Phần I. Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn (mỗi câu chỉ chọn một phương án)
Câu 1 [1053062]: Trong giai đoạn 1975 - 1985, chính sách đối ngoại của Việt Nam có điểm nổi bật nào sau đây?
A, Bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nước Mỹ.
B, Hợp tác toàn diện với các nước tư bản chủ nghĩa.
C, Hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa.
D, Bình thường hóa quan hệ với Lào vàTrung Quốc.
Đáp án: C
Câu 2 [1053063]: Nội dung nào sau đây phản ánh đúng chính sách đối ngoại của Việt Nam trong những năm 1975 – 1985?
A, Tăng cường hợp tác toàn diện với Trung Quốc.
B, Cải thiện quan hệ với các nước trong ASEAN.
C, Đàm phán kết thúc chiến tranh với Pháp và Mỹ.
D, Nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Nga.
Đáp án: B
Câu 3 [1053064]: Một trong những hoạt động đối ngoại có ý nghĩa quốc tế của Việt Nam (1978 – 1989) là
A, tăng cường hợp tác toàn diện với Lào và Trung Quốc.
B, tăng cường quan hệ toàn diện với tất cả các nước tư bản.
C, giúp Lào hoàn thành mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
D, giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Khơ-me Đỏ.
Đáp án: D
Câu 4 [1053065]: Trong khoảng 10 năm đầu sau Đại thắng mùa Xuân 1975, Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ ngoại giao toàn diện với quốc gia nào sau đây?
A, Anh.
B, Liên Xô.
C, Mỹ.
D, Pháp.
Đáp án: B
Câu 5 [1053066]: Trong giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới, hoạt động đối ngoại của Việt Nam tập trung vào thực hiện mục tiêu nào sau đây?
A, Chủ động phá thế bị bao vây, cấm vận.
B, Tham gia tất cả tổ chức quốc tế.
C, Trở thành thành viên của Liên hợp quốc.
D, Tham gia phong trào Không liên kết.
Đáp án: A
Câu 6 [1053067]: Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức nào sau đây?
A, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).
B, Liên minh chính trị - quân sự Vác-sa-va.
C, Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
D, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Đáp án: D
Câu 7 [1053068]: Việt Nam đã thành công trong việc “phá vây” để bước vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và hội nhập kinh tế quốc tế vào thời gian nào sau đây?
A, Những năm 1990 – 1995.
B, 5 năm đầu Đổi mới đất nước.
C, Trở thành quan sát viên của ASEAN.
D, Gia nhập Cộng đồng ASEAN.
Đáp án: A
Câu 8 [1053069]: Việc Việt Nam thành công về “phá vây” trong hoạt động đối ngoại với Trung Quốc, Mỹ và ASEAN có ý nghĩa nào sau đây?
A, Rút ngắn khoảng cách thu nhập với tổ chức ASEAN.
B, Mở ra cơ hội cho việc gia nhập Cộng đồng ASEAN.
C, Mở ra thời kì hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
D, Tạo nền tảng xây dựng đường lối Đổi mới kinh tế.
Đáp án: C
Câu 9 [1053070]: Năm 1990, Việt Nam và Trung Quốc có hoạt động đối ngoại nổi bật nào sau đây?
A, Lần đầu tiên hai nước lập quan hệ.
B, Hai nước bình thường hóa quan hệ.
C, Hai nước cùng gia nhập ASEAN.
D, Trở thành đối tác chiến lược toàn diện.
Đáp án: B
Câu 10 [1053071]: Một trong những thành công của Việt Nam lộ trình phá thế bao vây, cấm vận của Mỹ và quốc tế là
A, thiết lập quan hệ với Trung Quốc và Ấn Độ.
B, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ.
C, gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).
D, được kết nạp vào Liên hợp quốc và ASEAN.
Đáp án: B
Câu 11 [1053072]: Hoạt động đối ngoại chủ yếu của Việt Nam trong những năm 1975 - 1985 đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của
A, Liên Xô.
B, Mỹ.
C, Nhật Bản.
D, Liên minh châu Âu.
Đáp án: A
Câu 12 [1053073]: Với việc bình thường hoá ngoại giao với Trung Quốc (1991) và Mỹ (1995), Việt Nam đã thành công trong việc
A, củng cố quan hệ chặt chẽ với các cường quốc.
B, mở đường cho việc gia nhập Liên hợp quốc.
C, mở rộng hoạt động đối ngoại thời kì Đổi mới.
D, phá thế đất nước bị bao vây, cấm vận kéo dài.
Đáp án: D
Câu 13 [1053074]: Quá trình đàm phán bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ đã diễn ra từ
A, cuối những năm 60 của thế kỉ XX.
B, đầu những năm 80 của thế kỉ XX.
C, đầu những năm 90 của thế kỉ XX.
D, cuối những năm 70 của thế kỉ XX.
Đáp án: A
Phần II. Câu trắc nghiệm đúng sai (trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu chỉ chọn đúng hoặc sai)
Câu 14 [1053075]: Cho tư liệu sau đây:
“Công cuộc đổi mới bắt đầu chưa được bao lâu thì cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã… Ngoại giao Việt Nam bước sang một giai đoạn mới trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi sâu sắc và phức tạp. Đặc biệt, các mối quen hệ đối tác - đối thủ, hợp tác - cạnh tranh diễn ra nhiều chiều, đan xen nhau, đòi hỏi ngoại giao phải nâng cao tính linh hoạt, chủ động và sáng tạo… Nắm bắt đặc điểm đó của tình hình quốc tế, ngoại giao đã chuyển hướng mạnh sang phục vụ kinh tế và để làm được điều đó, chúng ta đã ra sức tạo môi trường ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi, tranh thủ sự hợp tác của các nước…”.
“Công cuộc đổi mới bắt đầu chưa được bao lâu thì cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã… Ngoại giao Việt Nam bước sang một giai đoạn mới trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi sâu sắc và phức tạp. Đặc biệt, các mối quen hệ đối tác - đối thủ, hợp tác - cạnh tranh diễn ra nhiều chiều, đan xen nhau, đòi hỏi ngoại giao phải nâng cao tính linh hoạt, chủ động và sáng tạo… Nắm bắt đặc điểm đó của tình hình quốc tế, ngoại giao đã chuyển hướng mạnh sang phục vụ kinh tế và để làm được điều đó, chúng ta đã ra sức tạo môi trường ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi, tranh thủ sự hợp tác của các nước…”.
(Bộ Ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 56-57)
a, SAI
Ngoại giao Việt Nam chuyển trọng tâm, tăng cường phục vụ phát triển kinh tế nhưng không hề từ bỏ hay cắt đứt các nhiệm vụ ngoại giao chính trị, ngoại giao văn hóa hay an ninh - quốc phòng. Các mặt trận này luôn đồng hành và bổ trợ lẫn nhau.
b, ĐÚNG
Đoạn trích nêu rất rõ: "cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã... bối cảnh quốc tế có những biến đổi sâu sắc và phức tạp". Việc chỗ dựa chiến lược lớn nhất lúc bấy giờ (Liên Xô và Đông Âu) không còn đã tạo ra một bối cảnh cực kỳ thách thức, phức tạp và không có lợi cho Việt Nam trong giai đoạn đầu bị bao vây cô lập.
c, ĐÚNG
Trước biến động lớn lao khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam buộc phải tự lực cánh sinh, không thể dựa dẫm vào nguồn viện trợ cũ. Biến động này chính là nhân tố khách quan, một "cú hích" mạnh mẽ thúc đẩy Đảng và Nhà nước ta phải chủ động, tự chủ tư duy để điều chỉnh đường lối đối ngoại theo hướng: đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chuyển từ "đối đầu" sang "đối thoại", mở ra cục diện đổi mới toàn diện.
d, SAI
Nguyên tắc bất biến của ngoại giao Việt Nam thời kỳ Đổi mới luôn là độc lập, tự chủ, giữ vững chủ quyền quốc gia. Việt Nam tranh thủ, hợp tác với các nước để phát triển chứ tuyệt đối không bao giờ dựa dẫm, phụ thuộc vào nước ngoài để định hình hay quyết định chính sách của dân tộc mình.
Ngoại giao Việt Nam chuyển trọng tâm, tăng cường phục vụ phát triển kinh tế nhưng không hề từ bỏ hay cắt đứt các nhiệm vụ ngoại giao chính trị, ngoại giao văn hóa hay an ninh - quốc phòng. Các mặt trận này luôn đồng hành và bổ trợ lẫn nhau.
b, ĐÚNG
Đoạn trích nêu rất rõ: "cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã... bối cảnh quốc tế có những biến đổi sâu sắc và phức tạp". Việc chỗ dựa chiến lược lớn nhất lúc bấy giờ (Liên Xô và Đông Âu) không còn đã tạo ra một bối cảnh cực kỳ thách thức, phức tạp và không có lợi cho Việt Nam trong giai đoạn đầu bị bao vây cô lập.
c, ĐÚNG
Trước biến động lớn lao khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam buộc phải tự lực cánh sinh, không thể dựa dẫm vào nguồn viện trợ cũ. Biến động này chính là nhân tố khách quan, một "cú hích" mạnh mẽ thúc đẩy Đảng và Nhà nước ta phải chủ động, tự chủ tư duy để điều chỉnh đường lối đối ngoại theo hướng: đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chuyển từ "đối đầu" sang "đối thoại", mở ra cục diện đổi mới toàn diện.
d, SAI
Nguyên tắc bất biến của ngoại giao Việt Nam thời kỳ Đổi mới luôn là độc lập, tự chủ, giữ vững chủ quyền quốc gia. Việt Nam tranh thủ, hợp tác với các nước để phát triển chứ tuyệt đối không bao giờ dựa dẫm, phụ thuộc vào nước ngoài để định hình hay quyết định chính sách của dân tộc mình.
Câu 15 [1053076]: Cho tư liệu sau đây:
“Sức mạnh ngoại giao là một dạng “sức mạnh mềm” và ngoại giao đóng vai trò quan trọng tạo dựng thêm thế và lực của đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, ngoại giao đa phương ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt. Bên cạnh chủ thể chính của quan hệ quốc tế còn có các chủ thế khác là các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia, v.v… Thực tiễn quốc tế cho thấy, các nước vừa và nhỏ vẫn có thể tham gia hiệu quả và có vai trò quan trọng trong các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, WTO, v.v… Đó là kinh nghiệm bổ ích về hoạt động chính trị quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo”.
“Sức mạnh ngoại giao là một dạng “sức mạnh mềm” và ngoại giao đóng vai trò quan trọng tạo dựng thêm thế và lực của đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, ngoại giao đa phương ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt. Bên cạnh chủ thể chính của quan hệ quốc tế còn có các chủ thế khác là các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia, v.v… Thực tiễn quốc tế cho thấy, các nước vừa và nhỏ vẫn có thể tham gia hiệu quả và có vai trò quan trọng trong các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, WTO, v.v… Đó là kinh nghiệm bổ ích về hoạt động chính trị quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo”.
(Nguyễn Dy Niên, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.336)
a, SAI
Văn bản nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của ngoại giao đa phương và sự xuất hiện của rất nhiều chủ thể phi quốc gia mới như: "các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia, v.v...". Ngoài ra, về mặt lịch sử quốc tế, ngoại giao bao hàm toàn bộ các mối quan hệ ở quy mô toàn cầu chứ không hề bị giới hạn cục bộ "trong khu vực".
b, ĐÚNG
Tư liệu khẳng định: "Sức mạnh ngoại giao là một dạng 'sức mạnh mềm' và ngoại giao đóng vai trò quan trọng tạo dựng thêm thế và lực của đất nước". Điều này đồng nghĩa với việc đối ngoại nâng cao vị thế quốc gia. Ngoài ra, năng lực "đi trước mở đường" (chủ động khơi thông quan hệ, dự báo tình hình, phá thế bao vây cô lập hoặc tạo thế chính trị có lợi để phối hợp, giảm tải áp lực xương máu cho mặt trận quân sự) là một đặc trưng, vị trí quan trọng của mặt trận đối ngoại.
c, SAI
Theo đoạn trích: "Thực tiễn quốc tế cho thấy, các nước vừa và nhỏ vẫn có thể tham gia hiệu quả và có vai trò quan trọng trong các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, WTO, v.v...".
d, ĐÚNG
Đoạn tư liệu đúc kết: "Đó là kinh nghiệm bổ ích về hoạt động chính trị quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo". Bản chất của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam xuyên suốt từ 1945 đến nay luôn hướng đến sự linh hoạt, chủ động bám sát các biến động toàn cầu để bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời phát huy tối đa nội lực kết hợp sức mạnh thời đại nhằm chuyển hóa thách thức thành cơ hội, hiện thực hóa các mục tiêu tưởng chừng không thể thành có thể (như biến cựu thù thành đối tác chiến lược).
Văn bản nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của ngoại giao đa phương và sự xuất hiện của rất nhiều chủ thể phi quốc gia mới như: "các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia, v.v...". Ngoài ra, về mặt lịch sử quốc tế, ngoại giao bao hàm toàn bộ các mối quan hệ ở quy mô toàn cầu chứ không hề bị giới hạn cục bộ "trong khu vực".
b, ĐÚNG
Tư liệu khẳng định: "Sức mạnh ngoại giao là một dạng 'sức mạnh mềm' và ngoại giao đóng vai trò quan trọng tạo dựng thêm thế và lực của đất nước". Điều này đồng nghĩa với việc đối ngoại nâng cao vị thế quốc gia. Ngoài ra, năng lực "đi trước mở đường" (chủ động khơi thông quan hệ, dự báo tình hình, phá thế bao vây cô lập hoặc tạo thế chính trị có lợi để phối hợp, giảm tải áp lực xương máu cho mặt trận quân sự) là một đặc trưng, vị trí quan trọng của mặt trận đối ngoại.
c, SAI
Theo đoạn trích: "Thực tiễn quốc tế cho thấy, các nước vừa và nhỏ vẫn có thể tham gia hiệu quả và có vai trò quan trọng trong các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, WTO, v.v...".
d, ĐÚNG
Đoạn tư liệu đúc kết: "Đó là kinh nghiệm bổ ích về hoạt động chính trị quốc tế mà Việt Nam có thể tham khảo". Bản chất của nghệ thuật ngoại giao Việt Nam xuyên suốt từ 1945 đến nay luôn hướng đến sự linh hoạt, chủ động bám sát các biến động toàn cầu để bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời phát huy tối đa nội lực kết hợp sức mạnh thời đại nhằm chuyển hóa thách thức thành cơ hội, hiện thực hóa các mục tiêu tưởng chừng không thể thành có thể (như biến cựu thù thành đối tác chiến lược).