Phần I. Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn (mỗi câu chỉ chọn một phương án)
Câu 1 [883531]: Ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XVIII, tình hình chính trị Đàng Trong rơi vào khủng hoảng trầm trọng vì nguyên nhân cơ bản nào sau đây?
A, Các hoạt động sản xuất của nhân dân bị ngừng trệ.
B, Phong trào đấu tranh của nhân dân lan rộng.
C, Nội bộ chính quyền tranh đấu lẫn nhau.
D, Sự chống phá quyết liệt từ các thế lực ngoại bang.
Đáp án: C
Câu 2 [883532]: Tình hình xã hội ở Đàng Trong thế kỉ XVI thời các chúa Nguyễn cai quản mang đặc điểm nổi bật nào sau đây?
A, Mọi người nhân dân đều bất bình, đứng lên đấu tranh.
B, Xã hội ổn định, đời sống của nhân dân được nâng cao.
C, Xã hội rối ren do các thế lực phong kiến tranh đấu lẫn nhau.
D, Xã hội bất ổn do sự chống phá của các thế lực ngoại bang.
Đáp án: C
Câu 3 [883534]: Ở Việt Nam, phong trào Tây Sơn (cuối thế kỉ XVIII) từ một cuộc khởi nghĩa nổ ra ở địa phương phát triển thành phong trào dân tộc rộng lớn đã
A, kết thúc thời kì cai trị của triều đại phương Bắc.
B, đánh đuổi các thế lực ngoại xâm hùng mạnh.
C, củng cố chính quyền dân chủ lâu dài cho dân tộc.
D, lật đổ ách thống trị của phong kiến phương Bắc.
Đáp án: B
Câu 4 [883537]: Ở Việt Nam, phong trào Tây Sơn (cuối thế kỉ XVIII) từ một cuộc khởi nghĩa nổ ra ở địa phương phát triển thành phong trào dân tộc rộng lớn đã
A, đặt cơ sở cho sự nghiệp thống nhất đất nước về sau.
B, bước đầu xây dựng được nền độc lập dân tộc.
C, củng cố nền quân chủ lập hiến lâu dài cho dân tộc.
D, chứng tỏ Việt Nam có nền văn hiến lâu đời.
Đáp án: A
Câu 5 [883539]: Ở Việt Nam, phong trào Tây Sơn (cuối thế kỉ XVIII) từ một cuộc khởi nghĩa nổ ra ở địa phương phát triển thành phong trào dân tộc rộng lớn đã
A, khôi phục hoàn toàn nền độc lập, thống nhất đất nước.
B, lật đổ chính quyền phong kiến Nguyễn – Trịnh – Lê.
C, củng cố nền độc lập tự chủ lâu dài cho triều Tây Sơn.
D, lật đổ ách thống trị của các phong kiến phương Bắc.
Đáp án: B
Câu 6 [883540]: Những thắng lợi quân sự vẻ vang của phong trào Tây Sơn (cuối thế kỉ XVIII) đã góp phần
A, chấm dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam.
B, bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc.
C, mở ra thời kì tự chủ lâu dài cho Đại Việt.
D, đưa đất nước thoát khỏi xâm lược của Pháp.
Đáp án: B
Câu 7 [883541]: Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm (từ thế kỉ X đến thế kỉ XV) của nhân dân Việt Nam không có đặc điểm chung nào sau đây?
A, Chống lại thế lực ngoại bang đến từ phương kiến phương Bắc.
B, Kết thúc sau các trận đánh quyết định, đập tan ý đồ của kẻ thù.
C, Các cuộc kháng chiến có mục tiêu bảo vệ nền độc lập dân tộc.
D, Chủ động kết thúc cuộc kháng chiến đều thông qua nghị hòa.
Đáp án: D
Câu 8 [883544]: Trận Tốt Động - Chúc Động và Chi Lăng - Xương Giang trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) có điểm giống nhau nào sau đây về cách tổ chức đánh giặc?
A, Kết hợp thuỷ chiến với bộ binh tấn công từ hai hướng.
B, Vừa đánh, vừa tiến hành hoạt động đàm phán ngoại giao.
C, Đóng cọc gỗ trên dòng sông để phục kích quân Minh.
D, Dừa vào địa hình, phục kích tiêu hao sinh lực đối phương.
Đáp án: D
Câu 9 [883546]: Bài học kinh nghiệm nào sau đây không phải từ phong trào Tây Sơn (cuối thế kỉ XVIII)?
A, Đoàn kết nội bộ trong bộ chỉ huy.
B, Phát huy sức mạnh của nhân dân.
C, Kiên quyết tiêu diệt tận gốc kẻ thù.
D, Có kế sách, chiến lược đúng đắn.
Đáp án: C
Câu 10 [883547]: Nhân tố quyết định thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945) là
A, giai cấp lãnh đạo tập hợp sức mạnh toàn dân.
B, đưa ra chủ trương kéo dài cuộc kháng chiến.
C, có sự kết hợp đấu tranh quân sự với ngoại giao.
D, có sự chủ động đa phương hoá quan hệ quốc tế.
Đáp án: A
Câu 11 [883548]: Ngày nay, trong việc giải quyết những bất đồng, căng thẳng với các bên liên quan đến vấn đề Biển Đông, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương nhất quán là
A, dựa vào luật pháp của ASEAN.
B, sử dụng biện pháp bằng hòa bình.
C, dựa vào sự giúp đỡ vũ khí của Nga.
D, nhân nhượng để đổi lấy hòa bình.
Đáp án: B
Câu 12 [883549]: Sự kiện nào sau đây đánh dấu quá trình thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam về mặt quân sự?
A, Năm 1862, nhà Nguyễn kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất.
B, Năm 1874, nhà Nguyễn kí với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất.
C, Năm 1883, nhà Nguyễn kí với Pháp Hiệp ước Hác-măng.
D, Năm 1884, nhà Nguyễn kí với Pháp Hiệp ước Pa-tơ-nốt.
Đáp án: D
Phần II. Câu trắc nghiệm đúng sai (trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu chỉ chọn đúng hoặc sai)
Câu 13 [883563]: Cho đoạn tư liệu sau đây:
“Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy. Vả lại, khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”.
“Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy. Vả lại, khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”.
(Lời của Trần Quốc Tuấn, trích trong: Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Hậu Lê,
Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.79)
Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.79)
a, SAI
Đoạn trích chỉ ra nghệ thuật quân sự của nhà Trần rất linh hoạt: "Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp", tùy thế giặc mà đánh (giặc kéo đến như lửa như gió thì dễ chế ngự, giặc tiến chậm như tằm ăn thì phải chọn tướng giỏi xem xét quyền biến). Hơn nữa, cốt lõi giữ nước không chỉ ở phòng tuyến quân sự mà còn ở lòng dân.
b, ĐÚNG
Đoạn tư liệu thể hiện rõ chiến thuật "mềm dẻo", biết người biết ta, linh hoạt ứng biến theo từng cách đánh của đối phương ("quyền biến như đánh cờ"). Đồng thời, tư tưởng "khoan thư sức dân" chính là cội nguồn của nghệ thuật chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện.
c, SAI
Trong đoạn tư liệu, Trần Quốc Tuấn chỉ nói chung là "chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến" khi đối phó với thế trận tiến chậm của giặc, hoàn toàn không đề cập hay giới hạn việc phải lựa chọn người có tài trong dòng họ.
d, ĐÚNG
Câu kết của đoạn tư liệu chính là minh chứng đắt giá nhất cho nhận định này: "Vả lại, khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước". Việc chăm lo, bồi dưỡng sức dân để làm gốc rễ chính là chủ trương cốt lõi để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Đoạn trích chỉ ra nghệ thuật quân sự của nhà Trần rất linh hoạt: "Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp", tùy thế giặc mà đánh (giặc kéo đến như lửa như gió thì dễ chế ngự, giặc tiến chậm như tằm ăn thì phải chọn tướng giỏi xem xét quyền biến). Hơn nữa, cốt lõi giữ nước không chỉ ở phòng tuyến quân sự mà còn ở lòng dân.
b, ĐÚNG
Đoạn tư liệu thể hiện rõ chiến thuật "mềm dẻo", biết người biết ta, linh hoạt ứng biến theo từng cách đánh của đối phương ("quyền biến như đánh cờ"). Đồng thời, tư tưởng "khoan thư sức dân" chính là cội nguồn của nghệ thuật chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện.
c, SAI
Trong đoạn tư liệu, Trần Quốc Tuấn chỉ nói chung là "chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến" khi đối phó với thế trận tiến chậm của giặc, hoàn toàn không đề cập hay giới hạn việc phải lựa chọn người có tài trong dòng họ.
d, ĐÚNG
Câu kết của đoạn tư liệu chính là minh chứng đắt giá nhất cho nhận định này: "Vả lại, khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước". Việc chăm lo, bồi dưỡng sức dân để làm gốc rễ chính là chủ trương cốt lõi để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Câu 14 [883564]: Cho đoạn tư liệu sau đây:
“Vào sáng ngày mồng 5 Tết, tiếng súng nổ liên hồi ở mạn tây nam làm Tôn Sĩ Nghị tỉnh giấc. Đồn Ngọc Hồi đã bị tấn công. Đang lo lắng hướng về phía đó đợi tin, Tôn Sĩ Nghị bỗng thấy lửa rực cháy ở phía Đống Đa và tiếng quân ta hò reo ngày càng gần. Y hốt hoảng, không còn biết xử trí sao nữa, đành nhảy lên “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp” cùng một số tuỳ tùng chạy qua cầu phao, vượt sông Hồng lên mạn bắc. Quân sĩ thấy tướng đã chạy, bèn hùa nhau chạy theo chen chúc vượt qua cầu”.
“Vào sáng ngày mồng 5 Tết, tiếng súng nổ liên hồi ở mạn tây nam làm Tôn Sĩ Nghị tỉnh giấc. Đồn Ngọc Hồi đã bị tấn công. Đang lo lắng hướng về phía đó đợi tin, Tôn Sĩ Nghị bỗng thấy lửa rực cháy ở phía Đống Đa và tiếng quân ta hò reo ngày càng gần. Y hốt hoảng, không còn biết xử trí sao nữa, đành nhảy lên “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp” cùng một số tuỳ tùng chạy qua cầu phao, vượt sông Hồng lên mạn bắc. Quân sĩ thấy tướng đã chạy, bèn hùa nhau chạy theo chen chúc vượt qua cầu”.
(Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr.42 – 43)
a, ĐÚNG
Đoạn trích mô tả trực tiếp diễn biến sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) khi đồn Ngọc Hồi bị tấn công, lửa cháy ở phía Đống Đa, khiến tướng giặc là Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt bỏ chạy, quân sĩ giẫm đạp lên nhau chạy trốn. Đây chính là bức tranh toàn cảnh về sự thất bại thảm hại của quân Thanh trước sự tiến công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn.
b, ĐÚNG
Đoạn tư liệu thể hiện rõ nghệ thuật tác chiến phối hợp nhiều hướng (tiếng súng ở mạn tây nam, đồn Ngọc Hồi bị đánh chính diện, kết hợp đòn vu hồi bất ngờ đốt cháy đồn Khương Thượng ở phía Đống Đa). Sự bao vây này khiến Tôn Sĩ Nghị "hốt hoảng, không còn biết xử trí sao nữa", phải "ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp" chạy qua cầu phao sang mạn bắc.
c, SAI
Tư liệu chỉ rõ quân Thanh rút chạy hoàn toàn trong thế bị động, hoảng loạn, chen chúc vượt cầu phao chứ không có sự đàm phán hay thương lượng tạo điều kiện nào từ trước đó để rút quân ổn định. (Sau chiến tranh, vua Quang Trung mới chủ động thực hiện chính sách ngoại giao khéo léo để giữ hòa hiếu).
d, SAI
Sau triều Tây Sơn, nước ta vẫn tiếp tục phải đối mặt với các cuộc xâm lược và bành trướng từ phương Bắc ở các giai đoạn lịch sử muộn hơn (như giai đoạn kháng chiến chống quân xâm lược nhà Thanh sau này không phải là dấu chấm hết, hay lịch sử thế kỷ XX vẫn có các cuộc xung đột biên giới).
Đoạn trích mô tả trực tiếp diễn biến sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) khi đồn Ngọc Hồi bị tấn công, lửa cháy ở phía Đống Đa, khiến tướng giặc là Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt bỏ chạy, quân sĩ giẫm đạp lên nhau chạy trốn. Đây chính là bức tranh toàn cảnh về sự thất bại thảm hại của quân Thanh trước sự tiến công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn.
b, ĐÚNG
Đoạn tư liệu thể hiện rõ nghệ thuật tác chiến phối hợp nhiều hướng (tiếng súng ở mạn tây nam, đồn Ngọc Hồi bị đánh chính diện, kết hợp đòn vu hồi bất ngờ đốt cháy đồn Khương Thượng ở phía Đống Đa). Sự bao vây này khiến Tôn Sĩ Nghị "hốt hoảng, không còn biết xử trí sao nữa", phải "ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp" chạy qua cầu phao sang mạn bắc.
c, SAI
Tư liệu chỉ rõ quân Thanh rút chạy hoàn toàn trong thế bị động, hoảng loạn, chen chúc vượt cầu phao chứ không có sự đàm phán hay thương lượng tạo điều kiện nào từ trước đó để rút quân ổn định. (Sau chiến tranh, vua Quang Trung mới chủ động thực hiện chính sách ngoại giao khéo léo để giữ hòa hiếu).
d, SAI
Sau triều Tây Sơn, nước ta vẫn tiếp tục phải đối mặt với các cuộc xâm lược và bành trướng từ phương Bắc ở các giai đoạn lịch sử muộn hơn (như giai đoạn kháng chiến chống quân xâm lược nhà Thanh sau này không phải là dấu chấm hết, hay lịch sử thế kỷ XX vẫn có các cuộc xung đột biên giới).