Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
VĂN BẢN 1
[1] Thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, công nghiệp văn hóa đã đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Để phát triển công nghiệp văn hóa, nguồn nhân lực là một trong những "tài nguyên" đặc biệt quan trọng. Điều này cũng đã được đề cập, nhấn mạnh và quan tâm từ khi bắt đầu triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
[2] Thực tế, lực lượng tham gia vào quá trình sáng tác văn hóa, nghệ thuật đã có sự tăng trưởng về cả số lượng và chất lượng, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, hoạt động văn hóa, văn nghệ đa dạng, giàu bản sắc. Tuy nhiên, kết quả thực hiện vẫn chưa đáp ứng với kỳ vọng, mục tiêu cũng như những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đặc biệt, số lượng nhân lực văn hóa chất lượng cao còn đang ở mức khiêm tốn. [3] Hiện có các nhóm nhân lực công nghiệp văn hóa. Cụ thể, nhân lực quản lý là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý công chức, viên chức ngành văn hóa và các ngành liên quan; giúp tham mưu, tư vấn, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cho Chính phủ, bộ, ngành và các địa phương; xây dựng, ban hành và thực thi hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách. Nguồn nhân lực sáng tạo là đội ngũ nòng cốt của các ngành công nghiệp văn hóa, có thành phần phong phú, đa dạng từ nhiều ngành nghề khác nhau. Nguồn nhân lực sản xuất kinh doanh chủ yếu là doanh nhân, người lao động trong các doanh nghiệp, tập đoàn, công ty.
[4] Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu trầm trọng các cơ sở chuyên nghiệp đào tạo bài bản cho ba nhóm nhân lực này. Cụ thể, cả nước hiện có 40 cơ sở đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật (25 cơ sở đào tạo do địa phương quản lý), 1 viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ và khoảng 80 cơ sở đào tạo công lập, tư thục tham gia đào tạo các ngành trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Trong khi đó, mục tiêu đến năm 2030 đạt 220 nghìn nhân lực trực tiếp và gián tiếp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao. Việc thiếu các cơ sở đào tạo nhân lực văn hóa cho thấy phần nào sự bất cập và thiếu nhạy bén bởi nhu cầu phát triển công nghiệp văn hóa là rất lớn. Chưa kể, Việt Nam đang ở giai đoạn “dân số vàng”, tỷ lệ dân số trong độ tuổi có khả năng lao động (15-64 tuổi) rất cao, dao động khoảng 70%. Với đặc thù trẻ tuổi, nguồn nhân lực này có khả năng sáng tạo, thích ứng và nhanh nhạy trong việc chuyển giao khoa học công nghệ. [5] Trong các nhóm giải pháp, đẩy mạnh nguồn nhân lực đang là đòi hỏi cấp thiết, bởi công nghiệp sáng tạo đòi hỏi những con người sáng tạo, am hiểu về quy trình của một ngành công nghiệp. Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần gỡ "nút thắt" đào tạo bằng cách thay đổi tư duy, đổi mới toàn diện từ triết lý đào tạo đến thiết kế chương trình, phương thức và mô hình đào tạo. Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa cần được định hướng theo thị trường lao động, gắn với nhu cầu thực tế phát triển kinh tế, xã hội, ngành nghề và hướng tới hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời, đào tạo phải bám sát nhu cầu thực tiễn sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, đảm bảo mục tiêu sinh viên tốt nghiệp có việc làm, sản phẩm đào tạo được chấp nhận bởi các nhà tuyển dụng...
[6] Thực tế là trong khi công nghiệp văn hóa đang có khoảng trống đào tạo ở các trường văn hóa nghệ thuật, khối tư nhân lại khá năng động khi xuất hiện các trung tâm đào tạo lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa, thu hút nguồn nhân lực trẻ tham gia. Vì thế, cần tăng cường sự hợp tác hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật để thúc đẩy một số ngành chọn lọc, tăng số lượng nhân lực có chất lượng.
[7] Việc gắn kết giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp là phương thức hiệu quả để rút ngắn khoảng cách từ cơ sở đào tạo đến thị trường lao động, đảm bảo sự tương thích về tầm nhìn giữa nhà cung cấp và nhà tuyển dụng nhân lực. Sự vào cuộc của các doanh nghiệp cũng sẽ mở ra cho sinh viên cơ hội tiếp cận thực tiễn sinh động của ngành nghề, tăng cường trải nghiệm thực tế, trau dồi kỹ năng chuyên môn bên cạnh những kiến thức mang tính học thuật ở nhà trường; đồng thời, cơ sở đào tạo trong nước linh hoạt, chủ động đẩy mạnh liên kết với các trung tâm đào tạo tại nước ngoài, tạo cơ hội cho các học viên cọ sát, nắm vững quy trình chuẩn của công nghiệp văn hóa cũng như kỹ năng phát triển bản thân.
[8] Nhìn ra thế giới, xu hướng trong đào tạo các lĩnh vực công nghiệp văn hóa là cần có sự chuyên môn hóa cao. Kinh nghiệm ở các quốc gia phát triển hàng đầu về công nghiệp văn hóa, đào tạo theo triết lý chuyên môn hóa mới có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao để công nghiệp văn hóa mang về siêu lợi nhuận. Do đó, một số ngành chuyên môn hóa cao mà trong nước chưa mở chuyên ngành đào tạo hoặc chất lượng chưa đáp ứng thì cần sớm có chính sách linh hoạt hỗ trợ tài năng sáng tạo, cử đi du học...
Đổi mới tư duy đào tạo nhân lực cho công nghiệp văn hóa
[0] NDO - Nguồn nhân lực là một trong những "tài nguyên" đặc biệt quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam đang thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực sáng tạo. Tháo gỡ những vướng mắc trong đào tạo nguồn nhân lực văn hóa là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.][1] Thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, công nghiệp văn hóa đã đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Để phát triển công nghiệp văn hóa, nguồn nhân lực là một trong những "tài nguyên" đặc biệt quan trọng. Điều này cũng đã được đề cập, nhấn mạnh và quan tâm từ khi bắt đầu triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
[2] Thực tế, lực lượng tham gia vào quá trình sáng tác văn hóa, nghệ thuật đã có sự tăng trưởng về cả số lượng và chất lượng, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, hoạt động văn hóa, văn nghệ đa dạng, giàu bản sắc. Tuy nhiên, kết quả thực hiện vẫn chưa đáp ứng với kỳ vọng, mục tiêu cũng như những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đặc biệt, số lượng nhân lực văn hóa chất lượng cao còn đang ở mức khiêm tốn. [3] Hiện có các nhóm nhân lực công nghiệp văn hóa. Cụ thể, nhân lực quản lý là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý công chức, viên chức ngành văn hóa và các ngành liên quan; giúp tham mưu, tư vấn, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cho Chính phủ, bộ, ngành và các địa phương; xây dựng, ban hành và thực thi hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách. Nguồn nhân lực sáng tạo là đội ngũ nòng cốt của các ngành công nghiệp văn hóa, có thành phần phong phú, đa dạng từ nhiều ngành nghề khác nhau. Nguồn nhân lực sản xuất kinh doanh chủ yếu là doanh nhân, người lao động trong các doanh nghiệp, tập đoàn, công ty.
[4] Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu trầm trọng các cơ sở chuyên nghiệp đào tạo bài bản cho ba nhóm nhân lực này. Cụ thể, cả nước hiện có 40 cơ sở đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật (25 cơ sở đào tạo do địa phương quản lý), 1 viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ và khoảng 80 cơ sở đào tạo công lập, tư thục tham gia đào tạo các ngành trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Trong khi đó, mục tiêu đến năm 2030 đạt 220 nghìn nhân lực trực tiếp và gián tiếp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao. Việc thiếu các cơ sở đào tạo nhân lực văn hóa cho thấy phần nào sự bất cập và thiếu nhạy bén bởi nhu cầu phát triển công nghiệp văn hóa là rất lớn. Chưa kể, Việt Nam đang ở giai đoạn “dân số vàng”, tỷ lệ dân số trong độ tuổi có khả năng lao động (15-64 tuổi) rất cao, dao động khoảng 70%. Với đặc thù trẻ tuổi, nguồn nhân lực này có khả năng sáng tạo, thích ứng và nhanh nhạy trong việc chuyển giao khoa học công nghệ. [5] Trong các nhóm giải pháp, đẩy mạnh nguồn nhân lực đang là đòi hỏi cấp thiết, bởi công nghiệp sáng tạo đòi hỏi những con người sáng tạo, am hiểu về quy trình của một ngành công nghiệp. Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần gỡ "nút thắt" đào tạo bằng cách thay đổi tư duy, đổi mới toàn diện từ triết lý đào tạo đến thiết kế chương trình, phương thức và mô hình đào tạo. Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa cần được định hướng theo thị trường lao động, gắn với nhu cầu thực tế phát triển kinh tế, xã hội, ngành nghề và hướng tới hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời, đào tạo phải bám sát nhu cầu thực tiễn sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, đảm bảo mục tiêu sinh viên tốt nghiệp có việc làm, sản phẩm đào tạo được chấp nhận bởi các nhà tuyển dụng...
[6] Thực tế là trong khi công nghiệp văn hóa đang có khoảng trống đào tạo ở các trường văn hóa nghệ thuật, khối tư nhân lại khá năng động khi xuất hiện các trung tâm đào tạo lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa, thu hút nguồn nhân lực trẻ tham gia. Vì thế, cần tăng cường sự hợp tác hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật để thúc đẩy một số ngành chọn lọc, tăng số lượng nhân lực có chất lượng.
[7] Việc gắn kết giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp là phương thức hiệu quả để rút ngắn khoảng cách từ cơ sở đào tạo đến thị trường lao động, đảm bảo sự tương thích về tầm nhìn giữa nhà cung cấp và nhà tuyển dụng nhân lực. Sự vào cuộc của các doanh nghiệp cũng sẽ mở ra cho sinh viên cơ hội tiếp cận thực tiễn sinh động của ngành nghề, tăng cường trải nghiệm thực tế, trau dồi kỹ năng chuyên môn bên cạnh những kiến thức mang tính học thuật ở nhà trường; đồng thời, cơ sở đào tạo trong nước linh hoạt, chủ động đẩy mạnh liên kết với các trung tâm đào tạo tại nước ngoài, tạo cơ hội cho các học viên cọ sát, nắm vững quy trình chuẩn của công nghiệp văn hóa cũng như kỹ năng phát triển bản thân.
[8] Nhìn ra thế giới, xu hướng trong đào tạo các lĩnh vực công nghiệp văn hóa là cần có sự chuyên môn hóa cao. Kinh nghiệm ở các quốc gia phát triển hàng đầu về công nghiệp văn hóa, đào tạo theo triết lý chuyên môn hóa mới có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao để công nghiệp văn hóa mang về siêu lợi nhuận. Do đó, một số ngành chuyên môn hóa cao mà trong nước chưa mở chuyên ngành đào tạo hoặc chất lượng chưa đáp ứng thì cần sớm có chính sách linh hoạt hỗ trợ tài năng sáng tạo, cử đi du học...
(Báo Nhân Dân điện tử, nhandan.vn)
Câu 1 [1072789]: Theo tinh thần của văn bản, việc “đào tạo theo triết lý chuyên môn hóa cao” có ý nghĩa gì?
A, Giúp thu hút thêm đầu tư nước ngoài vào giáo dục nghệ thuật, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực
B, Giúp tạo ra đội ngũ chuyên sâu, đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu trong công nghiệp văn hóa.
C, Giúp tránh lãng phí tài nguyên trong đào tạo các ngành ít người học.
D, Giúp sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc và tăng khả năng cạnh tranh trong mọi lĩnh vực khác nhau.
Giải thích & dẫn chứng:
- Đoạn [8] nêu rõ:
“Kinh nghiệm ở các quốc gia phát triển hàng đầu về công nghiệp văn hóa, đào tạo theo triết lý chuyên môn hóa mới có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao để công nghiệp văn hóa mang về siêu lợi nhuận.”
→ Như vậy, mục tiêu của đào tạo chuyên môn hóa là xây dựng đội ngũ có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Đáp án: B
- Đoạn [8] nêu rõ:
“Kinh nghiệm ở các quốc gia phát triển hàng đầu về công nghiệp văn hóa, đào tạo theo triết lý chuyên môn hóa mới có đủ nguồn nhân lực chất lượng cao để công nghiệp văn hóa mang về siêu lợi nhuận.”
→ Như vậy, mục tiêu của đào tạo chuyên môn hóa là xây dựng đội ngũ có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Đáp án: B
Câu 2 [1072790]: Thông tin nào sau đây không phản ánh đúng về hiện trạng đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa tại Việt Nam?
A, Việt Nam hiện có ba nhóm nhân lực: quản lý, sáng tạo và sản xuất kinh doanh.
B, Đội ngũ nhân lực sáng tạo đến từ nhiều ngành nghề và là lực lượng nòng cốt.
C, Hệ thống cơ sở đào tạo hiện tại đủ đáp ứng mục tiêu 220 nghìn nhân lực vào năm 2030.
D, Việt Nam có khoảng 40 cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật chính quy thuộc nhiều cấp độ.
Giải thích & dẫn chứng:
- Đoạn [4]:
“... mục tiêu đến năm 2030 đạt 220 nghìn nhân lực…”, nhưng: “...hiện có 40 cơ ở… việc thiếu cơ sở đào tạo cho thấy sự bất cập…”
→ Như vậy, hệ thống hiện tại chưa đủ để đạt mục tiêu, nên phương án C là sai (và là đáp án đúng của câu hỏi "không phản ánh đúng"). Đáp án: C
- Đoạn [4]:
“... mục tiêu đến năm 2030 đạt 220 nghìn nhân lực…”, nhưng: “...hiện có 40 cơ ở… việc thiếu cơ sở đào tạo cho thấy sự bất cập…”
→ Như vậy, hệ thống hiện tại chưa đủ để đạt mục tiêu, nên phương án C là sai (và là đáp án đúng của câu hỏi "không phản ánh đúng"). Đáp án: C
Câu 3 [1072791]: Theo văn bản, đâu là giải pháp mang tính đột phá để phát triển nguồn nhân lực văn hóa?
A, Cải tổ mạnh mẽ chính sách tài trợ từ nhà nước cho các cơ sở nghệ thuật công lập.
B, Tăng cường vai trò của tổ chức xã hội trong giám sát chất lượng giáo dục, cải tổ mạnh mẽ chính sách tài trợ từ nhà nước
C, Đổi mới triết lý và mô hình đào tạo, gắn với nhu cầu thị trường và thực tiễn sáng tạo.
D, Cải tổ mạnh mẽ chính sách tài trợ từ nhà nước, tập trung đào tạo các nhóm ngành có khả năng đem lại lợi nhuận nhanh chóng.
Giải thích & dẫn chứng:
- Đoạn [5]:
“Cần gỡ nút thắt đào tạo bằng cách thay đổi tư duy, đổi mới toàn diện từ triết lý đào tạo đến thiết kế chương trình..., bám sát nhu cầu thực tiễn, thị trường lao động...”
→ Đây là giải pháp tổng thể và căn cơ, chứ không chỉ cải tiến nhỏ lẻ hay đầu tư cơ sở vật chất. Đáp án: C
- Đoạn [5]:
“Cần gỡ nút thắt đào tạo bằng cách thay đổi tư duy, đổi mới toàn diện từ triết lý đào tạo đến thiết kế chương trình..., bám sát nhu cầu thực tiễn, thị trường lao động...”
→ Đây là giải pháp tổng thể và căn cơ, chứ không chỉ cải tiến nhỏ lẻ hay đầu tư cơ sở vật chất. Đáp án: C
Câu 4 [1072792]: Từ kinh nghiệm quốc tế và đề xuất của văn bản, bài học nào phù hợp nhất với định hướng phát triển nhân lực văn hóa tại Việt Nam?
A, Cần hướng tới đào tạo đa năng, mọi sinh viên đều phải học rộng nhiều lĩnh vực quan trọng
B, Chỉ nên đào tạo những ngành phổ biến, chuyên môn hóa cao, không đầu tư vào chuyên ngành quá đặc thù.
C, Gắn đào tạo với doanh nghiệp, tăng cường hợp tác quốc tế và ưu tiên chuyên môn hóa sâu.
D, Chỉ đào tạo trong nước để giữ gìn bản sắc văn hóa và kiểm soát chất lượng đầu ra, tập trung chuyên môn hóa cao, mở rộng các ngành nghề mới
Giải thích & dẫn chứng:
- Đoạn [7]:
“Gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp là phương thức hiệu quả…”
- Đoạn [8]:
“Xu hướng trong đào tạo… là cần có sự chuyên môn hóa cao”, “…liên kết với trung tâm đào tạo tại nước ngoài… nắm vững quy trình chuẩn…”
→ Văn bản đề xuất kết hợp đào tạo – doanh nghiệp – quốc tế, ưu tiên chất lượng, thực tiễn và chuyên môn sâu. Đáp án: C
- Đoạn [7]:
“Gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp là phương thức hiệu quả…”
- Đoạn [8]:
“Xu hướng trong đào tạo… là cần có sự chuyên môn hóa cao”, “…liên kết với trung tâm đào tạo tại nước ngoài… nắm vững quy trình chuẩn…”
→ Văn bản đề xuất kết hợp đào tạo – doanh nghiệp – quốc tế, ưu tiên chất lượng, thực tiễn và chuyên môn sâu. Đáp án: C
Câu 5 [1072793]: Văn bản đề cao điều gì trong cách tiếp cận đào tạo nhân lực hiện nay?
A, Đào tạo theo năng lực sáng tạo tự do, linh hoạt, phù hợp với bối cảnh thực tế
B, Đào tạo theo cơ chế thị trường, gắn thực tiễn, linh hoạt và hướng đến hội nhập quốc tế.
C, Đào tạo theo mô hình hàn lâm truyền thống để giữ vững tính chuyên sâu học thuật.
D, Đào tạo đại trà để nhanh chóng giải quyết số lượng lớn lao động chưa có việc làm.
Giải thích & dẫn chứng:
- Đoạn [5] (chìa khóa):
“Đào tạo cần được định hướng theo thị trường lao động, gắn với nhu cầu thực tế phát triển kinh tế – xã hội, ngành nghề và hướng tới hội nhập quốc tế sâu rộng…”
→ Đây là tinh thần xuyên suốt toàn văn bản, phản ánh một cách tiếp cận linh hoạt, thực tế, hiện đại trong giáo dục nhân lực công nghiệp văn hóa.
- Đoạn [5] (chìa khóa):
“Đào tạo cần được định hướng theo thị trường lao động, gắn với nhu cầu thực tế phát triển kinh tế – xã hội, ngành nghề và hướng tới hội nhập quốc tế sâu rộng…”
→ Đây là tinh thần xuyên suốt toàn văn bản, phản ánh một cách tiếp cận linh hoạt, thực tế, hiện đại trong giáo dục nhân lực công nghiệp văn hóa.
Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án. I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.
VĂN BẢN 2
[2] Chủ đề của Ngày Lương thực Thế giới năm nay, “Nước là cuộc sống, nước là thức ăn. Không để ai bị bỏ lại phía sau!” nhấn mạnh tầm quan trọng của nước với vấn đề lương thực toàn cầu và phát đi thông điệp bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.
[3] Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chu trình tự nhiên của nước thay đổi và gây ra những đợt hạn hán nghiêm trọng. Nhiều hồ chứa nước ngọt, sông suối trên thế giới dần cạn kiệt. Ô nhiễm nguồn nước sạch ngày càng trầm trọng. Theo báo cáo của FAO, lũ lụt, bão, hạn hán, côn trùng phá hoại... đã gây thiệt hại khoảng 123 tỷ USD mỗi năm về sản lượng lương thực từ năm 1991 đến năm 2021.
[4] Tại Ấn Độ, tháng 8/2023 là tháng 8 khô hạn nhất trong hơn một thế kỷ qua, khi tình trạng mưa ít kéo dài trên khắp các khu vực lớn và ảnh hưởng đến sản lượng nhiều loại cây trồng, từ lúa gạo đến đậu tương. Điều này đã đẩy giá lương thực tăng cao. Số liệu chính thức cho thấy, lạm phát bán lẻ ở Ấn Độ trong tháng 7/2023 đã tăng lên mức cao nhất trong 15 tháng. Còn ở Italia, những đợt nắng nóng gay gắt trong tháng 7 và tháng 8 vừa qua cũng khiến mực nước sông, hồ giảm mạnh, tác động tiêu cực đến sản lượng cây trồng. Hiệp hội Nông dân quốc gia Italia nhận định, năm nay, sản lượng lúa mì sụt giảm 10%, nho làm rượu vang giảm 14% và lê giảm 63% so với năm 2022.
[5] Theo Cơ quan Liên chính phủ về phát triển (IGAD), hơn 83 nghìn người sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trầm trọng ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột và hạn hán nghiêm trọng nhất, đặc biệt là ở Somalia và Nam Sudan. Dù chỉ chiếm khoảng 3% lượng phát thải toàn cầu, Lục địa Đen phải gánh chịu tác động của biến đổi khí hậu tồi tệ hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết, khoảng 190 triệu trẻ em tại châu Phi đối mặt với ba nguy cơ cùng lúc liên quan nước, bao gồm tiếp cận nguồn nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân.
[6] Nhân Ngày Lương thực thế giới năm nay, Tổng Giám đốc FAO Khuất Đông Ngọc cho biết, với khoảng 70% tổng lượng nước ngọt trên thế giới hiện được sử dụng cho nông nghiệp, việc con người thay đổi cách thức sản xuất thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác là nhiệm vụ quan trọng nhất để bảo vệ nguồn nước ngọt. FAO khuyến khích và hỗ trợ các quốc gia đầu tư cho các biện pháp quản lý nước hiệu quả và sáng tạo, như công nghệ tưới tiêu và lưu trữ nước hiện đại, các giải pháp dựa trên cơ sở khoa học để giải quyết tình trạng khan hiếm nước và ứng phó lũ lụt. FAO đang thúc đẩy cơ giới hóa để cải thiện cơ sở hạ tầng nước và hỗ trợ các hộ nông dân ở khu vực Sahel của châu Phi tiếp cận nguồn nước. Các chuyên gia hiện cũng nghiên cứu việc sử dụng công nghệ hiện đại để giúp nông dân giải quyết thách thức về nông nghiệp, do họ gặp khó khăn trong việc tới những nông trại xa xôi để tư vấn cho nông dân về hệ thống cây trồng phù hợp và quản lý vụ mùa.
[7] Với Farmer.CHAT, một ứng dụng chatbot sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) dùng trên điện thoại di động, nông dân sẽ dễ dàng tiếp cận được những kiến thức về quản lý vụ mùa, cải thiện tưới tiêu, kiểm soát thuốc trừ sâu..., qua đó phát triển mùa màng có sức chống chịu tốt hơn trước thiên tai. Bên cạnh việc đổi mới hoạt động nông nghiệp, quyết liệt giải quyết các vấn đề liên quan biến đổi khí hậu cũng là yếu tố cốt lõi để bảo vệ tài nguyên nước.
[8] Tình trạng mất an ninh nguồn nước sẽ dẫn đến bất ổn an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh năng lượng; ảnh hưởng đến phát triển đô thị và kéo theo hàng loạt vấn đề xã hội khác. Nước là tài nguyên quý giá, bảo đảm an ninh nguồn nước chính là bảo vệ tương lai của nhân loại.
Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước
[1] Nhiều khu vực trên thế giới đang loay hoay giải quyết bài toán khô hạn, vốn ảnh hưởng trầm trọng đến cuộc sống mưu sinh của người dân. Nhân Ngày Lương thực thế giới (16/10) năm nay, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) kêu gọi thế giới chung tay quản lý hiệu quả, bền vững tài nguyên nước, vì an ninh lương thực và tương lai của hành tinh xanh.[2] Chủ đề của Ngày Lương thực Thế giới năm nay, “Nước là cuộc sống, nước là thức ăn. Không để ai bị bỏ lại phía sau!” nhấn mạnh tầm quan trọng của nước với vấn đề lương thực toàn cầu và phát đi thông điệp bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.
[3] Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chu trình tự nhiên của nước thay đổi và gây ra những đợt hạn hán nghiêm trọng. Nhiều hồ chứa nước ngọt, sông suối trên thế giới dần cạn kiệt. Ô nhiễm nguồn nước sạch ngày càng trầm trọng. Theo báo cáo của FAO, lũ lụt, bão, hạn hán, côn trùng phá hoại... đã gây thiệt hại khoảng 123 tỷ USD mỗi năm về sản lượng lương thực từ năm 1991 đến năm 2021.
[4] Tại Ấn Độ, tháng 8/2023 là tháng 8 khô hạn nhất trong hơn một thế kỷ qua, khi tình trạng mưa ít kéo dài trên khắp các khu vực lớn và ảnh hưởng đến sản lượng nhiều loại cây trồng, từ lúa gạo đến đậu tương. Điều này đã đẩy giá lương thực tăng cao. Số liệu chính thức cho thấy, lạm phát bán lẻ ở Ấn Độ trong tháng 7/2023 đã tăng lên mức cao nhất trong 15 tháng. Còn ở Italia, những đợt nắng nóng gay gắt trong tháng 7 và tháng 8 vừa qua cũng khiến mực nước sông, hồ giảm mạnh, tác động tiêu cực đến sản lượng cây trồng. Hiệp hội Nông dân quốc gia Italia nhận định, năm nay, sản lượng lúa mì sụt giảm 10%, nho làm rượu vang giảm 14% và lê giảm 63% so với năm 2022.
[5] Theo Cơ quan Liên chính phủ về phát triển (IGAD), hơn 83 nghìn người sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trầm trọng ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột và hạn hán nghiêm trọng nhất, đặc biệt là ở Somalia và Nam Sudan. Dù chỉ chiếm khoảng 3% lượng phát thải toàn cầu, Lục địa Đen phải gánh chịu tác động của biến đổi khí hậu tồi tệ hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết, khoảng 190 triệu trẻ em tại châu Phi đối mặt với ba nguy cơ cùng lúc liên quan nước, bao gồm tiếp cận nguồn nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân.
[6] Nhân Ngày Lương thực thế giới năm nay, Tổng Giám đốc FAO Khuất Đông Ngọc cho biết, với khoảng 70% tổng lượng nước ngọt trên thế giới hiện được sử dụng cho nông nghiệp, việc con người thay đổi cách thức sản xuất thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác là nhiệm vụ quan trọng nhất để bảo vệ nguồn nước ngọt. FAO khuyến khích và hỗ trợ các quốc gia đầu tư cho các biện pháp quản lý nước hiệu quả và sáng tạo, như công nghệ tưới tiêu và lưu trữ nước hiện đại, các giải pháp dựa trên cơ sở khoa học để giải quyết tình trạng khan hiếm nước và ứng phó lũ lụt. FAO đang thúc đẩy cơ giới hóa để cải thiện cơ sở hạ tầng nước và hỗ trợ các hộ nông dân ở khu vực Sahel của châu Phi tiếp cận nguồn nước. Các chuyên gia hiện cũng nghiên cứu việc sử dụng công nghệ hiện đại để giúp nông dân giải quyết thách thức về nông nghiệp, do họ gặp khó khăn trong việc tới những nông trại xa xôi để tư vấn cho nông dân về hệ thống cây trồng phù hợp và quản lý vụ mùa.
[7] Với Farmer.CHAT, một ứng dụng chatbot sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) dùng trên điện thoại di động, nông dân sẽ dễ dàng tiếp cận được những kiến thức về quản lý vụ mùa, cải thiện tưới tiêu, kiểm soát thuốc trừ sâu..., qua đó phát triển mùa màng có sức chống chịu tốt hơn trước thiên tai. Bên cạnh việc đổi mới hoạt động nông nghiệp, quyết liệt giải quyết các vấn đề liên quan biến đổi khí hậu cũng là yếu tố cốt lõi để bảo vệ tài nguyên nước.
[8] Tình trạng mất an ninh nguồn nước sẽ dẫn đến bất ổn an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh năng lượng; ảnh hưởng đến phát triển đô thị và kéo theo hàng loạt vấn đề xã hội khác. Nước là tài nguyên quý giá, bảo đảm an ninh nguồn nước chính là bảo vệ tương lai của nhân loại.
Ngày 18/10/2023
baosoctrang.org.vn
Câu 6 [1072794]: Theo văn bản, mất an ninh nguồn nước kéo theo hệ quả gì?
A, Giảm dân số toàn cầu, giảm áp lực môi trường làm ảnh hưởng phát triển đô thị và nhiều vấn đề xã hội.
B, Gây bất ổn an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh năng lượng, ảnh hưởng phát triển đô thị và nhiều vấn đề xã hội.
C, Chỉ ảnh hưởng đến nông nghiệp, không liên quan đến các lĩnh vực khác.
D, Gây bất ổn an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh năng lượng, làm tăng cơ hội đổi mới công nghệ và thúc đẩy phát triển công nghiệp.
Thông tin nhận diện (trích nguyên văn): [8]: “Tình trạng mất an ninh nguồn nước sẽ dẫn đến bất ổn an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh năng lượng; ảnh hưởng đến phát triển đô thị và kéo theo hàng loạt vấn đề xã hội khác.” Đáp án: B
Câu 7 [1072795]: Khu vực nào phát thải rất thấp nhưng chịu tác động khí hậu đối với nước nặng nề hơn, và trẻ em ở đó đối mặt những rủi ro nào?
A, Nam Á; trẻ em đối mặt nguy cơ thiếu lương thực, thiếu trường học, ô nhiễm không khí.
B, Châu Phi; khoảng 190 triệu trẻ em đối mặt ba nguy cơ liên quan tới nước (tiếp cận nước, vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân).
C, Nam Mỹ; trẻ em thiếu nước sạch, thiếu y tế và dinh dưỡng.
D, Trung Đông; trẻ em thiếu nước, thiếu dinh dưỡng, xung đột vũ trang, đối diện với 3 nguy cơ liên quan đến nước tiếp cận nước, vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân).
Thông tin nhận diện (trích nguyên văn):
• [5] : “Dù chỉ chiếm khoảng 3% lượng phát thải toàn cầu, Lục địa Đen phải gánh chịu tác động của biến đổi khí hậu tồi tệ hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới.”
• [5]: “Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết, khoảng 190 triệu trẻ em tại châu Phi đối mặt với ba nguy cơ cùng lúc liên quan nước, bao gồm tiếp cận nguồn nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân.” Đáp án: B
• [5] : “Dù chỉ chiếm khoảng 3% lượng phát thải toàn cầu, Lục địa Đen phải gánh chịu tác động của biến đổi khí hậu tồi tệ hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới.”
• [5]: “Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết, khoảng 190 triệu trẻ em tại châu Phi đối mặt với ba nguy cơ cùng lúc liên quan nước, bao gồm tiếp cận nguồn nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân.” Đáp án: B
Câu 8 [1072796]: Vì sao việc thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp lại được coi là nhiệm vụ quan trọng nhất để bảo vệ nguồn nước?
A, Vì nông nghiệp hiện nay sử dụng phần lớn lượng nước ngọt toàn cầu và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến đổi khí hậu, thiên tai.
B, Vì nông nghiệp gây ô nhiễm nước nghiêm trọng hơn các ngành khác và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến đổi khí hậu, thiên tai.
C, Vì thay đổi phương thức sản xuất có thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ hạn hán và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến đổi khí hậu, thiên tai.
D, Vì các nước phát triển đã thành công trong việc giảm tiêu thụ nước nhờ thay đổi sản xuất.
Thông tin nhận diện:
• [6]: “Với khoảng 70% tổng lượng nước ngọt trên thế giới hiện được sử dụng cho nông nghiệp, việc con người thay đổi cách thức sản xuất thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác là nhiệm vụ quan trọng nhất để bảo vệ nguồn nước ngọt.”
• [3] (bối cảnh rủi ro đến nông nghiệp): “Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chu trình tự nhiên của nước thay đổi và gây ra những đợt hạn hán nghiêm trọng … ‘Ô nhiễm nguồn nước sạch ngày càng trầm trọng.’” Đáp án: A
• [6]: “Với khoảng 70% tổng lượng nước ngọt trên thế giới hiện được sử dụng cho nông nghiệp, việc con người thay đổi cách thức sản xuất thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác là nhiệm vụ quan trọng nhất để bảo vệ nguồn nước ngọt.”
• [3] (bối cảnh rủi ro đến nông nghiệp): “Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chu trình tự nhiên của nước thay đổi và gây ra những đợt hạn hán nghiêm trọng … ‘Ô nhiễm nguồn nước sạch ngày càng trầm trọng.’” Đáp án: A
Câu 9 [1072797]: Đâu là điểm chung của các giải pháp FAO đề xuất nhằm bảo vệ tài nguyên nước?
A, Dựa vào công nghệ hiện đại và đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp để sử dụng nước hiệu quả hơn.
B, Tập trung vào cắt giảm sản lượng nông nghiệp và khuyến khích nhập khẩu lương thực.
C, Kêu gọi người dân hạn chế dùng nước sinh hoạt, đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp để sử dụng nước hiệu quả hơn.
D, Xây dựng hồ chứa lớn ở mọi khu vực để dự trữ nước, đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp để sử dụng nước hiệu quả hơn, đồng thời dựa vào hệ thống công nghệ hiện đại mới.
Thông tin nhận diện:
• [6]: “FAO khuyến khích và hỗ trợ các quốc gia đầu tư cho các biện pháp quản lý nước hiệu quả và sáng tạo, như công nghệ tưới tiêu và lưu trữ nước hiện đại, các giải pháp dựa trên cơ sở khoa học … ‘FAO đang thúc đẩy cơ giới hóa để cải thiện cơ sở hạ tầng nước…’”
• [7]: “Với Farmer.CHAT, một ứng dụng chatbot sử dụng AI… nông dân dễ dàng tiếp cận kiến thức cải thiện tưới tiêu, quản lý vụ mùa…”
• [6]: “FAO khuyến khích và hỗ trợ các quốc gia đầu tư cho các biện pháp quản lý nước hiệu quả và sáng tạo, như công nghệ tưới tiêu và lưu trữ nước hiện đại, các giải pháp dựa trên cơ sở khoa học … ‘FAO đang thúc đẩy cơ giới hóa để cải thiện cơ sở hạ tầng nước…’”
• [7]: “Với Farmer.CHAT, một ứng dụng chatbot sử dụng AI… nông dân dễ dàng tiếp cận kiến thức cải thiện tưới tiêu, quản lý vụ mùa…”
Câu 10 [1072798]: Đoạn [5] nêu tình trạng “Lục địa Đen chịu tác động khí hậu tồi tệ hơn nhiều so với các khu vực khác”. Kết hợp với đoạn [8], có thể suy ra điều gì?
A, Mất an ninh nguồn nước chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề nhập khẩu lương thực chứ không ảnh hưởng tới các lĩnh vực xã hội khác.
B, Các quốc gia phát thải nhiều đang hỗ trợ mạnh mẽ cho châu Phi để bù đắp bất công về khí hậu.
C, Châu Phi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nhưng nhờ ít phát thải nên vẫn ít bị ảnh hưởng đến an ninh năng lượng.
D, Biến đổi khí hậu làm gia tăng bất bình đẳng toàn cầu, khi những nước phát thải ít lại gánh chịu hậu quả nặng nề, kéo theo rủi ro xã hội.
• Dẫn chứng – vị trí: [5]: “chỉ chiếm 3% phát thải nhưng gánh chịu tác động nặng nề…”; [8]: mất an ninh nước dẫn tới bất ổn y tế, năng lượng, xã hội.
• Giải thích: Sự chênh lệch giữa “góp phần ít” và “chịu thiệt nhiều” phản ánh bất bình đẳng khí hậu, làm gia tăng nguy cơ bất ổn toàn diện. Đáp án: D
Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.
Câu 11 [1072803]: Theo Germany Kent đã từng chia sẻ: “Hãy sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp và nâng đỡ người khác, chứ không phải hạ bệ họ. Hãy giữ vững lập trường. Hãy giữ bình tĩnh.”
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: “sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp”
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: “sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp”
DÀN Ý CHI TIẾT
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống con người, nơi chia sẻ thông tin, cảm xúc và kết nối cộng đồng. Tuy nhiên, song hành với lợi ích, mạng xã hội cũng đang bị lạm dụng cho những mục đích tiêu cực như bôi nhọ, lan truyền tin giả hay gây chia rẽ. Câu nói của Germany Kent nhấn mạnh ý nghĩa nhân văn con người cần sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp, lan tỏa điều tích cực và tôn trọng người khác.2. Thân đoạn
2.1. Giải thích
- “Sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp” nghĩa là dùng các nền tảng số như Facebook, TikTok, YouTube để học hỏi, chia sẻ kiến thức, truyền cảm hứng và giúp đỡ cộng đồng, thay vì lan truyền sự thù ghét, đố kị hay tin giả.
Quan điểm nhắn nhủ con người cần giữ lập trường và bình tĩnh trong việc sử dụng các ứng dụng công nghệ số. Đặc biệt biến nó thành công cụ để tạo ra giá trị cho xã hội cộng đồng.
2.2. Bàn luận sâu sắc về vấn đề
- Bản chất các ứng dụng công nghệ mới ra đời đều là sản phẩm của sự tiến bộ vượt bậc, nó chính là công cụ thúc đẩy, phá bỏ giới hạn của con người. Tuy nhiên chúng cũng như con do hai lưỡi, tốt hay xấu, hiệu quả hay vô nghĩa đều là do cách sử dụng của con người.
- Mạng xã hội là một không gian đạo đức mở, nơi chuẩn mực ứng xử của con người bị thử thách mạnh mẽ. Nguyên tắc đạo đức này vẫn còn nguyên giá trị trong môi trường mạng, nơi mỗi lời nói nếu thiếu suy xét có thể gây tổn thương sâu sắc cho người khác.Khi được sử dụng đúng đắn, mạng xã hội là công cụ kết nối và lan tỏa giá trị nhân văn, giúp con người tiếp cận tri thức, nâng cao nhận thức và đồng hành trong các hoạt động thiện nguyện, xã hội.
- Voltaire có nhận định nổi tiếng“Tôi không đồng tình với điều anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến cùng quyền được nói của anh.” bởi vậy mạng xã hội chính là phương tiện dễ dàng để người trẻ thực hiện trách nhiệm lớn lao của mình trong việc xây dựng đồng hành cùng quê hương đất nước và bảo vệ, giữ gìn, phát huy các truyền thống dân tộc. Maya Angelou từng nói:“Con người sẽ không bao giờ quên cảm giác mà bạn đã mang lại cho họ.” Nhiều người đã tận dụng mạng xã hội để xây dựng hình ảnh tích cực, thúc đẩy thay đổi tốt đẹp trong cộng đồng. Từ việc lan tỏa tinh thần bảo vệ môi trường, chia sẻ kiến thức học tập, đến cổ vũ tinh thần yêu thương và sẻ chia.
- Trên phương diện tâm lí học, cách con người sử dụng mạng xã hội tác động trực tiếp đến sức khỏe tinh thần cộng đồng. Nhà tâm lí học Carl Jung từng nhận định:“Mọi điều nơi người khác khiến ta khó chịu đều có thể dẫn ta đến sự thấu hiểu chính mình.” Điều này cho thấy mạng xã hội không nên là nơi trút giận hay phán xét, mà cần trở thành không gian tự nhận thức và điều chỉnh cảm xúc.
- Tuy nhiên, khi bị lạm dụng, mạng xã hội dễ trở thành “vũ khí” gây tổn thương tinh thần, tạo nên những “cơn bão” công kích, bịa đặt, xúc phạm danh dự người khác. Aristotle từng nói:“Ai cũng có thể nổi giận, điều đó thì dễ. Nhưng giận đúng người, đúng mức, đúng lúc, đúng mục đích và đúng cách thì không hề dễ.” Chính vì vậy, việc sử dụng mạng xã hội đúng cách là thước đo của văn hóa, nhân cách và trách nhiệm công dân trong thời đại số.
- Trên phương diện giáo dục và tri thức, mạng xã hội có thể trở thành môi trường học tập mở nếu được sử dụng đúng hướng. John Dewey khẳng định: “Giáo dục không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống, giáo dục chính là cuộc sống.” Từ đó, mạng xã hội chỉ thực sự có giá trị khi trở thành không gian chia sẻ tri thức, truyền cảm hứng và nuôi dưỡng tinh thần học hỏi.
2.3. Dẫn chứng cụ thể
- Ca sĩ Hà Anh Tuấn và nhiều nghệ sĩ khác cũng lan tỏa năng lượng tích cực qua chiến dịch trồng rừng, gây quỹ học bổng cho học sinh nghèo.
- Greta Thunberg sử dụng mạng xã hội để kêu gọi hành động vì khí hậu, truyền cảm hứng cho hàng triệu người trẻ toàn cầu. Những tấm gương đó minh chứng rằng: mạng xã hội có thể trở thành “cánh tay nối dài của điều thiện” nếu được sử dụng đúng mục đích.
2.4. Phản đề – Mở rộng vấn đề
- Marshall McLuhan đã nói“Phương tiện chính là thông điệp.”Trái lại, một bộ phận người dùng mạng xã hội hiện nay sử dụng nó để kích động hận thù, nói xấu, tung tin thất thiệt hoặc theo đuổi lối sống ảo, khoe khoang, gây tổn thương cho người khác. Những hành động ấy không chỉ làm xấu đi hình ảnh cá nhân mà còn góp phần lan truyền năng lượng tiêu cực trong xã hội. Đức Dalai Lama từng nói:“Hãy tử tế bất cứ khi nào có thể. Và điều đó luôn luôn có thể.”Do đó, cần xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh trên mạng: tôn trọng sự thật, có trách nhiệm với mỗi phát ngôn, và lan tỏa tinh thần nhân ái.
2.5. Bài học nhận thức và hành động
James Clear khẳng định“Mỗi hành động bạn thực hiện là một lá phiếu cho kiểu người mà bạn muốn trở thành.”Mỗi cá nhân, đặc biệt là người trẻ, cần nhận thức rằng mạng xã hội không chỉ là nơi thể hiện bản thân mà còn là không gian cộng đồng, đòi hỏi đạo đức và ý thức.
Cần học cách kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, bình tĩnh trước mâu thuẫn, và chủ động lan tỏa những giá trị tốt đẹp, truyền cảm hứng tích cực cho người khác.
Sử dụng mạng xã hội thông minh là cách để vừa bảo vệ bản thân, vừa góp phần xây dựng một môi trường mạng văn minh và nhân ái.
3. Kết đoạn: Khẳng định và nâng cao
Quan điểm của Germany Kent là lời nhắc nhở sâu sắc về trách nhiệm của mỗi người trong kỷ nguyên số. Khi ta sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp, ta không chỉ lan tỏa yêu thương mà còn góp phần làm cho thế giới này tử tế và bền vững hơn. Bởi đôi khi, chỉ một dòng chia sẻ tích cực cũng đủ nâng đỡ một tâm hồn đang tổn thương.
VIẾT ĐOẠN VĂN THAM KHẢO:
Trong thời đại công nghệ số, khi mạng xã hội len vào từng nhịp sống và trở thành cây cầu nối con người, nó mang theo cả ánh sáng lan tỏa điều tốt đẹp lẫn những mảng tối âm thầm lan rộng. Chính vì thế, lời nhắc của Germany Kent: “Hãy sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp và nâng đỡ người khác, chứ không phải hạ bệ họ. Hãy giữ vững lập trường. Hãy giữ bình tĩnh.” trở thành kim chỉ nam cho mỗi người dùng sản phẩm của công nghệ trong thời đại mới.“Sử dụng mạng xã hội vì mục đích tốt đẹp” nghĩa là biến Facebook, TikTok hay YouTube thành môi trường học hỏi, chia sẻ kiến thức, truyền cảm hứng và hỗ trợ cộng đồng thay vì gieo rắc những điều tiêu cực hay phát tán thông tin sai lệch. Đó còn là lời nhắc phải giữ lập trường và bình tĩnh trước những luồng thông tin hỗn độn. Bởi mạng xã hội chỉ là công cụ, nó tốt hay xấu, hữu ích hay vô nghĩa, chẳng phải đều phụ thuộc vào chính bàn tay người dùng hay sao? Bản chất các nền tảng số là sản phẩm của tiến bộ, giống như “lưỡi dao hai mặt”: khi được sử dụng đúng, nó mở ra tri thức, nuôi dưỡng sự tử tế, kết nối các tấm lòng thiện nguyện, giúp con người đồng hành trong những dự án cộng đồng. Người trẻ càng có cơ hội góp phần xây dựng quê hương, lan tỏa tinh thần yêu nước, gìn giữ truyền thống bằng những hành động nhỏ mà có sức lan tỏa lớn. Một video chia sẻ kiến thức, một bài viết kêu gọi giúp đỡ, hay một chiến dịch truyền cảm hứng đều là dòng chảy nhân văn khơi gợi giá trị tốt đẹp trong mọi người. Nhiều người đã tận dụng mạng xã hội để tạo nên những thay đổi tích cực: lan tỏa tinh thần bảo vệ môi trường, chia sẻ tri thức, cổ vũ sự tử tế đẹp đẽ trong thời đại ngày nay. Thế nhưng, khi bị lạm dụng, mạng xã hội dễ trở thành “vũ khí vô hình” gây tổn thương tinh thần, tạo ra những cơn bão công kích làm sụp đổ danh dự và lòng tự trọng của người khác. Sự công kích ấy khiến ta tự hỏi có đáng để một lời nói thiếu kiểm chứng phá hủy một cuộc đời một người? Vì vậy, cách ta sử dụng mạng xã hội chính là thước đo văn hóa, nhân cách và trách nhiệm công dân. Thực tế cho thấy, khi con người chọn gieo hạt thiện lành trong thế giới ảo, những hạt giống ấy có thể lan xa hơn ta tưởng. Không thiếu những tấm gương đã biến mạng xã hội thành nơi khởi phát của trách nhiệm và lòng nhân ái. Đó là ca sĩ Hà Anh Tuấn và nhiều nghệ sĩ Việt dùng sức ảnh hưởng để gây quỹ học bổng, trồng rừng, hỗ trợ cộng đồng; Greta Thunberg biến mạng xã hội thành “chiếc loa phóng thanh của khí hậu”, đánh thức hàng triệu người trẻ về trách nhiệm với Trái Đất. Những minh chứng ấy khẳng định nếu được dùng đúng mục đích, mạng xã hội hoàn toàn có thể trở thành “cánh tay nối dài của điều thiện”, nâng đỡ nhiều mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Ngược lại, một bộ phận người dùng lại biến không gian mạng thành nơi kích động hận thù, bôi nhọ danh dự, khoe khoang quá mức hoặc chạy theo lối sống ảo khiến chính họ đánh mất sự chân thành. Những hành động ấy không chỉ làm xấu hình ảnh cá nhân mà còn gieo rắc năng lượng tiêu cực cho xã hội. Vì thế, cần kiến tạo một văn hóa ứng xử lành mạnh trên mạng cần tôn trọng sự thật, cẩn trọng khi phát ngôn, hành xử tử tế và có trách nhiệm. Như triết gia Marcus Aurelius từng viết: “Sự tốt đẹp của con người là làm điều đúng đắn dù không ai nhìn thấy.” Từ đó, mỗi cá nhân, đặc biệt là người trẻ, cần hiểu rằng mạng xã hội không phải chốn riêng tư tuyệt đối mà là một không gian cộng đồng đòi hỏi đạo đức và ý thức. Ta phải biết kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, giữ bình tĩnh trước xung đột, tỉnh táo trước thị phi, và chủ động lan tỏa giá trị tử tế. Dùng mạng xã hội một cách thông minh chính là tự bảo vệ mình và góp phần xây dựng môi trường mạng văn minh, nhân ái hơn mỗi ngày. Bởi đôi khi, chỉ một dòng chia sẻ tích cực cũng đủ nâng đỡ một tâm hồn đang chênh vênh và đó chính là sức mạnh lớn nhất của mạng xã hội khi được sử dụng đúng cách. Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.
Câu 12 [1072804]: Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
Không có gì tự đến đâu Con.
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.
Mùa bội thu phải một nắng hai sương,
Không có gì tự đến dẫu bình thường.
Phải bằng cả bàn tay và nghị lực!
Như con chim suốt ngày chọn hạt,
Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.
Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,
Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.
Có roi vọt khi con hư và có lỗi
Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!
Đường Con đi dài rộng biết bao nhiêu.
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,
Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng,
Chỉ có Con mới nâng nổi chính mình.
Không có gì tự đến đâu Con.
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.
Mùa bội thu phải một nắng hai sương,
Không có gì tự đến dẫu bình thường.
Phải bằng cả bàn tay và nghị lực!
Như con chim suốt ngày chọn hạt,
Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.
Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,
Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.
Có roi vọt khi con hư và có lỗi
Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!
Đường Con đi dài rộng biết bao nhiêu.
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,
Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng,
Chỉ có Con mới nâng nổi chính mình.
(Không có gì tự đến đâu Con – Nguyễn Đăng Tấn)
⭐ **DÀN Ý CHI TIẾT PHÂN TÍCH BÀI THƠ
I. MỞ BÀIThơ ca từ lâu vẫn được xem là tiếng nói tinh tế của tâm hồn con người, nơi những trải nghiệm sống, những suy ngẫm và yêu thương được gửi gắm qua ngôn từ giàu cảm xúc. Không ít bài thơ ra đời không chỉ để bộc lộ cảm xúc cá nhân mà còn như những lời nhắn nhủ, những bài học sống lặng lẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong mạch cảm hứng ấy, Nguyễn Đăng Tấn với giọng thơ bình dị mà giàu chất triết lí đã để lại dấu ấn riêng bằng những thi phẩm hướng con người tới các giá trị sống bền vững. Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được sáng tác năm 1995 và viết tặng cho con trai, mang giọng điệu răn dạy mà trìu mến, sâu sắc. Qua lời thơ như lời nói của một người cha từng trải, tác phẩm đã truyền tải thông điệp giàu ý nghĩa về sự nỗ lực, tinh thần tự lập và bản lĩnh sống cần có của mỗi con người trên hành trình trưởng thành.
II. THÂN BÀI
1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm – hoàn cảnh ra đời
Nguyễn Đăng Tấn là một cây bút thơ mang phong cách giản dị, gần gũi với đời sống nhưng luôn hàm chứa những suy ngẫm sâu xa về con người và lẽ sống. Thơ ông không cầu kì về hình thức mà chú trọng truyền tải triết lí sống bằng những hình ảnh quen thuộc, dễ cảm, dễ thấm. Bài thơ Không có gì tự đến đâu con được ông viết tặng con trai khi cậu bé mới học lớp 3, sau này in trong tập Lời ru vầng trăng (2000). Hoàn cảnh sáng tác ấy khiến bài thơ mang đậm dấu ấn của tình phụ tử: đó là lời nhắn nhủ chân thành, xuất phát từ trải nghiệm sống và trách nhiệm của một người cha trước con đường dài rộng đang chờ con phía trước. Chính từ mối quan hệ ruột thịt ấy, những triết lí trong bài thơ không khô cứng, giáo điều, mà trở nên ấm áp, thuyết phục và giàu sức lay động.
2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG BÀI THƠ
⭐ Luận điểm 1: Khẳng định một chân lí sống giản dị mà sâu sắc rằng mọi thành quả đều được tạo nên từ lao động và nỗ lực bền bỉ
Trong đời sống cũng như trong văn chương, có những chân lí không cần đến những lập luận cầu kì mà vẫn hiện ra với sức thuyết phục bền bỉ của trải nghiệm. Đó là những sự thật giản dị đến mức tưởng như hiển nhiên, nhưng con người chỉ thực sự thấu hiểu khi đã đi qua va đập, thử thách và trả giá. Một trong những chân lí ấy là: không có giá trị nào tự nhiên mà có, không có thành quả nào đến từ sự chờ đợi hay may mắn ngẫu nhiên. Chính từ điểm nhìn từng trải ấy, lời thơ của Nguyễn Đăng Tấn vang lên không như một triết lí trừu tượng, mà như một sự khẳng định chắc nịch của đời sống: Ngay từ những dòng thơ mở đầu, bài thơ đã vang lên như một lời khẳng định dứt khoát, chắc nịch của người cha từng trải:“Không có gì tự đến đâu con.”Câu thơ ngắn, cấu trúc phủ định trực tiếp, giọng điệu bình thản mà kiên quyết, như một chân lí sống không thể đảo ngược. Ở đây, nhà thơ không dùng những lời lẽ cao siêu hay triết luận trừu tượng, mà lựa chọn cách nói giản dị, gần với lời dặn dò đời thường để nhấn mạnh một sự thật căn bản của cuộc đời đó là mọi giá trị đều phải được tạo nên bằng nỗ lực của chính con người. Chân lí ấy được cụ thể hóa bằng những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc:“Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.”“Quả ngọt”, “hoa thơm” là những ẩn dụ giàu sức gợi cho thành quả, cho thành công và những phẩm chất đẹp đẽ mà con người khao khát đạt tới. Để có được vị ngọt và hương thơm ấy, không thể thiếu quá trình “tích nhựa”, “trải qua nắng lửa” những hình ảnh gợi sự âm thầm, bền bỉ, thậm chí khắc nghiệt của thời gian và thử thách. “Tích nhựa” là sự dồn nén, tích lũy lâu dài; “nắng lửa” là biểu tượng của gian nan, rèn luyện và cả những va đập khắc nghiệt của đời sống. Mọi thành quả trong đời sống, cũng như trong nghệ thuật, dường như chưa bao giờ là kết quả của sự ngẫu nhiên hay ban phát dễ dãi. Có những giá trị phải đi qua thời gian, va đập và bền bỉ tích lũy mới dần hình thành, như cách cây dồn nhựa cho trái ngọt, hoa âm thầm gom hương qua nắng lửa. Chân lí giản dị ấy từng được Thomas Edison khẳng định một cách thẳng thắn: “Thiên tài chỉ có một phần trăm là cảm hứng, còn chín mươi chín phần trăm là mồ hôi.” Và trong truyền thống tư tưởng phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nhấn mạnh: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền.” Những câu nói ấy, dù xuất phát từ những lĩnh vực và hoàn cảnh khác nhau, đều gặp nhau ở một điểm chung: giá trị chân chính không đến từ may mắn, mà được làm nên từ lao động, ý chí và sự kiên trì không ngơi nghỉ. Qua đó, nhà thơ khẳng định rằng thành công không phải là phép màu đến bất ngờ, mà là kết quả của một hành trình dài lao động, chịu đựng và kiên trì. Những hình ảnh thơ mộc mạc ấy còn cho thấy cách giáo dục rất nhân văn của người cha: không tô hồng con đường đời, không hứa hẹn sự dễ dàng, mà giúp con hiểu sớm rằng giá trị chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đánh đổi bằng công sức. Chính sự kết hợp hài hòa giữa nội dung triết lí sâu sắc và nghệ thuật ẩn dụ thiên nhiên giản dị đã khiến lời dạy trong bài thơ trở nên thấm thía, nhẹ nhàng mà bền lâu trong nhận thức người đọc.
Tinh thần ấy vang lên rất tự nhiên trong lời thơ Nguyễn Đăng Tấn, khi ông không hứa hẹn cho con một con đường dễ dàng, mà chỉ ra quy luật bền vững của đời sống: “Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa / Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.” Đặt trong mạch cảm hứng chung của thơ ca Việt Nam hiện đại, quan niệm ấy không hề đơn độc. Tố Hữu viết: “Nếu là con chim, chiếc lá / Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh.” Đó là một cách nói khác của cùng một chân lí sống là phải lao động đúng với bản chất của mình, phải dâng hiến và phát sáng bằng chính năng lực nội tại. Cũng như “con chim” phải hót, “chiếc lá” phải xanh, thì “quả ngọt”, “hoa thơm” trong thơ Nguyễn Đăng Tấn chỉ có thể thành hình sau một hành trình dài tích lũy và chịu đựng. Qua những hình ảnh mộc mạc mà giàu sức gợi ấy, bài thơ không chỉ nói về lao động như một phương tiện mưu sinh, mà nâng nó lên thành một giá trị nhân sinh chỉ khi con người chấp nhận nỗ lực bền bỉ, thành quả mới thực sự có ý nghĩa và bền lâu.
⭐ Luận điểm 2: Cuộc đời đòi hỏi nghị lực và sự chăm chỉ bền bỉ đó là quy luật nghiêm ngặt nhưng công bằng của vạn vật và con người
- Nguyên Hồng từng bộc bạch: “Những gì tôi viết ra là những gì thương yêu nhất của tôi, những ước mong nhức nhối của tôi.” Văn chương, suy cho cùng, là nơi người nghệ sĩ gửi gắm phần sâu kín và day dứt nhất của tâm hồn mình. Với Nguyễn Đăng Tấn cũng vậy.Từ chân lí khái quát về thành quả và lao động, bài thơ tiếp tục mở rộng suy ngẫm sang quy luật khắc nghiệt nhưng tất yếu của đời sống muốn có được kết quả, con người buộc phải đi qua vất vả và kiên trì.Nếu lao động là điều kiện cần để tạo nên thành quả, thì nghị lực và sự kiên trì chính là điều kiện đủ để con người đi trọn vẹn con đường của mình. Đời sống vốn không ưu ái riêng ai, cũng không khắc nghiệt một cách vô lí; nó nghiêm ngặt, nhưng công bằng, bởi ai dám bền bỉ đi đến cùng thì người ấy xứng đáng nhận lấy kết quả. Nhìn từ quy luật ấy, những vất vả, nhọc nhằn trong lao động không còn là sự thiệt thòi, mà trở thành phép thử cần thiết để con người khẳng định giá trị của chính mình. Nguyễn Đăng Tấn, bằng cảm quan đời sống sâu sắc, đã đưa quy luật ấy vào thơ không bằng những lời răn dạy khô cứng, mà bằng những hình ảnh quen thuộc, đời thường, gợi mở một nhận thức bền vững về nghị lực sống. “Văn chương trước hết là vì con người, cho con người.” Con người mà văn chương hướng tới không phải là con người hưởng thụ, mà là con người sống, lao động, vật lộn và vươn lên trong những điều kiện khắc nghiệt của đời sống. Văn chương, vì thế, không né tránh gian nan, mà soi chiếu vào đó để làm nổi bật sức chịu đựng và phẩm giá con người. Điều ấy được nhà thơ diễn đạt bằng những câu thơ mang đậm hơi thở đời thường:“Mùa bội thu phải một nắng hai sương,
Không có gì tự đến dẫu bình thường.”Thành ngữ “một nắng hai sương” gợi lên hình ảnh quen thuộc của người lao động lam lũ, ngày ngày đối diện với nắng gió, mưa sương để đổi lấy hạt lúa, củ khoai. Cách dùng hình ảnh ấy không chỉ nói về nông nghiệp, mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho mọi hành trình mưu sinh và trưởng thành của con người.Đặc biệt, câu thơ “dẫu bình thường” nhấn mạnh một sự thật giản dị mà nhiều khi bị lãng quên không chỉ những điều lớn lao, ngay cả những giá trị nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống cũng không tự nhiên mà có. Qua đó, người cha âm thầm nhắc con phải trân trọng công sức lao động và hiểu rằng sự dễ dãi, ỷ lại chỉ dẫn đến rỗng không.
Tư tưởng ấy được đẩy sâu hơn ở những câu thơ tiếp theo:“Phải bằng cả bàn tay và nghị lực!Như con chim suốt ngày chọn hạt,”“Bàn tay” ở đây tượng trưng cho sức lao động cụ thể, cho hành động thực tế; còn “nghị lực” là sức mạnh tinh thần, là ý chí giúp con người không bỏ cuộc giữa chừng. Thành công, vì thế, không chỉ đến từ làm việc, mà còn từ khả năng chịu đựng, bền bỉ và vượt qua chính mình. Như Bùi Việt Thắng từng khẳng định: “Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa là một chi tiết chân thực còn cần đạt tới ý nghĩa tượng trưng, hàm chứa một cách nhìn, một cách đánh giá và năng lực tưởng tượng của nhà văn về cuộc sống và con người”, bởi vậy, Hình ảnh “con chim suốt ngày chọn hạt” tuy nhỏ bé, mộc mạc nhưng giàu sức gợi: đó là biểu tượng của sự nhẫn nại, cần mẫn, từng chút một tích góp để tồn tại và vươn lên. Qua phép so sánh giản dị ấy, nhà thơ gửi gắm một bài học thấm thía rằng đường đời không dành cho sự vội vàng hay trông chờ may mắn, mà thuộc về những ai biết kiên trì lao động mỗi ngày, dù trong thầm lặng. Đoạn thơ cho thấy nét đặc sắc trong phong cách Nguyễn Đăng Tấn: dùng hình ảnh gần gũi, ngôn ngữ đời thường nhưng hàm chứa triết lí sâu xa. Nhờ đó, lời dạy về nghị lực và sự siêng năng không trở nên khô khan, giáo điều, mà thấm dần vào nhận thức người đọc như một kinh nghiệm sống chân thành, bền bỉ theo năm tháng.
⭐ Luận điểm 3: Tình yêu thương của cha mẹ, dù nghiêm khắc nhưng luôn là điểm tựa định hướng con tới điều đúng đắn trong cuộc đời
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, gia đình luôn là điểm tựa đầu tiên và bền bỉ nhất. Nhưng tình yêu thương của cha mẹ, nếu chỉ dừng lại ở sự bao bọc và nuông chiều, đôi khi lại trở thành một lực cản vô hình. Bởi yêu thương đích thực không phải là che chắn con trước mọi va đập, mà là giúp con đủ sức đối diện với đời sống nhiều biến động. Nhận thức ấy không mới, nhưng chỉ những người từng trải, từng làm cha làm mẹ mới có thể nói ra bằng giọng điệu điềm tĩnh, thấu hiểu và trách nhiệm. Trong bài thơ của Nguyễn Đăng Tấn, tình phụ mẫu hiện lên không ồn ào, không bi lụy, mà nghiêm khắc, tỉnh táo và hướng đến sự trưởng thành lâu dài của con người. Sau khi khẳng định những quy luật khắt khe của lao động và nghị lực, bài thơ chuyển sang một sắc thái cảm xúc khác tình yêu thương của cha mẹ dành cho con. Tuy nhiên, đó không phải là thứ tình cảm mềm yếu, nuông chiều, mà là một tình yêu gắn liền với trách nhiệm và kỉ luật:
“Dẫu bây giờ bố mẹ – đôi khi,
Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.
Có roi vọt khi con hư và dối
Thương yêu con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!”
Những từ ngữ như “nặng nhẹ”, “giận dỗi”, “roi vọt” gợi nhắc đến những cách dạy con truyền thống, mộc mạc mà nghiêm khắc của cha mẹ Việt Nam. Ẩn sau đó không phải là sự khắt khe vô cảm, mà là nỗi lo lắng và trách nhiệm của những người từng trải, mong con tránh được sai lầm, vấp ngã trên đường đời.
Đặc biệt, câu thơ mang tính khái quát “Thương yêu con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!” vang lên như một lời khẳng định dứt khoát, phân biệt rạch ròi giữa yêu thương đúng nghĩa và sự chiều chuộng mù quáng. Với người cha trong bài thơ, yêu con là giúp con tự lập, bản lĩnh và có khả năng chịu trách nhiệm với chính mình, chứ không phải che chắn con trước mọi va đập của cuộc sống. Chính sự nghiêm khắc ấy, ở tầng sâu, lại là biểu hiện của tình yêu thương bền vững và xa rộng hơn, bởi nó hướng con tới việc trở thành một con người mạnh mẽ, sống đúng và sống có giá trị. Bởi lẽ, như Andecxen từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích do chính cuộc sống viết ra.” Nghệ thuật chân chính không sinh ra từ những êm ả, nhàn nhã, mà từ chính những va đập dữ dội của đời sống, từ khát vọng sống đến tận cùng với con người và số phận. Đoạn thơ mang giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, rất gần với lời nói đời thường của cha mẹ dành cho con cái. Cách xưng hô thân mật cùng nhịp thơ chậm rãi khiến những lời răn dạy không trở nên nặng nề hay áp đặt, mà thấm dần vào cảm xúc người đọc như một lời nhắc nhở ân cần. Nhờ vậy, bài thơ không chỉ truyền tải một bài học đạo lí, mà còn gợi lên vẻ đẹp sâu lắng của tình phụ mẫu tràn đầy yêu âm thầm, nghiêm khắc nhưng luôn hướng con người đến điều thiện và sự trưởng thành đích thực.
⭐ Luận điểm 4: Khẳng định con đường trưởng thành dài rộng, nơi con người buộc phải có bản lĩnh để tự nâng đỡ chính mình
Trưởng thành, suy cho cùng, là một hành trình đơn độc, nơi không ai có thể đi thay, chịu thay hay đứng vững thay cho người khác. Cha mẹ có thể dõi theo, định hướng và nâng đỡ trong chừng mực nhất định, nhưng đến một thời điểm, con người buộc phải tự bước đi bằng chính bản lĩnh của mình. Đời sống rộng mở, nhưng không phẳng lặng; tương lai nhiều hứa hẹn, nhưng cũng đầy bất trắc. Nhận thức được điều đó, Nguyễn Đăng Tấn không vẽ ra cho con một con đường bằng phẳng, mà thẳng thắn chỉ ra sự thật: chỉ khi con người đủ sức tự nâng đỡ chính mình, hành trình trưởng thành mới thực sự bắt đầu. Ở những khổ thơ cuối, giọng điệu của người cha trở nên trầm lắng và suy tư hơn, khi tầm nhìn được mở rộng từ những bài học cụ thể sang con đường dài rộng của đời người:
“Đường con đi dài rộng biết bao nhiêu.
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,”Cụm từ “dài rộng” không chỉ gợi độ dài của thời gian, mà còn là ẩn dụ cho một tương lai nhiều ngã rẽ, nhiều thử thách và biến động. Trước con là cả một hành trình trưởng thành không dễ dàng, nơi mỗi bước đi đều đòi hỏi sự tỉnh táo và bản lĩnh. Hình ảnh “nụ xanh – cây vươn thẳng” mang vẻ đẹp trong trẻo và giàu tính biểu tượng: “nụ xanh” là tuổi trẻ non tơ, còn “cây vươn thẳng” là hình ảnh của sự trưởng thành vững vàng. Giữa dòng chảy “năm tháng”, nếu không được rèn luyện, giữ gìn và tự ý thức, nụ xanh ấy rất dễ bị gió mưa quật ngã. Qua đó, người cha nhấn mạnh vai trò của ý chí và sự tự rèn giũa trong việc hình thành nhân cách con người.
Suy ngẫm ấy được đẩy tới chiều sâu triết lí ở những câu thơ tiếp theo:“Trời xanh đấy nhưng chẳng bao giờ lặng,
Chỉ có con mới nâng nổi chính mình.”“Trời xanh” gợi vẻ đẹp rộng mở, đầy hứa hẹn của cuộc đời, nhưng đi kèm với đó là lời cảnh tỉnh: cuộc sống không bao giờ phẳng lặng, luôn tiềm ẩn sóng gió và bất trắc. Trong bối cảnh ấy, câu thơ “Chỉ có con mới nâng nổi chính mình” vang lên như một lời kết luận mang tính định mệnh không ai có thể sống thay, vấp ngã thay hay đứng dậy thay cho con. Cha mẹ có thể yêu thương, định hướng, nhưng cuối cùng, con người phải tự chịu trách nhiệm với lựa chọn và số phận của chính mình. Đoạn thơ sử dụng hình ảnh ẩn dụ giản dị mà giàu sức khái quát, kết hợp giọng điệu thủ thỉ với triết lí sâu xa, khiến lời dặn dò không trở thành áp lực mà hóa thành một sự trao gửi niềm tin. Qua đó, bài thơ khép lại bằng một thông điệp nhân sinh bền vững trưởng thành không phải là được che chở mãi mãi, mà là học cách tự đứng vững và tự nâng đỡ chính mình giữa cuộc đời nhiều biến động.
⭐ Luận điểm 5: Lời nhắc nhở cuối cùng hãy ghi nhớ chân lí “chẳng có gì tự đến” để sống có trách nhiệm và bản lĩnh
Một tác phẩm có chiều sâu tư tưởng thường không khép lại bằng sự dàn trải, mà bằng một điểm rơi tinh thần, nơi toàn bộ ý nghĩa được cô đọng lại trong một nhận thức mang tính bền vững. Với Không có gì tự đến đâu con, điểm rơi ấy chính là lời nhắc nhở giản dị mà ám ảnh: con người phải luôn tự ý thức về trách nhiệm sống của mình. Khi chân lí “chẳng có gì tự đến” được khắc sâu không chỉ như một kinh nghiệm lao động, mà như một nguyên tắc làm người, bài thơ vượt ra khỏi khuôn khổ của một lời dạy riêng tư, để trở thành một thông điệp nhân sinh có giá trị lâu dài đối với bất cứ ai đang bước đi trên hành trình trưởng thành. Khép lại bài thơ, người cha không đưa ra thêm một dẫn chứng hay hình ảnh mới, mà dồn toàn bộ tư tưởng vào một câu thơ ngắn gọn, giàu sức ám ảnh:“Chẳng có gì tự đến – Hãy đinh ninh.”Nếu ở đầu bài, mệnh đề “không có gì tự đến” được nêu lên như một chân lí đời sống, thì đến đây, nó trở thành lời căn dặn cuối cùng, được nhấn mạnh bằng cụm từ “đinh ninh” mang sắc thái nhắc nhớ, khắc sâu, yêu cầu phải ghi lòng tạc dạ. Giọng thơ không cao giọng, không áp đặt, mà lắng xuống, chắc chắn và bền bỉ, như cách người cha muốn con mang theo bài học ấy suốt cả cuộc đời.
Phạm Văn Đồng từng nói: “Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát li đời sống nghệ thuật nhất định sẽ khô héo.” bài thơ sống được là vì nó thấm đẫm hơi thở đời sống và nâng đời sống lên thành suy tư nghệ thuật. Ở tầng nghĩa sâu hơn, câu thơ không chỉ nhắc về lao động hay thành quả vật chất, mà còn hướng tới trách nhiệm sống và bản lĩnh làm người. “Chẳng có gì tự đến” nghĩa là không có giá trị nào được ban phát sẵn, không có hạnh phúc, thành công hay sự trưởng thành nào đến từ sự trông chờ, ỷ lại. Con người chỉ thực sự lớn lên khi ý thức được trách nhiệm với chính mình, biết nỗ lực, tự rèn luyện và tự đứng vững trước những biến động của cuộc đời. Bằng cách kết thúc bài thơ bằng một mệnh đề ngắn gọn mà hàm súc, Nguyễn Đăng Tấn đã biến lời dạy của người cha thành một chân lí sống có tính phổ quát, vượt ra ngoài khuôn khổ quan hệ phụ tử để trở thành lời nhắn gửi chung cho mỗi con người trên hành trình trưởng thành. Sự tiết chế tối đa ngôn từ ở câu kết càng làm tăng sức nặng tư tưởng, khiến bài thơ khép lại không ồn ào mà lắng sâu, để lại dư âm suy ngẫm bền lâu trong lòng người đọc. Đây chính là điểm kết tinh cho toàn bộ thông điệp của tác phẩm muốn sống có ý nghĩa, con người phải luôn “đinh ninh” rằng mọi giá trị đều bắt đầu từ nỗ lực của chính mình.
3. PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT
a. Thể thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, với câu thơ dài ngắn linh hoạt, nhịp điệu biến đổi theo dòng cảm xúc. Chính hình thức này đã tạo điều kiện để giọng thơ triển khai tự nhiên, gần với lời nói đời thường của người cha dành cho con. Không bị gò bó bởi niêm luật hay vần điệu cố định, từng câu thơ vang lên như một lời tâm tình, khi chậm rãi, thủ thỉ, khi dứt khoát, nhấn mạnh, rất phù hợp với giọng răn dạy mà không áp đặt. Nhịp thơ linh hoạt giúp các triết lí sống trong bài thơ không trở nên khô cứng, mà thấm dần vào người đọc qua sự lặp lại, nhấn mạnh và chiêm nghiệm.
b. Cấu tứ
Cấu tứ của bài thơ được xây dựng chặt chẽ, mạch lạc và có chiều sâu tư tưởng, vận động theo một trật tự logic rõ ràng. Mạch thơ mở đầu từ những quy luật tự nhiên quen thuộc (quả ngọt, hoa thơm, nắng lửa), từ đó dẫn dắt sang quy luật lao động và nghị lực của con người. Tiếp theo, tác giả mở rộng suy tư sang tình yêu thương gia đình, nhấn mạnh vai trò định hướng, kỉ luật của cha mẹ trong hành trình trưởng thành của con. Từ nền tảng ấy, bài thơ hướng tới con đường đời dài rộng, nơi mỗi cá nhân phải tự rèn luyện bản lĩnh và tự nâng đỡ chính mình. Cuối cùng, toàn bộ tư tưởng được cô đọng lại trong lời dặn kết ngắn gọn mà giàu sức nặng: “Chẳng có gì tự đến – Hãy đinh ninh.” Sự vận động ấy khiến bài thơ giống như một hành trình nhận thức: từ điều hiển nhiên của tự nhiên đến chân lí sống mang tính phổ quát, giúp thông điệp tư tưởng được khắc sâu một cách tự nhiên, bền vững.
c. Ngôn ngữ
Những từ ngữ tưởng như thô mộc của sinh hoạt thường ngày qua bàn tay nhào nặn của người nghệ sĩ chân chính lại trở nên giàu sức gợi, lấp lánh ý nghĩa, đúng như nhận định của Paustovsky về khả năng “đánh thức” ngôn từ trong thơ ca. Từ chất liệu bình dị ấy, nhà thơ nâng lên thành những suy tưởng về lao động, nghệ thuật, tình yêu và hạnh phúc là những giá trị cốt lõi của kiếp người. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đăng Tấn mang vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi, gần với lời nói đời thường của người cha dành cho con. Dù mang màu sắc giáo huấn, răn dạy, lời thơ không hề khô khan hay áp đặt, mà thấm đẫm sự ân cần, từng trải. Đặc biệt, việc sử dụng nhiều động từ giàu sắc thái hành động như “tích nhựa”, “trải qua”, “nâng nổi” đã làm nổi bật quá trình nỗ lực không ngừng của con người. Những động từ ấy không chỉ diễn tả hành động cụ thể, mà còn khắc họa ý chí, nghị lực và sức chịu đựng, khiến triết lí sống trong bài thơ trở nên sinh động, có chiều sâu trải nghiệm.
d. Hình ảnh thơ
Hệ thống hình ảnh trong bài thơ được xây dựng theo hai lớp đan cài hài hòa. Một mặt là hình ảnh thiên nhiên mang tính tượng trưng như quả, hoa, nắng, sương, nụ xanh, trời xanh – những hình ảnh quen thuộc nhưng giàu khả năng khái quát, gợi ra quy luật trưởng thành và tích lũy của sự sống. Mặt khác là hình ảnh đời sống gần gũi, chân thực như con chim chọn hạt, gánh thóc, roi vọt… Những hình ảnh ấy đưa bài thơ trở về với không gian sinh hoạt thường ngày, làm cho lời dạy trở nên cụ thể, dễ cảm, dễ nhớ. Chính sự kết hợp giữa biểu tượng và đời thường đã giúp bài thơ vừa có chiều sâu triết lí, vừa giữ được hơi thở của cuộc sống.
e. Đặc sắc riêng
Điểm đặc sắc nổi bật của bài thơ nằm ở giọng điệu tâm tình, chan chứa tình phụ tử. Toàn bộ tác phẩm giống như một cuộc trò chuyện lặng lẽ, nơi người cha không áp đặt chân lí, mà chia sẻ kinh nghiệm sống bằng sự yêu thương và tin cậy. Nguyễn Đăng Tấn đã khéo léo kết hợp triết lí sống giản dị với hình ảnh mộc mạc, khiến những bài học về nghị lực, trách nhiệm và tự lập không trở nên nặng nề, mà thấm sâu, bền lâu. Chính sự dung hòa ấy đã tạo nên sức lay động đặc biệt cho bài thơ: lời dạy không chỉ để nghe, mà để nghĩ, để nhớ và để mang theo suốt hành trình trưởng thành của mỗi con người.
III. TỔNG KẾT NỘI DUNG – NGHỆ THUẬT
Về nội dung, bài thơ Không có gì tự đến đâu con gửi gắm một bài học nhân sinh giản dị mà bền vững: mọi thành quả trong cuộc sống đều phải được tạo nên từ rèn luyện, lao động và tinh thần tự lập, không có điều gì tự nhiên mà đến. Qua lời nhắn nhủ của người cha, tác phẩm đồng thời khẳng định vai trò quyết định của nỗ lực cá nhân, cũng như ý nghĩa của tình yêu thương đúng nghĩa – yêu thương gắn với kỉ luật, định hướng và trách nhiệm. Bài thơ vì thế mang giá trị giáo dục sâu sắc, đặc biệt đối với người trẻ trên hành trình trưởng thành.
Về nghệ thuật, tác phẩm được viết theo thể thơ tự do, giọng điệu ấm áp, chân thành, giàu tính tâm tình. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi đời sống nhưng giàu sức gợi, hệ thống hình ảnh vừa mộc mạc vừa mang tính biểu tượng. Sự kết hợp hài hòa giữa triết lí sống và cảm xúc phụ tử đã giúp bài thơ không chỉ thuyết phục bằng lí trí mà còn chạm đến chiều sâu cảm xúc người đọc, để lại dư âm bền lâu.
IV. KẾT BÀI
Có thể khẳng định rằng, Không có gì tự đến đâu con không chỉ là một bài thơ viết cho riêng người con của Nguyễn Đăng Tấn, mà còn là một lời nhắn gửi mang giá trị bền vững đối với nhiều thế hệ người đọc, đặc biệt là người trẻ hôm nay. Bằng giọng thơ ấm áp, chân thành và giàu trải nghiệm, tác phẩm trở thành một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về trách nhiệm của mỗi con người đối với chính cuộc đời mình. Mở rộng ra, trong bất cứ hoàn cảnh hay độ tuổi nào, con người cũng cần khắc ghi chân lí “chẳng có gì tự đến” như một kim chỉ nam sống, để biết nỗ lực, tự lập, vững vàng trước thử thách và sống một cuộc đời chủ động, bản lĩnh, có ích cho bản thân và xã hội.
BÀI VIẾT THAM KHẢO:
Thơ ca từ lâu vẫn được xem là tiếng nói tinh tế của tâm hồn con người, nơi những trải nghiệm sống, những suy ngẫm và yêu thương được gửi gắm qua ngôn từ giàu cảm xúc. Không ít bài thơ ra đời không chỉ để bộc lộ cảm xúc cá nhân mà còn như những lời nhắn nhủ, những bài học sống lặng lẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong mạch cảm hứng ấy, Nguyễn Đăng Tấn với giọng thơ bình dị mà giàu chất triết lí đã để lại dấu ấn riêng bằng những thi phẩm hướng con người tới các giá trị sống bền vững. Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được sáng tác năm 1995 và viết tặng cho con trai, mang giọng điệu răn dạy mà trìu mến, sâu sắc. Qua lời thơ như lời nói của một người cha từng trải, tác phẩm đã truyền tải thông điệp giàu ý nghĩa về sự nỗ lực, tinh thần tự lập và bản lĩnh sống cần có của mỗi con người trên hành trình trưởng thành.Nguyễn Đăng Tấn là một cây bút thơ chọn cho mình lối đi lặng lẽ nhưng bền bỉ trong đời sống văn học. Thơ ông không thiên về sự cầu kì của hình thức hay những tìm tòi cách tân gây ấn tượng bề ngoài, mà nghiêng về chất suy ngẫm đời sống, về những triết lí giản dị được rút ra từ trải nghiệm làm người. Ở Nguyễn Đăng Tấn, thơ thường bắt đầu từ những hình ảnh rất quen thuộc của lao động, của sinh hoạt đời thường, nhưng qua đó, ông gửi gắm những chiêm nghiệm sâu xa về lẽ sống, về con đường trưởng thành của con người. Bài thơ Không có gì tự đến đâu con được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt riêng tư: tác giả viết tặng con trai khi cậu bé mới học lớp 3, sau này in trong tập Lời ru vầng trăng. Chính hoàn cảnh sáng tác ấy đã quy định sắc thái cảm xúc chủ đạo của thi phẩm. Đây không phải là một bài thơ triết lí được viết từ khoảng cách suy tưởng trừu tượng, mà là lời nhắn nhủ trực tiếp của người cha dành cho con, xuất phát từ trải nghiệm sống, từ sự từng trải và ý thức trách nhiệm trước “đường con đi dài rộng biết bao nhiêu”. Vì được sinh ra từ mối quan hệ ruột thịt thiêng liêng ấy, những triết lí trong bài thơ không mang dáng vẻ khô cứng hay giáo điều. Trái lại, chúng hiện lên ấm áp, chân thành và giàu sức thuyết phục, bởi mỗi lời khuyên đều gắn với yêu thương, mỗi lời dạy đều thấm đẫm sự lo lắng và hi vọng. Có thể nói, chính tình phụ tử đã làm mềm hóa những mệnh đề triết lí, khiến Không có gì tự đến đâu con vừa là một bài thơ mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, vừa là một tiếng nói nhân văn, giàu rung động cảm xúc.
Trong đời sống cũng như trong văn chương, có những chân lí không cần đến những lập luận cầu kì mà vẫn hiện ra với sức thuyết phục bền bỉ của trải nghiệm. Đó là những sự thật giản dị đến mức tưởng như hiển nhiên, nhưng con người chỉ thực sự thấu hiểu khi đã đi qua va đập, thử thách và trả giá. Một trong những chân lí ấy là: không có giá trị nào tự nhiên mà có, không có thành quả nào đến từ sự chờ đợi hay may mắn ngẫu nhiên. Chính từ điểm nhìn từng trải ấy, lời thơ của Nguyễn Đăng Tấn vang lên không như một triết lí trừu tượng, mà như một sự khẳng định chắc nịch của đời sống: Ngay từ những dòng thơ mở đầu, bài thơ đã vang lên như một lời khẳng định dứt khoát, chắc nịch của người cha từng trải:“Không có gì tự đến đâu con.”Câu thơ ngắn, cấu trúc phủ định trực tiếp, giọng điệu bình thản mà kiên quyết, như một chân lí sống không thể đảo ngược. Ở đây, nhà thơ không dùng những lời lẽ cao siêu hay triết luận trừu tượng, mà lựa chọn cách nói giản dị, gần với lời dặn dò đời thường để nhấn mạnh một sự thật căn bản của cuộc đời đó là mọi giá trị đều phải được tạo nên bằng nỗ lực của chính con người. Chân lí ấy được cụ thể hóa bằng những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc:
“Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.”
“Quả ngọt”, “hoa thơm” là những ẩn dụ giàu sức gợi cho thành quả, cho thành công và những phẩm chất đẹp đẽ mà con người khao khát đạt tới. Để có được vị ngọt và hương thơm ấy, không thể thiếu quá trình “tích nhựa”, “trải qua nắng lửa” những hình ảnh gợi sự âm thầm, bền bỉ, thậm chí khắc nghiệt của thời gian và thử thách. “Tích nhựa” là sự dồn nén, tích lũy lâu dài; “nắng lửa” là biểu tượng của gian nan, rèn luyện và cả những va đập khắc nghiệt của đời sống. Mọi thành quả trong đời sống, cũng như trong nghệ thuật, dường như chưa bao giờ là kết quả của sự ngẫu nhiên hay ban phát dễ dãi. Có những giá trị phải đi qua thời gian, va đập và bền bỉ tích lũy mới dần hình thành, như cách cây dồn nhựa cho trái ngọt, hoa âm thầm gom hương qua nắng lửa. Chân lí giản dị ấy từng được Thomas Edison khẳng định một cách thẳng thắn: “Thiên tài chỉ có một phần trăm là cảm hứng, còn chín mươi chín phần trăm là mồ hôi.” Và trong truyền thống tư tưởng phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nhấn mạnh: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền.” Những câu nói ấy, dù xuất phát từ những lĩnh vực và hoàn cảnh khác nhau, đều gặp nhau ở một điểm chung: giá trị chân chính không đến từ may mắn, mà được làm nên từ lao động, ý chí và sự kiên trì không ngơi nghỉ. Qua đó, nhà thơ khẳng định rằng thành công không phải là phép màu đến bất ngờ, mà là kết quả của một hành trình dài lao động, chịu đựng và kiên trì. Những hình ảnh thơ mộc mạc ấy còn cho thấy cách giáo dục rất nhân văn của người cha: không tô hồng con đường đời, không hứa hẹn sự dễ dàng, mà giúp con hiểu sớm rằng giá trị chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đánh đổi bằng công sức. Tinh thần ấy vang lên rất tự nhiên trong lời thơ Nguyễn Đăng Tấn, khi ông không hứa hẹn cho con một con đường dễ dàng, mà chỉ ra quy luật bền vững của đời sống: “Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa / Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.” Đặt trong mạch cảm hứng chung của thơ ca Việt Nam hiện đại, quan niệm ấy không hề đơn độc. Tố Hữu viết: “Nếu là con chim, chiếc lá / Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh.” Đó là một cách nói khác của cùng một chân lí sống là phải lao động đúng với bản chất của mình, phải dâng hiến và phát sáng bằng chính năng lực nội tại. Cũng như “con chim” phải hót, “chiếc lá” phải xanh, thì “quả ngọt”, “hoa thơm” trong thơ Nguyễn Đăng Tấn chỉ có thể thành hình sau một hành trình dài tích lũy và chịu đựng. Qua những hình ảnh mộc mạc mà giàu sức gợi ấy, bài thơ không chỉ nói về lao động như một phương tiện mưu sinh, mà nâng nó lên thành một giá trị nhân sinh chỉ khi con người chấp nhận nỗ lực bền bỉ, thành quả mới thực sự có ý nghĩa và bền lâu.
Nguyên Hồng từng bộc bạch: “Những gì tôi viết ra là những gì thương yêu nhất của tôi, những ước mong nhức nhối của tôi.” Văn chương, suy cho cùng, là nơi người nghệ sĩ gửi gắm phần sâu kín và day dứt nhất của tâm hồn mình. Với Nguyễn Đăng Tấn cũng vậy.Từ chân lí khái quát về thành quả và lao động, bài thơ tiếp tục mở rộng suy ngẫm sang quy luật khắc nghiệt nhưng tất yếu của đời sống muốn có được kết quả, con người buộc phải đi qua vất vả và kiên trì.Nếu lao động là điều kiện cần để tạo nên thành quả, thì nghị lực và sự kiên trì chính là điều kiện đủ để con người đi trọn vẹn con đường của mình. Đời sống vốn không ưu ái riêng ai, cũng không khắc nghiệt một cách vô lí; nó nghiêm ngặt, nhưng công bằng, bởi ai dám bền bỉ đi đến cùng thì người ấy xứng đáng nhận lấy kết quả. Nhìn từ quy luật ấy, những vất vả, nhọc nhằn trong lao động không còn là sự thiệt thòi, mà trở thành phép thử cần thiết để con người khẳng định giá trị của chính mình. Nguyễn Đăng Tấn, bằng cảm quan đời sống sâu sắc, đã đưa quy luật ấy vào thơ không bằng những lời răn dạy khô cứng, mà bằng những hình ảnh quen thuộc, đời thường, gợi mở một nhận thức bền vững về nghị lực sống. “Văn chương trước hết là vì con người, cho con người.” Con người mà văn chương hướng tới không phải là con người hưởng thụ, mà là con người sống, lao động, vật lộn và vươn lên trong những điều kiện khắc nghiệt của đời sống. Văn chương, vì thế, không né tránh gian nan, mà soi chiếu vào đó để làm nổi bật sức chịu đựng và phẩm giá con người. Điều ấy được nhà thơ diễn đạt bằng những câu thơ mang đậm hơi thở đời thường:“Mùa bội thu phải một nắng hai sương,Không có gì tự đến dẫu bình thường.”Thành ngữ “một nắng hai sương” gợi lên hình ảnh quen thuộc của người lao động lam lũ, ngày ngày đối diện với nắng gió, mưa sương để đổi lấy hạt lúa, củ khoai. Cách dùng hình ảnh ấy không chỉ nói về nông nghiệp, mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho mọi hành trình mưu sinh và trưởng thành của con người.Đặc biệt, câu thơ “dẫu bình thường” nhấn mạnh một sự thật giản dị mà nhiều khi bị lãng quên không chỉ những điều lớn lao, ngay cả những giá trị nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống cũng không tự nhiên mà có. Qua đó, người cha âm thầm nhắc con phải trân trọng công sức lao động và hiểu rằng sự dễ dãi, ỷ lại chỉ dẫn đến rỗng không.Tư tưởng ấy được đẩy sâu hơn ở những câu thơ tiếp theo:“Phải bằng cả bàn tay và nghị lực!
Như con chim suốt ngày chọn hạt,”“Bàn tay” ở đây tượng trưng cho sức lao động cụ thể, cho hành động thực tế; còn “nghị lực” là sức mạnh tinh thần, là ý chí giúp con người không bỏ cuộc giữa chừng. Thành công, vì thế, không chỉ đến từ làm việc, mà còn từ khả năng chịu đựng, bền bỉ và vượt qua chính mình. Như Bùi Việt Thắng từng khẳng định: “Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa là một chi tiết chân thực còn cần đạt tới ý nghĩa tượng trưng, hàm chứa một cách nhìn, một cách đánh giá và năng lực tưởng tượng của nhà văn về cuộc sống và con người”, bởi vậy, Hình ảnh “con chim suốt ngày chọn hạt” tuy nhỏ bé, mộc mạc nhưng giàu sức gợi: đó là biểu tượng của sự nhẫn nại, cần mẫn, từng chút một tích góp để tồn tại và vươn lên. Qua phép so sánh giản dị ấy, nhà thơ gửi gắm một bài học thấm thía rằng đường đời không dành cho sự vội vàng hay trông chờ may mắn, mà thuộc về những ai biết kiên trì lao động mỗi ngày, dù trong thầm lặng. Đoạn thơ cho thấy nét đặc sắc trong phong cách Nguyễn Đăng Tấn: dùng hình ảnh gần gũi, ngôn ngữ đời thường nhưng hàm chứa triết lí sâu xa. Nhờ đó, lời dạy về nghị lực và sự siêng năng không trở nên khô khan, giáo điều, mà thấm dần vào nhận thức người đọc như một kinh nghiệm sống chân thành, bền bỉ theo năm tháng.
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, gia đình luôn là điểm tựa đầu tiên và bền bỉ nhất. Nhưng tình yêu thương của cha mẹ, nếu chỉ dừng lại ở sự bao bọc và nuông chiều, đôi khi lại trở thành một lực cản vô hình. Bởi yêu thương đích thực không phải là che chắn con trước mọi va đập, mà là giúp con đủ sức đối diện với đời sống nhiều biến động. Nhận thức ấy không mới, nhưng chỉ những người từng trải, từng làm cha làm mẹ mới có thể nói ra bằng giọng điệu điềm tĩnh, thấu hiểu và trách nhiệm. Trong bài thơ của Nguyễn Đăng Tấn, tình phụ mẫu hiện lên không ồn ào, không bi lụy, mà nghiêm khắc, tỉnh táo và hướng đến sự trưởng thành lâu dài của con người. Sau khi khẳng định những quy luật khắt khe của lao động và nghị lực, bài thơ chuyển sang một sắc thái cảm xúc khác tình yêu thương của cha mẹ dành cho con. Tuy nhiên, đó không phải là thứ tình cảm mềm yếu, nuông chiều, mà là một tình yêu gắn liền với trách nhiệm và kỉ luật:“Dẫu bây giờ bố mẹ – đôi khi,Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.Có roi vọt khi con hư và dốiThương yêu con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!”Những từ ngữ như “nặng nhẹ”, “giận dỗi”, “roi vọt” gợi nhắc đến những cách dạy con truyền thống, mộc mạc mà nghiêm khắc của cha mẹ Việt Nam. Ẩn sau đó không phải là sự khắt khe vô cảm, mà là nỗi lo lắng và trách nhiệm của những người từng trải, mong con tránh được sai lầm, vấp ngã trên đường đời.
Đặc biệt, câu thơ mang tính khái quát “Thương yêu con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!” vang lên như một lời khẳng định dứt khoát, phân biệt rạch ròi giữa yêu thương đúng nghĩa và sự chiều chuộng mù quáng. Với người cha trong bài thơ, yêu con là giúp con tự lập, bản lĩnh và có khả năng chịu trách nhiệm với chính mình, chứ không phải che chắn con trước mọi va đập của cuộc sống. Chính sự nghiêm khắc ấy, ở tầng sâu, lại là biểu hiện của tình yêu thương bền vững và xa rộng hơn, bởi nó hướng con tới việc trở thành một con người mạnh mẽ, sống đúng và sống có giá trị. Bởi lẽ, như Andecxen từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích do chính cuộc sống viết ra.” Nghệ thuật chân chính không sinh ra từ những êm ả, nhàn nhã, mà từ chính những va đập dữ dội của đời sống, từ khát vọng sống đến tận cùng với con người và số phận. Đoạn thơ mang giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, rất gần với lời nói đời thường của cha mẹ dành cho con cái. Cách xưng hô thân mật cùng nhịp thơ chậm rãi khiến những lời răn dạy không trở nên nặng nề hay áp đặt, mà thấm dần vào cảm xúc người đọc như một lời nhắc nhở ân cần. Nhờ vậy, bài thơ không chỉ truyền tải một bài học đạo lí, mà còn gợi lên vẻ đẹp sâu lắng của tình phụ mẫu tràn đầy yêu âm thầm, nghiêm khắc nhưng luôn hướng con người đến điều thiện và sự trưởng thành đích thực.
Trưởng thành, suy cho cùng, là một hành trình đơn độc. Không ai có thể đi thay, chịu thay hay đứng vững thay cho người khác. Cha mẹ có thể dõi theo, định hướng và nâng đỡ trong chừng mực nhất định, nhưng đến một thời điểm, con người buộc phải tự bước đi bằng chính bản lĩnh của mình. Đời sống vốn rộng mở, nhưng không phẳng lặng; tương lai nhiều hứa hẹn, nhưng cũng đầy bất trắc. Nhận thức được quy luật ấy, Nguyễn Đăng Tấn không vẽ ra cho con một con đường bằng phẳng, mà thẳng thắn chỉ ra sự thật: chỉ khi con người đủ sức tự nâng đỡ chính mình, hành trình trưởng thành mới thực sự bắt đầu. Ở những khổ thơ cuối, giọng điệu của người cha trở nên trầm lắng và suy tư hơn, khi tầm nhìn được mở rộng từ những bài học cụ thể sang con đường dài rộng của đời người:
“Đường con đi dài rộng biết bao nhiêu.
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,”
Cụm từ “dài rộng” không chỉ gợi độ dài của thời gian, mà còn là ẩn dụ cho một tương lai nhiều ngã rẽ, nhiều thử thách và biến động. Trước mắt con là cả một hành trình không dễ dàng, nơi mỗi bước đi đều đòi hỏi sự tỉnh táo và bản lĩnh. Hình ảnh “nụ xanh – cây vươn thẳng” mang vẻ đẹp trong trẻo và giàu tính biểu tượng: “nụ xanh” là tuổi trẻ non tơ, còn “cây vươn thẳng” là hình ảnh của sự trưởng thành vững vàng. Giữa dòng chảy của “năm tháng”, nếu không được rèn luyện và tự ý thức, “nụ xanh” ấy rất dễ bị gió mưa quật ngã. Qua đó, người cha nhấn mạnh vai trò của ý chí và sự tự rèn giũa trong việc hình thành nhân cách con người. Trưởng thành, xét đến cùng, không phải là việc đi hết một quãng đường, mà là quá trình con người học cách đứng vững trước những biến động không thể tránh khỏi của đời sống. Con đường ấy luôn dài rộng, nhiều ngã rẽ và không ít bất trắc, nơi mỗi cá nhân buộc phải đối diện với chính mình nhiều hơn là dựa vào người khác. Bởi thế, triết học phương Tây từng đúc kết một nhận thức có tính thức tỉnh khi Friedrich Nietzsche cho rằng: “Điều gì không giết chết ta sẽ khiến ta mạnh hơn.” Gian nan, ở đây, không chỉ là thử thách, mà còn là điều kiện để con người tôi luyện bản lĩnh và chiều sâu nhân cách.
Suy ngẫm ấy được đẩy tới chiều sâu triết lí ở những câu thơ tiếp theo:
“Trời xanh đấy nhưng chẳng bao giờ lặng,
Chỉ có con mới nâng nổi chính mình.”
“Trời xanh” gợi vẻ đẹp rộng mở, đầy hứa hẹn của cuộc đời, nhưng đi kèm với đó là một lời cảnh tỉnh tỉnh táo: cuộc sống không bao giờ phẳng lặng, luôn tiềm ẩn sóng gió và bất trắc. Trong bối cảnh ấy, câu thơ “Chỉ có con mới nâng nổi chính mình” vang lên như một lời kết luận mang tính định mệnh: không ai có thể sống thay, vấp ngã thay hay đứng dậy thay cho con. Cha mẹ có thể yêu thương, định hướng, nhưng cuối cùng, con người phải tự chịu trách nhiệm với lựa chọn và số phận của chính mình. Hình ảnh ẩn dụ giản dị mà giàu sức khái quát, kết hợp giọng điệu thủ thỉ với triết lí sâu xa, khiến lời dặn dò không trở thành áp lực, mà hóa thành một sự trao gửi niềm tin. Ở một chiều kích khác, Ralph Waldo Emerson từng nhấn mạnh yếu tố tự ý thức khi viết: “Hãy tin vào chính mình: mọi trái tim đều rung lên theo sợi dây ấy.” Tin vào bản thân không phải là tự mãn, mà là ý thức rõ rằng không ai có thể sống thay, lựa chọn thay hay chịu trách nhiệm thay cho mình. Những tư tưởng ấy gặp gỡ sâu sắc với lời nhắn nhủ của người cha trong bài thơ Nguyễn Đăng Tấn: “Chỉ có con mới nâng nổi chính mình.” Câu thơ ngắn, giản dị nhưng hàm chứa một chân lí nghiêm khắc: cha mẹ có thể yêu thương và định hướng, song không thể đi hết con đường đời thay con.
Bài thơ Không có gì tự đến đâu con được viết theo thể thơ tự do, với câu thơ dài ngắn linh hoạt, nhịp điệu biến đổi theo dòng cảm xúc. Đây không chỉ là một lựa chọn hình thức, mà là một lựa chọn có ý thức nghệ thuật, phù hợp với giọng nói đời thường của người cha dành cho con. Không bị gò bó bởi niêm luật hay vần điệu cố định, lời thơ vì thế có thể triển khai một cách tự nhiên, khi chậm rãi thủ thỉ, khi dứt khoát, nhấn mạnh, tạo nên sắc thái răn dạy mà không áp đặt. Nhịp thơ linh hoạt cho phép những triết lí sống trong bài thơ không bị đóng khung thành mệnh đề khô cứng, mà thấm dần vào nhận thức người đọc qua sự lặp lại có chủ ý và những điểm nhấn giàu suy tư. Có những câu thơ mang dáng dấp của một lời nhắc nhở nhẹ nhàng, có những câu lại vang lên như một kết luận nghiêm ngặt của trải nghiệm sống. Chính sự đan xen ấy khiến bài thơ giữ được chất triết lí mà không đánh mất hơi ấm của cảm xúc. Có thể nói, thể thơ tự do đã giúp Nguyễn Đăng Tấn xóa mờ ranh giới giữa thơ và lời nói, giữa nghệ thuật và đời sống. Lời thơ không khoác lên mình vẻ trang trọng xa cách, mà gần gũi như tiếng nói nội tâm, khiến người đọc không chỉ “hiểu” bài thơ bằng lí trí, mà còn “nghe” và “cảm” được bằng trải nghiệm sống của chính mình.
Cấu tứ của bài thơ được xây dựng chặt chẽ, mạch lạc và giàu chiều sâu tư tưởng, vận động theo một trật tự logic rõ ràng, giống như một hành trình nhận thức của con người trên con đường trưởng thành. Mạch thơ mở đầu từ những quy luật tự nhiên quen thuộc và hiển nhiên: quả muốn ngọt, hoa muốn thơm phải trải qua tháng ngày tích nhựa, nắng lửa. Từ đó, nhà thơ từng bước dẫn dắt người đọc sang quy luật lao động và nghị lực của con người, nơi thành quả không đến từ may mắn, mà từ mồ hôi, bền bỉ và kiên trì. Tiếp theo, bài thơ mở rộng suy tư sang tình yêu thương gia đình, nhấn mạnh vai trò định hướng, kỉ luật và trách nhiệm của cha mẹ trong hành trình trưởng thành của con. Ở tầng cấu tứ này, bài thơ không dừng lại ở việc nêu quy luật khách quan, mà đi sâu vào mối quan hệ giữa giáo dục, yêu thương và trưởng thành, làm nổi bật quan niệm: thương yêu không đồng nghĩa với nuông chiều. Từ nền tảng ấy, mạch thơ tiếp tục mở rộng ra con đường đời dài rộng, nơi mỗi cá nhân phải tự rèn luyện bản lĩnh và tự nâng đỡ chính mình. Đây là bước chuyển quan trọng trong cấu tứ: từ lời dạy mang tính gia đình sang chân lí mang tính phổ quát của đời người. Con không còn chỉ là “con của cha mẹ”, mà trở thành một cá thể độc lập trước cuộc đời nhiều biến động. Cuối cùng, toàn bộ tư tưởng được cô đọng và kết tinh trong lời dặn kết ngắn gọn mà giàu sức nặng: “Chẳng có gì tự đến – Hãy đinh ninh.” Câu thơ như một dấu chấm lặng, khép lại bài thơ nhưng lại mở ra một suy ngẫm dài lâu. Ở đây, cấu tứ không chỉ dẫn dắt cảm xúc, mà còn khắc sâu thông điệp tư tưởng bằng sự lặp lại có ý thức, khiến chân lí sống được nhấn mạnh không phải bằng cao giọng, mà bằng độ lắng của chiêm nghiệm. Chính sự vận động mạch lạc ấy khiến bài thơ giống như một bài học sống được rút ra từ trải nghiệm, đi từ cái hiển nhiên của tự nhiên đến cái tất yếu của đời người. Nhờ cấu tứ chặt chẽ và giàu logic nội tại, thông điệp của bài thơ không gây cảm giác bị “dạy dỗ”, mà thấm dần, bền bỉ, để lại dư âm lâu dài trong suy nghĩ và cảm xúc của người đọc.
Ngôn ngữ trong bài thơ Không có gì tự đến đâu con trước hết gây ấn tượng bởi tính giản dị đến mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày. Nhưng chính từ chất liệu tưởng như thô mộc ấy, qua bàn tay nhào nặn của người nghệ sĩ chân chính, ngôn từ lại trở nên giàu sức gợi, lấp lánh chiều sâu ý nghĩa. Điều này gợi nhớ đến nhận định của Konstantin Paustovsky khi ông cho rằng thi ca có khả năng “đánh thức” những từ ngữ tưởng đã quen thuộc, trả lại cho chúng sự tươi mới ban đầu. Ở Nguyễn Đăng Tấn, những từ ngữ của sinh hoạt đời thường không bị “mĩ lệ hóa” cầu kì, mà được đặt đúng vào ngữ cảnh trải nghiệm sống, để từ đó tự nhiên bật lên ý nghĩa. Ngôn ngữ thơ mang dáng dấp của lời nói đời thường của người cha dành cho con, vì thế dù chứa đựng màu sắc giáo huấn, răn dạy, vẫn không hề khô khan hay áp đặt. Ngược lại, lời thơ thấm đẫm sự ân cần, từng trải, được nói ra từ một tâm thế hiểu đời, hiểu người. Đặc biệt, hệ thống động từ giàu sắc thái hành động như “tích nhựa”, “trải qua”, “nâng nổi” giữ vai trò then chốt trong việc triển khai tư tưởng. Đây không chỉ là những động tác vật lí, mà còn là biểu hiện của ý chí, nghị lực và sức chịu đựng tinh thần. “Tích nhựa” gợi sự âm thầm dồn nén qua thời gian; “trải qua” hàm ý chấp nhận thử thách; còn “nâng nổi” diễn tả một hành động khó nhọc, đòi hỏi sức lực và bản lĩnh. Nhờ những động từ ấy, triết lí sống trong bài thơ không tồn tại như một mệnh đề trừu tượng, mà trở thành kinh nghiệm sống có thể cảm nhận được bằng chính thân phận con người.
Hệ thống hình ảnh trong bài thơ được xây dựng theo hai lớp đan cài hài hòa, vừa giàu tính biểu tượng, vừa thấm đẫm hơi thở đời sống. Một mặt là những hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa tượng trưng như quả, hoa, nắng, sương, nụ xanh, trời xanh những hình ảnh quen thuộc nhưng có khả năng khái quát cao, gợi ra quy luật tích lũy và trưởng thành của sự sống. Quả muốn ngọt phải tích nhựa, hoa muốn thơm phải qua nắng lửa đó không chỉ là quy luật của tự nhiên, mà còn là quy luật của đời người. Mặt khác, bài thơ còn sử dụng những hình ảnh đời sống rất gần gũi và cụ thể như con chim chọn hạt, gánh thóc, roi vọt. Những hình ảnh ấy kéo bài thơ trở về với không gian sinh hoạt thường ngày của con người, đặc biệt là đời sống lao động và gia đình. Nhờ đó, những lời dạy không trôi vào sự trừu tượng, mà trở nên dễ cảm, dễ nhớ, dễ liên hệ với chính trải nghiệm của mỗi người. Chính sự kết hợp giữa biểu tượng và đời thường đã giúp bài thơ vừa đạt được chiều sâu triết lí, vừa giữ được hơi ấm của đời sống, khiến thông điệp không xa rời con người mà gắn chặt với số phận và lao động của họ.
Điểm đặc sắc nổi bật làm nên sức lay động riêng của bài thơ nằm ở giọng điệu tâm tình, chan chứa tình phụ tử. Toàn bộ tác phẩm giống như một cuộc trò chuyện lặng lẽ, nơi người cha không đứng ở vị thế áp đặt chân lí, mà chia sẻ kinh nghiệm sống bằng sự yêu thương, tin cậy và trách nhiệm. Những triết lí trong bài thơ không được trình bày như những kết luận khô cứng, mà được dẫn dắt bằng hình ảnh, bằng trải nghiệm, bằng sự từng trải của một người đã đi qua nhiều va đập của đời sống. Nguyễn Đăng Tấn đã khéo léo dung hòa giữa triết lí và cảm xúc, giữa lời răn dạy và sự ân cần, khiến những bài học về nghị lực, trách nhiệm và tự lập không trở nên nặng nề. Trái lại, chúng thấm sâu và bền lâu, bởi được nói ra trong một giọng điệu đầy nhân ái. Chính sự dung hòa ấy đã tạo nên sức ngân vang đặc biệt của bài thơ: lời dạy không chỉ để nghe, mà để nghĩ, để nhớ và để mang theo suốt hành trình trưởng thành của mỗi con người. Ở tầng sâu hơn, có thể nói, bài thơ không chỉ dạy con cách sống, mà còn gợi cho người đọc một cách nhìn về giáo dục: giáo dục không phải là áp đặt, mà là đồng hành, định hướng và trao niềm tin. Và chính điều đó đã làm nên giá trị nhân văn bền vững của Không có gì tự đến đâu con trong đời sống thơ ca đương đại.
Không có gì tự đến đâu con gửi gắm một bài học nhân sinh giản dị mà bền vững: trong đời sống con người, không có thành quả nào tự nhiên mà có, mọi giá trị đều phải được tạo nên từ rèn luyện, lao động và tinh thần tự lập. Qua lời nhắn nhủ của người cha, bài thơ khẳng định vai trò quyết định của nỗ lực cá nhân trong hành trình trưởng thành, đồng thời làm sáng tỏ ý nghĩa của tình yêu thương đúng nghĩa – một tình yêu không nuông chiều, không bao bọc mù quáng, mà gắn liền với kỉ luật, định hướng và trách nhiệm lâu dài. Chính vì thế, tác phẩm không chỉ dừng lại ở một lời dạy riêng tư trong quan hệ phụ tử, mà còn mang giá trị giáo dục sâu sắc, đặc biệt đối với người trẻ đang đứng trước những lựa chọn và thử thách của cuộc đời. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, với giọng điệu ấm áp, chân thành, giàu chất tâm tình, gần với lời nói đời thường nhưng không hề giản đơn về tư tưởng. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu sức gợi, hệ thống hình ảnh quen thuộc của thiên nhiên và đời sống vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, giúp triết lí sống được chuyển tải một cách nhẹ nhàng mà thấm thía. Sự kết hợp hài hòa giữa suy ngẫm nhân sinh và cảm xúc phụ tử đã tạo nên sức lay động bền lâu cho tác phẩm, khiến bài thơ không chỉ thuyết phục bằng lí trí mà còn chạm đến chiều sâu cảm xúc người đọc, để lại dư âm lắng đọng và suy tư.
Có thể khẳng định rằng, Không có gì tự đến đâu con không chỉ là một bài thơ viết cho riêng người con của Nguyễn Đăng Tấn, mà còn là một lời nhắn gửi mang giá trị bền vững đối với nhiều thế hệ người đọc, đặc biệt là người trẻ hôm nay. Bằng giọng thơ ấm áp, chân thành và giàu trải nghiệm, tác phẩm trở thành một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về trách nhiệm của mỗi con người đối với chính cuộc đời mình. Mở rộng ra, trong bất cứ hoàn cảnh hay độ tuổi nào, con người cũng cần khắc ghi chân lí “chẳng có gì tự đến” như một kim chỉ nam sống, để biết nỗ lực, tự lập, vững vàng trước thử thách và sống một cuộc đời chủ động, bản lĩnh, có ích cho bản thân và xã hội.