sử thi mà còn ở sự hòa quyện tinh tế với chất trữ tình, khi khát vọng dân tộc được soi chiếu qua hình ảnh gần gũi của tình yêu đôi lứa “Như lứa đôi đã thương đến đỏ lòng, không thể gì chia cắt/ Trái tim yêu mở lối của riêng mình”. Tình yêu ở đây không còn là cảm xúc riêng tư mà trở thành ẩn dụ cho tình cảm Bắc Nam gắn bó máu thịt. Cụm từ “thương đến đỏ lòng” gợi sắc đỏ của trái tim, của máu, của nhiệt huyết, cho thấy tình yêu đã đạt đến độ sâu của sự hi sinh và dâng hiến. Trong cái nhìn ấy, văn học đã làm một công việc lớn lao, đem cái riêng hòa vào cái chung, để từ tình yêu của hai con người có thể thấy được tình yêu của cả một dân tộc. Đặc biệt, câu thơ “Trái tim yêu mở lối của riêng mình” mang dáng dấp của một triết lí giản dị mà sâu sắc, khi trái tim không chỉ là nơi cảm nhận mà còn là sức mạnh dẫn dắt hành động, mở đường cho lịch sử vận động. Điều đó khẳng định một chân lí bền vững của văn chương, rằng tình cảm chân thành không chỉ dừng lại ở xúc cảm mà có thể trở thành động lực kiến tạo hiện thực. Chính vì vậy, giải phóng miền Nam trong đoạn thơ không chỉ là một nhiệm vụ chính trị hay quân sự mà còn là sự kết tinh của niềm tin, của tình yêu và của ý chí thống nhất dân tộc. Đặt trong mạch cảm hứng chung của thơ ca thời đại, hình tượng ấy gặp gỡ với tư tưởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm “Đất Nước là máu xương của mình”, khi đất nước không còn là khái niệm trừu tượng mà đã trở thành một phần của chính con người. Trong ánh sáng ấy, “thương đến đỏ lòng” không chỉ là một cách nói giàu cảm xúc mà còn là biểu hiện cụ thể của ý thức sống còn ấy, nơi tình yêu đã hóa thành máu thịt, thành động lực thôi thúc con người vượt qua mọi chia cắt và gian khổ. Từ đó có thể thấy, đoạn thơ không chỉ khắc họa một khát vọng lịch sử mà còn khơi dậy một chân lí nhân văn sâu sắc, rằng chính sức mạnh của trái tim, của tình yêu và niềm tin đã làm nên con đường đi tới ngày thống nhất của dân tộc.
Khi đi vào những đề tài lớn của lịch sử dân tộc, văn chương không chỉ tái hiện sự kiện mà còn khám phá giá trị con người trong dòng chảy ấy. Đặc biệt, với ưu thế của hình tượng và khả năng khái quát cao, thơ ca thường nâng những gì cụ thể, hữu hạn thành những biểu tượng mang ý nghĩa bền vững. Chính từ đặc trưng đó, Nguyễn Đình Minh đã không chỉ viết về những con đường chiến tranh mà nâng chúng thành hình tượng lịch sử, nơi con người hòa vào dân tộc, sống và tồn tại như một phần máu thịt của Tổ quốc. Ở khổ thơ cuối, cảm hứng sử thi lắng lại trong một suy tưởng sâu sắc “Đất nước một thời những con đường về Nam/ Dẫu có tên hay không tên, nhưng đều không có tuổi/ Tất cả đều hóa thân thành lịch sử”. Cụm từ “có tên hay không tên” gợi nhắc những con đường cụ thể trong chiến tranh, từ đường Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh đến những lối mòn vô danh giữa rừng sâu, đồng thời cũng gợi những con người bình dị, có người được ghi danh, có người lặng lẽ hi sinh không ai biết tới. Nhưng khi nhà thơ viết “đều không có tuổi” thì ý nghĩa không còn nằm ở thời gian hữu hạn nữa mà ở sự vĩnh cửu. Những con đường ấy đã vượt khỏi một chặng lịch sử để hòa vào ký ức dân tộc, trở thành phần bền sâu của bản sắc nước nhà. Câu thơ “Tất cả đều hóa thân thành lịch sử” vang lên như một lời khẳng định trang trọng, bởi “hóa thân” ở đây không chỉ là biến đổi mà là nhập vào, hòa vào, trở thành một phần không thể tách rời của non sông. Ý tưởng ấy được đẩy lên thành một biểu tượng đặc sắc “Chúng tôi như những hạt hồng cầu/ Theo đó, mãi trôi đi”. Hình ảnh “hạt hồng cầu” thật nhỏ bé mà ám ảnh. Đó là những tế bào âm thầm mang sự sống đi khắp cơ thể, cũng như những con người bình dị mang máu thịt, thanh xuân và niềm tin của mình nuôi dưỡng cơ thể Tổ quốc. Ở đây, Nguyễn Đình Minh đã chọn một chi tiết rất đời thường để biểu đạt một ý nghĩa sử thi sâu xa, khiến cái nhỏ bé của cá nhân bỗng mang tầm vóc lớn lao của dân tộc. Cụm từ “mãi trôi đi” gợi sự tiếp nối không ngừng, gợi những hi sinh âm thầm từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phô trương mà bền bỉ chảy trong mạch máu lịch sử. Bởi thế, liên hệ với Nguyễn Khoa Điềm càng thêm tự nhiên “Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Chính những con người vô danh ấy đã âm thầm kết tinh nên tầm vóc dân tộc.
Khi bàn về hình thức nghệ thuật, có thể thấy thơ ca không chỉ là nơi “bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” (Viên Mai) mà còn là sự tổ chức tinh tế của nhịp điệu và giọng điệu để chuyển tải những rung động lớn lao của đời sống. Trên phương diện ấy, bài thơ đã lựa chọn một hình thức biểu đạt rất phù hợp với cảm hứng sử thi và mạch trữ tình đan xen. Thể thơ tự do với câu dài ngắn linh hoạt đã tạo điều kiện cho cảm xúc triển khai mạnh mẽ. Có những câu thơ mở rộng không gian bằng những hình ảnh lớn lao như dòng sông, biển cả, vạn lí băng xuyên, lại có những câu ngắn cô đọng nhấn vào những chi tiết đời thường như chân dép lốp cao su hay hạt hồng cầu. Sự thay đổi ấy không hề ngẫu nhiên mà là dụng ý nghệ thuật, khi cảm xúc vươn tới tầm vóc dân tộc thì câu thơ ngân dài, còn khi lắng vào chi tiết cụ thể thì câu thơ co lại, gãy gọn, tạo điểm nhấn. Bởi vậy, thể thơ tự do đã trở thành phương tiện giúp nhà thơ kết hợp nhuần nhị giữa chất trữ tình và âm hưởng sử thi, đúng như Vôn te từng khẳng định “Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý nghĩa”. Trên nền ấy, giọng điệu bài thơ mang sắc thái trữ tình hòa quyện với âm hưởng sử thi. Có lúc thơ tha thiết, dịu dàng qua những hình ảnh như “bờ vai con gái dịu mềm” hay “Hương bưởi gội tóc thề vương vấn bước quân đi”, làm mềm hóa không gian chiến tranh bằng chất đời thường và tình người. Có lúc giọng thơ lại hào hùng, dữ dội với những hình ảnh “vỡ òa”, “tràn qua”, “ngạo cười cõi chết”, làm nổi bật ý chí và bản lĩnh của cả một thế hệ. Sự chuyển giọng linh hoạt ấy đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho bài thơ, khiến tác phẩm vừa là tiếng lòng tha thiết, vừa là khúc ca ngợi ca một thời đại anh hùng.
Nếu nhìn ở bình diện cấu trúc, có thể thấy cấu tứ bài thơ được triển khai theo hướng mở rộng và nâng cao dần tầm khái quát. Từ quy luật tự nhiên của những dòng sông đổ ra biển cả, nhà thơ liên tưởng đến quy luật lịch sử khi mọi con đường của đất nước cùng hướng về Nam, qua đó nâng hiện thực thành một tất yếu mang tính quy luật. Từ biểu tượng con đường, mạch thơ chuyển sang con người với những hình ảnh giàu sức gợi như bờ vai con gái, vòm ngực trẻ, nhịp đập tuổi xuân, rồi dâng lên cao trào trong khát vọng giải phóng miền Nam và lắng lại trong suy tưởng về sự hóa thân của cá nhân vào lịch sử qua hình ảnh những hạt hồng cầu. Trình tự ấy phản ánh đúng quy luật vận động của cảm xúc, từ nhận thức đến cảm xúc, từ cảm xúc đến chiêm nghiệm. Chính cấu tứ ấy đã làm cho bài thơ vừa mang tầm vóc sử thi khi đặt cá nhân trong vận mệnh dân tộc, vừa đậm chất trữ tình khi đi sâu vào tình yêu, niềm tin và những rung động rất người. Bởi vậy, bài thơ không chỉ dừng lại ở việc phản ánh một giai đoạn lịch sử mà còn mở ra những suy ngẫm lâu dài, đúng như Aimatov từng khẳng định “Khi tác phẩm kết thúc, ấy là sự sống của nó mới thực sự bắt đầu”, bởi dư âm của nó vẫn tiếp tục vang vọng trong tâm thức người đọc như một lời nhắc nhở về lịch sử, về con người và về ý nghĩa của sự sống trong dòng chảy bất tận của dân tộc.
Trong thơ ca, hình ảnh không chỉ là chất liệu dựng cảnh mà còn là nơi tư tưởng và cảm xúc kết tinh. Chính vì vậy, bài thơ đã tạo nên một hệ thống hình ảnh phong phú, mở ra trường liên tưởng rộng về lịch sử và con người. Nổi bật là hình ảnh giàu tính ẩn dụ như “dải yếm bắc cầu”, từ một chi tiết dân gian mềm mại của tình yêu đôi lứa đã hóa thành chiếc cầu nối hai miền, gợi sự hòa quyện giữa cái riêng và cái chung, rất gần với nhận định của Bùi Việt Thắng rằng chi tiết nghệ thuật phải đạt tới ý nghĩa tượng trưng. Bên cạnh đó, so sánh “sông suối vỡ òa” gợi dòng chảy khát vọng cuộn trào, mở rộng cảm xúc từ cá nhân tới cộng đồng, đúng như thầy giáo Chu Văn Sơn từng viết “Câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức của con người”. Đặc biệt, hình ảnh “dòng máu hồng” và “những hạt hồng cầu” đã nâng sự sống cá nhân thành biểu tượng cho sức sống dân tộc, nơi cái nhỏ bé âm thầm lại giữ vai trò nuôi dưỡng cơ thể Tổ quốc. Điều đáng chú ý là sự kết hợp nhuần nhị giữa hình ảnh đời thường như “dải yếm”, “hương bưởi”, “chân dép lốp” với những hình ảnh mang tầm vóc lịch sử như “những con đường về Nam”, “vạn lí băng xuyên”, làm cho lịch sử trở nên gần gũi, thấm đẫm chất người. Nhờ hệ thống hình ảnh ấy, bài thơ không chỉ dựng lại một thời hào hùng mà còn khơi dậy chiều sâu nhân văn, nơi cái nhỏ bé hòa vào cái lớn lao, làm nên biểu tượng bền vững về con người và dân tộc.
Trong thơ ca, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện chuyên chở cảm xúc mà còn là nơi tư tưởng kết tinh thành hình tượng, bởi như Viên Mai từng nói “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Ở bài thơ này, Nguyễn Đình Minh đã lựa chọn một thứ ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi với những chi tiết rất gần gũi như “dải yếm”, “hương bưởi”, “chân dép lốp”, “vòm ngực trẻ”, khiến lịch sử không còn trừu tượng mà hiện lên thành những hình khối, sắc hương, dáng đứng có thể cảm nhận bằng xúc động. Từ những chất liệu đời thường ấy, nhà thơ đã kết thành một “bó sáng” đúng như Nguyễn Đình Thi từng khẳng định, làm hiện lên con người và thời đại trong vẻ đẹp sống động. Ngôn ngữ ấy còn giàu nhạc tính với nhịp thơ linh hoạt, khi mở dài để gợi không gian lớn lao, khi ngắn lại để tạo điểm nhấn, đồng thời sử dụng những cấu trúc đối xứng như “đêm Nam, ngày Bắc”, “có tên hay không tên” để làm nổi bật sự gắn bó. Đặc biệt, hệ thống động từ mạnh như “băng xuyên”, “cháy”, “vỡ òa”, “tràn qua” đã tạo nên nhịp vận động căng đầy, biểu hiện sức mạnh tinh thần mãnh liệt của cả một thế hệ. Trên nền ấy, các biện pháp tu từ được vận dụng linh hoạt, từ so sánh “như sông suối vỡ òa”, “như dòng máu hồng bất tử dưới trời xanh” đến ẩn dụ “dải yếm bắc cầu”, “hạt hồng cầu”, rồi nhân hóa “trái tim yêu mở lối của riêng mình”, tất cả đều góp phần nâng cái cụ thể thành biểu tượng. Nhờ vậy, bài thơ đã dựng nên một thế giới vừa gần gũi vừa lớn lao, nơi một thời chống Mỹ hiện lên không chỉ với tầm vóc sử thi mà còn thấm đẫm chất người và chiều sâu cảm xúc.
Như Hoài Thanh từng nhận xét “Thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại”, bài thơ đã tái hiện một thời khắc lịch sử thiêng liêng khi cả dân tộc cùng hướng về miền Nam bằng niềm tin rực lửa, nơi hình tượng “những con đường” trở thành biểu tượng của khát vọng thống nhất và ý chí giải phóng, gắn với những con người đã dâng hiến tuổi xuân cho Tổ quốc, từ đó làm nên sức sống bất tử của dân tộc. Về nghệ thuật, thể thơ tự do linh hoạt, hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng cùng giọng điệu trữ tình hòa quyện âm hưởng sử thi và ngôn ngữ giàu sức gợi đã tạo nên một chỉnh thể vừa sâu sắc vừa giàu cảm xúc, in đậm dấu ấn của một thời đại và một tư tưởng nhân văn bền vững.
“Những con đường về Nam” không chỉ là khúc tráng ca của thời đại chống Mỹ mà còn là bản tình ca về những con người đã hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ quốc. Từ chiều sâu ấy, bài thơ nhắc nhở thế hệ hôm nay biết trân trọng hòa bình, tự hào về lịch sử và gìn giữ sức mạnh đoàn kết dân tộc, để những con đường nối liền Bắc Nam mãi được bồi đắp bằng niềm tin và tình yêu lớn.