Câu hỏi hướng dẫn đọc
Câu 1 [561525]: Lúc đầu, bài thơ có nhan đề là Nhớ Tây Tiến, sau đó, tác giả đổi thành Tây Tiến. Theo anh/chị, sự thay đổi đó có tác dụng gì?
Lúc đầu, bài thơ có tên là Nhớ Tây Tiến, in trong tập Thơ, NXB Vệ quốc quân Liên khu III, năm 1949. Năm 1957, khi đưa bài này vào tập Rừng biển quê hương, NXB Hội Nhà văn, Quang Dũng bỏ chữ nhớ. Đây là một quyết định đúng đắn vì chữ nhớ trong nhan đề cũ vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa vì sự xuất hiện của chữ nhớ làm lộ cảm xúc chủ đạo của bài thơ, vi phạm tính hàm súc, cô đọng của ngôn ngữ thơ. Thiếu vì riêng một chữ nhớ cũng không đủ để khái quát lên hết thảy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ khi viết về đồng đội của mình cùng những kỉ niệm với chiến trường miền tây.
Câu 2 [561526]: Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn, chỉ ra mạch liên kết giữa các đoạn.
- Bài thơ chia làm bốn đoạn:
+ Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội.
+ Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền tây thơ mộng.
+ Đoạn 3: Chân dung của người lính Tây Tiến.
+ Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền tây.
- Mạch liên kết giữa các đoạn của bài thơ là mạch cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ. Bài thơ được viết trong một nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền tây hùng vĩ, hoang sơ, đầy thơ mộng. Bài thơ là những kí ức của Quang Dũng về Tây Tiến; những kí ức, những kỉ niệm được tái hiện lại một cách tự nhiên, kí ức này gọi kí ức khác, kỉ niệm này khơi dậy kỉ niệm khác như những đợt sóng nối tiếp nhau.
Ngòi bút tinh tế và tài hoa của Quang Dũng đã làm cho những kí ức ấy trở nên sống động và người đọc có cảm tưởng đang sống cùng với nhà thơ trong những hồi tưởng ấy.
Câu 3 [561527]: Cảnh vật thiên nhiên trong bài Tây Tiến có sự khác nhau như thế nào qua các đoạn thơ? Trên nền khung cảnh thiên nhiên ấy, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến được gợi tả như thế nào?
Cảnh vật thiên nhiên và hình ảnh đoàn quân Tây Tiến qua đoạn thơ thứ nhất và thứ hai
- Ở đoạn thơ thứ nhất, bức tranh thiên nhiên miền tây lần lượt hiện ra qua những khung cảnh của địa bàn hoạt động, những chặng đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến cũng thấp thoáng hiện lên trên nền cảnh thiên nhiên ấy.
Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:
              Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
              Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
              Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
              Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ chơi vơi như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,... liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:
              Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
              Heo hút cồn mây súng ngửi trời
              Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
              Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Khổ thơ này là một bằng chứng trong thơ có họa (“thi trung hữu hoạ”). Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền tây - địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ ngữ giàu giá trị tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đèo miền tây. Hai chữ ngửi trời được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nối thành cồn heo hút. Người lính trèo lên những ngọn núi cao dường như đang đi trong mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Đọc câu thứ tư, có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.
Bốn câu thơ này phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại (câu thứ tư toàn thanh bằng). Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại cả khổ thơ.
Sự trùng điệp của núi đèo miền tây trong bài thơ Tây Tiến làm gợi nhớ đến mấy câu thơ trong Chinh phụ ngâm: Hình khe thế núi gần xa, - Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao. Còn sự hoang vu và hiểm trở của nó lại gợi nhớ tới câu thơ trong bài Thục đạo nan (“Đường Thục khó”) của Lí Bạch: Thục đạo chi nan, nan vu thướng thanh thiên (“Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh”).
Vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng miền tây được nhà thơ tiếp tục khai thác. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở chiều thời gian, luôn luôn là mối đe doạ khủng khiếp đối với con người:
                Chiều chiều oai linh thác gầm thét
                Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Cảnh núi rừng miền tây hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,...
Những tên đất lạ (Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch), những hình ảnh giàu giá trị tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng miền tây Tổ quốc.
Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:
                Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
                Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lên. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai.
- Ở đoạn thơ thứ hai, qua ngòi bút tài hoa của Quang Dũng, thiên nhiên và con người miền tây hiện ra với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình.
Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của miền tây. Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mĩ lệ, thơ mộng, duyên dáng của miền tây. Những nét vẽ bạo, khỏe, gân guốc ở đoạn thơ đầu đến đoạn này được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế. Sự tinh tế, tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này.
Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa. Cảnh ấy, người ấy được hiện lên trong một khoảng thời gian làm nổi lên rõ nhất vẻ lung linh, huyền ảo của nó: cảnh một đêm liên hoan lửa đuốc bập bùng và cảnh một buổi chiều sương phủ trên sông nước mênh mang. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất thơ mộng:
              Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
              Kìa em xiêm áo tự bao giờ
              Khèn lên man điệu nàng e ấp
              Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Cả doanh trại bừng sáng, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ kìa em thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vừa mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng miền tây bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy (xiêm áo tự bao giờ), vừa e thẹn, vừa tình tứ (nàng e ấp) trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ (man điệu) đã thu hút cả hồn vía những chàng trai Tây Tiến.
Nếu cảnh một đêm liên hoan đem đến cho người đọc không khí mê say, ngây ngất, thì cảnh sông nước miền tây lại gợi lên được cảm giác mênh mang, mờ ảo:
                   Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
                   Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
                   Có nhớ dáng người trên độc mộc
                   Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương. Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử. Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc. Và như hòa hợp với con người, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên trên dòng nước lũ.
Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi. Cảnh vật thiên nhiên xứ sở qua ngòi bút của ông như có hồn phảng phất trong gió, trong cây (Có thấy hồn lau nẻo bến bờ). Ông không chỉ làm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng của cảnh vật.
Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cái đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc). Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên tự tâm hồn ngây ngất, say mê của những người lính Tây Tiến. Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt. Với ý nghĩa đó, Xuân Diệu có lí khi cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm âm nhạc trong miệng.
Câu 4 [561528]: Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình tượng người lính trong đoạn thơ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ... Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình tượng người lính trong đoạn thơ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ... Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Trên cái nền hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng (ở đoạn một) và duyên dáng, thơ mộng, mĩ lệ của miền tây (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện với một vẻ đẹp đậm chất bi tráng:
              Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
              Quân xanh màu lá dữ oai hùm
              Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
              Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể khái quát được gương mặt chung của cả đoàn quân. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu hoà quyện, xâm nhập vào nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng - thần thái chung của bức tượng đài.
Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài Đồng chí đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,/ Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi. Còn Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài Cá nước với những hình ảnh thật cụ thể: Giọt giọt mồ hôi rơi,/ Trên má anh vàng nghệ cũng không quên ảnh hưởng của thứ bệnh quái ác đó. Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu những gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao của người lính. Chỉ có điều, tất cả những cái đó, qua ngòi bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn. Những cái đầu không mọc tóc của những người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh li kì, sản phẩm của trí tưởng tượng xa rời thực tế của nhà thơ, mà chứa đựng một sự thực nghiệt ngã. Những người lính Tây Tiến, người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng tóc, trọc đầu. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên vẻ oai phong, dữ dằn của những con hổ nơi rừng thiêng. Sự oai phong lẫm liệt ấy còn được thể hiện qua ánh mắt giận dữ (mắt trừng) của họ. Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút của Quang Dũng, không phải là những người khổng lồ không tim. Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong khổ thơ này, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc hoạ dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.
Ngòi bút của Quang Dũng, khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi luỵ. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà cái bi thương được gợi lên qua hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi, một mặt, đã được giảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: Rải rác biên cương mồ viễn xứ; mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quên mình, xả thân vì Tổ quốc của những người lính Tây Tiến (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh). Hình tượng người lính Tây Tiến có vẻ tiều tuỵ, tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những tráng sĩ thuở xưa, coi cái chết nhẹ như lông hồng. Sự thật bi thảm, những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, qua cái nhìn của Quang Dũng, lại được bọc trong những tấm áo bào sang trọng. Cái bi thương ấy vợi đi nhờ cách nói giảm (anh về đất), và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã:
              Áo bào thay chiếu anh về đất
             Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Trong âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng.
Giọng điệu chủ đạo của đoạn thơ thứ ba này trang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội.
Câu 5 [561529]: Bài thơ Tây Tiến đậm chất nhạc, chất hoạ, có cách kết hợp từ mới lạ, độc đáo. Hãy phân tích những thành công nghệ thuật đó.
Ngôn ngữ của Tây Tiến là thứ ngôn ngữ đậm chất nhạc, chất hoạ, độc đáo trong cách kết hợp từ
- Chất họa được gợi đến từ nhiều từ ngữ giàu sức gợi hình: sương lấp, hoa về trong đêm hơi, khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, mưa xa khơi, thác gầm thét, cọp trêu người, đoàn binh không mọc tóc, quân xanh màu lá, dữ oai hùm, mắt trừng, dáng kiều thơm,...
- Chất nhạc:
+ Nhịp thơ 4/3
+ Cách viết các từ ngữ, những câu thơ nhiều thanh trắc: thác gầm thét, Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,...
+ Những câu thơ nhiều thanh bằng: Mường Lát hoa về trong đêm hơi, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi, Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm,...
- Kết hợp từ mới lạ, độc đáo: súng ngửi trời, mùa em,...
Lớp ngôn ngữ này không chỉ góp phần tô đậm hình tượng nghệ thuật thiên nhiên và con người mà còn mang đến xúc cảm vừa hào hùng, bi tráng vừa lãng mạn, hào hoa trong bài thơ.
Bài tập viết
Câu 6 [561530]: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây trong đoạn thơ thứ nhất của bài thơ (từ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi đến Mai Châu mùa em thơm nếp xôi); từ đó, nhận xét hồn thơ Quang Dũng.
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận
* Giải quyết vấn đề nghị luận
** Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên núi rừng miền tây

- Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền tây trước hết được gợi tả bằng nét vẽ bao quát:
+ Hình ảnh sông Mã, rừng núi mở đầu bài thơ gợi không gian cao rộng, khoáng đạt của thiên nhiên núi sông rừng bể hùng vĩ, thơ mộng.
+ Các từ ngữ chỉ địa danh: Sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mai Châu vẽ lên một biên độ không gian rộng lớn, khoáng đạt, một chặng đường hành quân dài với địa hình địa thế cheo leo, hiểm trở nhưng cũng gợi hình dung về khung cảnh hùng vĩ, nên thơ.
- Vẻ đẹp vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng, lãng mạn của bức tranh thiên nhiên núi rừng miền tây tiếp tục được gợi tả chi tiết:
+ Vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội:
• Hình ảnh, âm thanh:
o sương lấp: sương mù trắng xoá chồng lấp, lèn chặt, lấp đầy các thung sâu, vực sâu.
o dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm, ngàn thước lên cao ngàn thước xuống: những con dốc nối tiếp nhau mỗi lúc một lên cao, những vực sâu hun hút, vách đá cheo leo dựng đứng.
o heo hút cồn mây: cồn mây chon von trên đỉnh núi cao vọi, xa tít tắp nơi đỉnh trời.
o thác gầm thét, cọp trêu người gợi ấn tượng về thiên nhiên dữ dội, độc dữ.
• Ngôn ngữ:
o Các từ ngữ giàu sắc thái gợi hình, biểu cảm giàu chất nhạc, chất họa: sương lấp, khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút, thác gầm thét, cọp trêu người.
o Phép điệp và những câu thơ toàn thanh trắc (Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm, Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống) góp phần tô đậm cái gồ ghề, gập ghềnh, khúc khuỷu của không gian.
o Nghệ thuật đối lập kết hợp cách ngắt nhịp 4/3: Dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm thẳm, Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống gia tăng ấn tượng về địa hình gấp khúc, hiểm trở.
+ Vẻ đẹp thơ mộng, lãng mạn được thể hiện qua các hình ảnh đậm chất thơ và những câu thơ toàn thanh bằng:
Mường Lát hoa về trong đêm hơi: Câu thơ gợi tả không gian đêm của một bản làng. Những đoá hoa rừng trong đêm không khoe sắc nhưng chắc chắn thoảng dịu hương thơm lẫn trong làn sương hư ảo, huyền hoặc của đêm.
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi: Câu thơ gợi hình dung về màn mưa trong trẻo, mát lành đang giăng mắc phía xa xa. Cơn mưa mát dịu không chỉ xua đi cái oi bức, nồng nã mà còn làm cho khung cảnh núi rừng thêm nên thơ, lãng mạn hơn.
+ Hai vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội và thơ mộng, lãng mạn không tách rời nhau mà kết hợp hài hòa với nhau trong từng câu thơ, thậm chí trong từng chi tiết, hình ảnh.
** Nhận xét hồn thơ Quang Dũng
- Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên trong đoạn thơ thể hiện hồn thơ lãng mạn, bay bổng, tinh tế, tài hoa của Quang Dũng.
- Hồn thơ ấy thuộc về một nghệ sĩ đa tài (làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc); trẻ trung, yêu đời, lãng mạn, hào hoa của xứ Đoài mây trắng. Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây cũng là một trong những chất xúc tác góp phần làm thăng hoa cảm hứng thơ Quang Dũng.
- Hồn thơ lãng mạn, bay bổng, tinh tế, tài hoa của Quang Dũng là một nét riêng góp phần làm nên vẻ độc đáo của Tây Tiến - một thi phẩm đặc sắc về đề tài người lính.
* Nhận xét, đánh giá; mở rộng, nâng cao
- Vẻ đẹp vừa hùng vĩ, dữ dội vừa thơ mộng, lãng mạn của thiên nhiên miền tây Tổ quốc được thể hiện thành công thông qua các thủ pháp đối lập, phép điệp; cách gieo vần, ngắt nhịp độc đáo; các từ chỉ địa danh, các từ tượng hình, ngôn từ giàu chất nhạc, chất họa,…
- Vẻ đẹp của thiên nhiên thể hiện tâm hồn lãng mạn, tinh tế của người nghệ sĩ - chiến sĩ trong hoàn cảnh chiến tranh. Hơn thế, nó còn thể hiện tình yêu, sự say đắm, gắn bó của Quang Dũng với thiên nhiên núi rừng miền tây. Đây cũng là một khía cạnh khá nổi bật của tình yêu quê hương đất nước trong văn học Việt Nam.
Câu 7 [561531]: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ cùng tên của Quang Dũng; từ đó, nhận xét bút pháp nghệ thuật của nhà thơ.
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả Quang Dũng, tác phẩm Tây Tiến
* Giải quyết vấn đề nghị luận
** Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

- Sơ lược về binh đoàn Tây Tiến.
- Hình tượng người lính xuyên suốt bài thơ:
+ Đoạn thứ nhất (Sông Mã xa rồi… thơm nếp xôi): Hình tượng người lính trên chặng đường hành quân thấp thoáng hiện lên phía sau bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây.
• Người lính phải vượt qua rất nhiều những khó khăn, thử thách (địa bàn hoạt động rộng, địa hình cheo leo, hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, cái chết cận kề,…). Vượt lên trên những khó khăn, gian khổ đó, người lính đã thể hiện đậm nét phẩm chất can trường, dũng cảm. Các chi tiết súng ngửi trời, Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời tiếp tục tô đậm vẻ đẹp can trường, dũng cảm, đồng thời làm nổi bật sự trẻ trung của những chàng lính trẻ Hà thành.
• Những hình ảnh thiên nhiên thơ mộng (Mường Lát hoa về trong đêm hơi, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi) thể hiện tâm hồn lãng mạn của những người lính bởi họ chính là chủ thể của điểm nhìn này. Câu thơ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi với hai chữ mùa em mang đến cảm nhận về sự trẻ trung, tình tứ, hào hoa của các chàng lính trẻ.
+ Đoạn thứ hai (Doanh trại bừng lên… hoa đong đưa): Hình tượng người lính trong đêm liên hoan, trong cuộc vượt thác nổi bật với vẻ đẹp của sự lạc quan, yêu đời, vượt lên trên mọi gian khổ bằng nghị lực phi thường.
+ Đoạn thứ ba (Tây Tiến đoàn binh… khúc độc hành): Bức tượng đài về hình tượng người lính.
• Người lính Tây Tiến đối mặt với những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật song vẫn hiện lên vừa lẫm liệt, kiêu hùng (Quân xanh màu lá dữ oai hùm, mắt trừng) vừa hào hoa, lãng mạn, đầy mơ mộng (gửi mộng qua biên giới - đêm mơ Hà Nội - dáng kiều thơm).
• Lính Tây Tiến hi sinh rất nhiều, ngay cả khi hi sinh, họ vẫn gian khổ (Rải rác biên cương mồ viễn xứ). Song, sự hi sinh đó, tuy bi (buồn) nhưng không hề lụy. Những người lính ngay cả khi nằm xuống vẫn như các vị chiến tướng, cái chết của họ là cái chết mang tầm vóc sử thi hoành tráng (Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành).
⟶ Quang Dũng đã vận dụng thành công bút pháp lãng mạn, từ đó khắc họa thành công hình tượng người lính với hai vẻ đẹp: vừa can trường, dũng cảm vừa lãng mạn, hào hoa.
- So sánh hình tượng người lính Tây Tiến với hình tượng người lính trong các sáng tác cùng đề tài như Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Việt Bắc (Tố Hữu)... để thấy được nét tương đồng và khác biệt:
+ Những người lính phải trải qua rất nhiều những khó khăn, thiếu thốn, những gian truân, vất vả, hi sinh,…
+ Người lính trong Tây Tiến mang vẻ đẹp khác biệt với hình tượng người lính trong các sáng tác cùng đề tài lãng mạn, hào hoa, trẻ trung, tinh nghịch. (Học sinh có thể lí giải sự khác biệt này bằng tri thức về thành phần xuất thân của lính Tây Tiến: Lính Tây Tiến phần lớn là thanh niên, trí thức Hà Nội, họ mang vào cuộc chiến vẻ đẹp phong trần mà lịch lãm, hào hoa của những chàng trai trẻ Hà thành.)
** Nhận xét bút pháp nghệ thuật của nhà thơ
- Để khắc họa hình tượng người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã kết hợp vận dụng bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn, lí tưởng hoá.
+ Bút pháp hiện thực được thực thi qua các chi tiết gợi tả những gian khổ, khó khăn, thiếu thốn của người lính trên chặng đường hành quân và vẻ đẹp can trường, dũng cảm của hình tượng người lính.
+ Bút pháp lãng mạn, lí tưởng hoá được sử dụng để khơi gợi vẻ đẹp lí tưởng cùng tâm hồn lãng mạn, hào hoa, đa tình của những chàng lính trẻ trung, yêu đời.
+ Hai bút pháp này không tách biệt mà luôn quyện hoà với nhau.
- Sự kết hợp hài hoà các bút pháp nghệ thuật giúp Quang Dũng khắc hoạ hình tượng người lính Tây Tiến vừa có điểm tương đồng với người lính trong thơ ca kháng chiến, vừa có điểm khác biệt đầy ấn tượng.
* Nhận xét, đánh giá; mở rộng, nâng cao
- Hình tượng người lính Tây Tiến gây ấn tượng sâu sắc bởi hai vẻ đẹp vừa can trường, dũng cảm vừa lãng mạn, hào hoa.
- Hình tượng người lính Tây Tiến được khắc họa bằng lòng yêu mến, nỗi nhớ, sự gắn bó sâu nặng của Quang Dũng với đồng đội của mình.
- Hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến làm phong phú, sâu sắc thêm đề tài người lính trong văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 - 1975.
Câu 8 [561532]: Có ý kiến cho rằng: Suốt dọc bài thơ “Tây Tiến” là sự kết hợp giữa hai bè cảm xúc hào hùng và hào hoa.
Từ đoạn thơ thứ ba trong bài thơ (Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ... Sông Mã gầm lên khúc độc hành), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu khái quát về Quang Dũng, về Tây Tiến, ý kiến và đoạn thơ
* Giải quyết vấn đề nghị luận
** Giải thích ngắn gọn ý kiến

- Giải thích từ ngữ:
+ “Hào hùng”: khí thế mạnh mẽ, sôi nổi, hùng tráng, hào sảng.
+ “Hào hoa”: đẹp vẻ thanh lịch, lãng mạn, phóng khoáng.
- Giải thích ý kiến: Ý kiến khẳng định sự kết hợp của hai mạch cảm xúc vừa sôi nổi, hùng tráng vừa lãng mạn, lịch lãm suốt dọc bài thơ Tây Tiến.
** Chứng minh ý kiến qua đoạn thơ
- Xúc cảm “hào hùng” được mang đến từ những hình ảnh thơ giàu tính tạo hình, gợi tả khí phách ngang tàng cũng như vẻ đẹp kiêu hùng, oai phong, lẫm liệt trong hình tượng những chàng lính trẻ (đoàn binh không mọc tóc, dữ oai hùm, mắt trừng); từ phong thái mạnh mẽ, dứt khoát, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, Áo bào thay chiếu anh về đất); từ sự hi sinh anh dũng, mang tầm vóc sử thi hoành tráng của người lính Tây Tiến (Sông Mã gầm lên khúc độc hành); âm điệu trầm hùng, bi tráng; các từ Hán Việt (đoàn binh, biên giới, biên cương, viễn xứ, chiến trường, khúc độc hành,...) cùng hình ảnh thơ cổ (áo bào) gợi không khí cổ kính, trang trọng...
- Xúc cảm “hào hoa” được khơi gợi từ vẻ đẹp tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, đa tình của những chàng lính Tây Tiến. Chất lãng mạn, hào hoa đó bộc lộ qua ánh nhìn mộng tưởng, qua lí tưởng cao đẹp, qua nỗi hoài mong bóng dáng người yêu, những cô gái Hà thành yêu kiều, tha thướt (Mắt trừng gửi mộng, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm).
* Nhận xét, đánh giá; mở rộng, nâng cao
- Lí giải vì sao suốt dọc bài thơ Tây Tiến lại có sự kết hợp hài hòa, tuyệt đẹp giữa hai bè cảm xúc “hào hùng” và “hào hoa”: Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp, họ mang vào cuộc chiến vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn của những chàng trai trẻ đất Hà thành; bản thân Quang Dũng cũng là người lính - người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, thơ mộng và rất đỗi tài hoa.)
- Cảm xúc “hào hùng” và “hào hoa” không tách rời mà kết hợp hài hòa với nhau trong từng diễn đạt, từng câu thơ, từng hình ảnh thơ, mang lại vẻ đẹp riêng, rất đặc trưng của “Tây Tiến” so với các sáng tác cùng đề tài, chủ đề; làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của đoạn thơ, bài thơ.