Phần I. Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn (mỗi câu chỉ chọn một phương án)
Câu 1 [1053093]: Một trong những thành tựu cơ bản của đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – nay là
A, trở thành thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc.
B, trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức ASEAN.
C, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO.
D, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nước Mỹ.
Đáp án: C
Câu 2 [1053094]: Sự kiện nào sau đây được đánh giá là “năm ngoại giao” của Việt Nam?
A, Tổ chức thành công Hội nghị châu Á - Thái Bình Dương.
B, Tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN.
C, Gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với nước Mỹ.
D, Gia nhập, thành viên chính thức thứ 149 của Liên hợp quốc.
Đáp án: C
Câu 3 [1053095]: Việt Nam gia nhập ASEAN (1995) có ý nghĩa lịch sử nào sau đây?
A, Chứng tỏ sự hợp tác giữa các thành viên ASEAN ngày càng có hiệu quả.
B, ASEAN đã trở thành một liên minh kinh tế - chính trị.
C, Mở ra triển vọng cho sự liên kết toàn khu vực Đông Nam Á.
D, Chứng tỏ sự đối đầu về ý thức hệ tư tưởng - chính trị - quân sự.
Đáp án: C
Câu 4 [1053096]: Việt Nam gia nhập ASEAN (1995) đã đem lại nhiều cơ hội lớn để Việt Nam thực hiện mục tiêu đổi mới đất nước là một nhận định đúng ngoại trừ việc
A, mở rộng trao đổi và giao lưu văn hóa với bên ngoài.
B, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế.
C, hội nhập, học hỏi và tiếp thu được nhiều thành tựu khoa học - kĩ thuật bên ngoài.
D, nền kinh tế bị cạnh tranh khốc liệt, bản sắc văn hóa dân tộc có nguy cơ bị xói mòn.
Đáp án: D
Câu 5 [1053097]: Từ việc đấu tranh kí kết các hiệp định: Sơ bộ (1946), Giơnevơ (1954) và Pari (1973), Việt Nam có được bài học kinh nghiệm nào trong hoạt động ngoại giao hiện nay?
A, Đàm phán hòa bình và không vi phạm chủ quyền quốc gia.
B, Trong mọi hoàn cảnh, tuyệt đối không sử dụng vũ trang.
C, Nhún nhường nước lớn để có hòa bình, phát triển kinh tế.
D, Tranh thủ sự ủng hộ của nước lớn và các tổ chức quốc tế.
Đáp án: A
Câu 6 [1053098]: Nội dung nào sau đây phản ánh đúng chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn 1975 – 1985?
A, Tăng cường quan hệ toàn diện với Trung Quốc.
B, Cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á.
C, Đàm phán kết thúc chiến tranh với đế quốc Mỹ.
D, Nâng quan hệ với Nga lên tầm đối tác chiến lược.
Đáp án: B
Câu 7 [1053099]: Một trong những hoạt động có ý nghĩa quốc tế của Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985 là
A, tăng cường quan hệ toàn diện với Trung Quốc.
B, tăng cường quan hệ toàn diện với tất cả các nước tư bản.
C, giúp nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chế độ Khơ-me đỏ.
D, giúp Lào hoàn thành mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đáp án: C
Câu 8 [1053100]: Trong khoảng 10 năm đầu sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Việt Nam đặc biệt coi trọng phát triển quan hệ đối ngoại với quốc gia xã hội chủ nghĩa nào sau đây?
A, Liên Xô, Cu-ba.
B, Triều Tiên, Trung Quốc.
C, Trung Quốc, Mông Cổ.
D, Hung-ga-ri, Triều Tiên.
Đáp án: A
Câu 9 [1053101]: Tính đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng không có quốc gia nào sau đây?
A, Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ.
B, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ.
C, Hàn Quốc, Mỹ và Nhật Bản, Xin-ga-po.
D, Nam Phi, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ai Cập.
Đáp án: D
Câu 10 [1053102]: Một trong những hoạt động đối ngoại của Việt Nam (1975 – 1985) là
A, sáng lập các tổ chức thương mại của khu vực và quốc tế.
B, đấu tranh chống việc bao vây và cấm vận từ bên ngoài.
C, tham gia tích cực các diễn đàn của tổ chức ASEAN.
D, đẩy mạnh việc bảo vệ môi trường và hỗ trợ nhân đạo.
Đáp án: B
Câu 11 [1053103]: Thực tiễn từ việc đàm phán và kí kết các hiệp định quốc tế: Hiệp định Sơ bộ (1946), Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954) và Hiệp định Pa-ri (1973) về Việt Nam để lại cho Đảng và Chính phủ bài học kinh nghiệm nào sau đây?
A, Nắm bắt tình hình, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
B, Chủ động và tích cực hơn khi tham gia các tổ chức quốc tế.
C, Mềm dẻo về nguyên tắc, thân thiện và nhún nhường nước lớn.
D, Kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, đặc biệt là Liên Xô.
Đáp án: A
Phần II. Câu trắc nghiệm đúng sai (trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu chỉ chọn đúng hoặc sai)
Câu 12 [1053104]: Cho bảng thông tin sau đây:
a, ĐÚNG
Nghị quyết số 13-NQ/TW (ngày 20/5/1988) của Bộ Chính trị khóa VI về “Nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Nó đánh dấu bước chuyển chiến lược từ đối đầu sang đối thoại, chuyển từ tư duy chọn bên sang đa phương hóa, đa dạng hóa với mục tiêu tối thượng là giữ vững hòa bình để phát triển kinh tế.
b, SAI
Đường lối Đổi mới toàn diện của Đảng đã được đặt nền móng và định hình từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986). Nghị quyết 13/NQ-TW (1988) là sự cụ thể hóa, phát triển và bổ sung riêng cho đường lối đối ngoại nằm trong tổng thể chiến lược Đổi mới đó, chứ bản thân nó không phải là văn kiện "đặt cơ sở cho việc xây dựng đường lối Đổi mới" toàn diện của Đảng.
c, ĐÚNG
Nguyên nhân cốt lõi mang lại chuỗi thành tựu đối ngoại rực rỡ từ cuối thập niên 1980 đến nay (như bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, gia nhập ASEAN, WTO và nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với các cường quốc) chính là nhờ Đảng đã dám nhìn thẳng vào sự thật để đổi mới tư duy đối ngoại, mở đường bằng Nghị quyết 13/NQ-TW và liên tục hoàn thiện qua các kỳ Đại hội.
d, SAI
Cội nguồn đưa đến sự thành công trong "năm ngoại giao" (1995) của Việt Nam là do sự nỗ lực và đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản.
Nghị quyết số 13-NQ/TW (ngày 20/5/1988) của Bộ Chính trị khóa VI về “Nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Nó đánh dấu bước chuyển chiến lược từ đối đầu sang đối thoại, chuyển từ tư duy chọn bên sang đa phương hóa, đa dạng hóa với mục tiêu tối thượng là giữ vững hòa bình để phát triển kinh tế.
b, SAI
Đường lối Đổi mới toàn diện của Đảng đã được đặt nền móng và định hình từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986). Nghị quyết 13/NQ-TW (1988) là sự cụ thể hóa, phát triển và bổ sung riêng cho đường lối đối ngoại nằm trong tổng thể chiến lược Đổi mới đó, chứ bản thân nó không phải là văn kiện "đặt cơ sở cho việc xây dựng đường lối Đổi mới" toàn diện của Đảng.
c, ĐÚNG
Nguyên nhân cốt lõi mang lại chuỗi thành tựu đối ngoại rực rỡ từ cuối thập niên 1980 đến nay (như bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, gia nhập ASEAN, WTO và nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với các cường quốc) chính là nhờ Đảng đã dám nhìn thẳng vào sự thật để đổi mới tư duy đối ngoại, mở đường bằng Nghị quyết 13/NQ-TW và liên tục hoàn thiện qua các kỳ Đại hội.
d, SAI
Cội nguồn đưa đến sự thành công trong "năm ngoại giao" (1995) của Việt Nam là do sự nỗ lực và đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản.
Câu 13 [1053105]: Cho tư liệu sau đây:
“Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
“Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) về các văn kiện trình bày Đại hội VII (1991), trích trong: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 51, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.52 - 53)
a, SAI
Đoạn tư liệu trích dẫn: “Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước...”. Đây là lời phát biểu mang tính tuyên bố về mặt chủ trương, đường lối và định hướng chiến lược đối ngoại của Đảng, chứ bản thân câu trích này không hề liệt kê hay phản ánh các "sự kiện" hoặc "thành tựu" thực tế cụ thể nào đã diễn ra.
b, ĐÚNG
Giai đoạn năm 1991 đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và trật tự hai cực I-an-ta dần sụp đổ, mở ra xu thế hòa hoãn, đối thoại và hợp tác đa phương trên toàn cầu. Việc Việt Nam chuyển dịch sang phương châm "muốn là bạn với tất cả các nước" hoàn toàn bắt kịp và phù hợp một cách hoàn hảo với xu thế phát triển chung của quan hệ quốc tế hậu Chiến tranh Lạnh.
c, ĐÚNG
Bước chuyển chiến lược đối ngoại về mặt tư duy ban đầu đã được định hình tại Nghị quyết số 13/NQ-TW (năm 1988) của Bộ Chính trị khóa VI. Đến Đại hội VII (năm 1991), quan điểm này tiếp tục được kế thừa, hoàn thiện và nâng tầm phát triển thành phương châm hành động chính thức rộng mở hơn. Điều này phản ánh rõ nét tính liên tục trong việc bổ sung, hoàn thiện chiến lược ngoại giao của Đảng.
d, ĐÚNG
Ngay trong đoạn tư liệu cũng chỉ rõ mục tiêu cao nhất của chính sách rộng mở này là để "phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" — đây chính là những lợi ích quốc gia - dân tộc căn cốt nhất. Việc đa dạng hóa quan hệ ngoại giao hoàn toàn phục vụ và xoay quanh trục cốt lõi là bảo vệ lợi ích tối thượng của dân tộc trên cơ sở độc lập, tự chủ.
Đoạn tư liệu trích dẫn: “Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước...”. Đây là lời phát biểu mang tính tuyên bố về mặt chủ trương, đường lối và định hướng chiến lược đối ngoại của Đảng, chứ bản thân câu trích này không hề liệt kê hay phản ánh các "sự kiện" hoặc "thành tựu" thực tế cụ thể nào đã diễn ra.
b, ĐÚNG
Giai đoạn năm 1991 đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và trật tự hai cực I-an-ta dần sụp đổ, mở ra xu thế hòa hoãn, đối thoại và hợp tác đa phương trên toàn cầu. Việc Việt Nam chuyển dịch sang phương châm "muốn là bạn với tất cả các nước" hoàn toàn bắt kịp và phù hợp một cách hoàn hảo với xu thế phát triển chung của quan hệ quốc tế hậu Chiến tranh Lạnh.
c, ĐÚNG
Bước chuyển chiến lược đối ngoại về mặt tư duy ban đầu đã được định hình tại Nghị quyết số 13/NQ-TW (năm 1988) của Bộ Chính trị khóa VI. Đến Đại hội VII (năm 1991), quan điểm này tiếp tục được kế thừa, hoàn thiện và nâng tầm phát triển thành phương châm hành động chính thức rộng mở hơn. Điều này phản ánh rõ nét tính liên tục trong việc bổ sung, hoàn thiện chiến lược ngoại giao của Đảng.
d, ĐÚNG
Ngay trong đoạn tư liệu cũng chỉ rõ mục tiêu cao nhất của chính sách rộng mở này là để "phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" — đây chính là những lợi ích quốc gia - dân tộc căn cốt nhất. Việc đa dạng hóa quan hệ ngoại giao hoàn toàn phục vụ và xoay quanh trục cốt lõi là bảo vệ lợi ích tối thượng của dân tộc trên cơ sở độc lập, tự chủ.