Câu hỏi hướng dẫn đọc
Câu 1 [561545]: Xác định bố cục và nêu ý chính trong các phần của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Bố cục và ý chính của các phần trong của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:
- Đoạn mở đầu (lung khởi, gồm câu 1 - 2): Khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân- nghĩa sĩ.
- Đoạn thứ hai (thích thực, gồm câu 3 - 15): Tái hiện chân thực hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ, từ cuộc đời lao động vất vả, tủi cực đến giây phút vươn mình trở thành dũng sĩ, đánh giặc và lập chiến công.
- Đoạn thứ ba (ai vãn, gồm câu 16 - 28): Lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác giả và nhân dân đối với người nghĩa sĩ.
- Đoạn thứ tư (gồm hai câu cuối): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.
Câu 2 [561546]: Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ đã được tái hiện như thế nào trong phần Thích thực của bài văn tế? (Chú ý hình ảnh của họ trong sinh hoạt đời thường, khi kẻ thù xâm phạm đất nước, trong trận nghĩa đánh Tây).
Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ trong phần Thích thực của bài văn tế:
- Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ trước trận đánh (câu 3 - 5):
+ Họ vốn là những người nông dân nghèo khổ.
+ Từ cui cút không chỉ thể hiện cuộc đời lam lũ, lầm lũi của người nông dân mà còn chứa đựng niềm cảm thông của tác giả.
+ Nguyễn Đình Chiểu nhấn mạnh vào đặc điểm họ hoàn toàn xa lạ với việc binh đao nhằm tạo sự đối lập để tôn cao người anh hùng ở đoạn sau (chưa quen cung ngựa… làng bộ).
- Bước chuyển biến trong hình tượng người nông dân nghĩa sĩ khi quân giặc xâm phạm đất đai, bờ cõi của cha ông (câu 6 - 9):
+ Chuyển biến về tình cảm: lòng căm thù giặc (ghét thói mọi… cỏ, muốn tới ăn gan, cắn cổ ⟶ động từ tình thái, động từ mạnh).
+ Chuyển biến về nhận thức: Một mối xa thư… bán chó ⟶ ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp cứu nước.
+ Hành động tự nguyện: mến nghĩa làm quân chiêu mộ và ý chí quyết tâm diệt giặc của người nông dân - nghĩa sĩ (sử dụng những cụm từ có sắc thái biểu cảm mạnh: nào đợi, chẳng thèm, ra sức đoạn kình, ra tay bộ hổ).
⟶ Những bước chuyển biến được miêu tả chân thực, sinh động, hợp lí, gần gũi với cách suy nghĩ và lời ăn tiếng nói của người nông dân (Trông tin… mưa, ghét… cỏ).
- Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận đánh (câu 10 - 15):
+ Hình ảnh đội quân áo vải được khắc hoạ hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo tính ước lệ của văn thơ trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lí tưởng hoá (câu 10 - 12). Những chi tiết chân thực đều được lựa chọn lọc tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính khái quát, đặc trưng cao (manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay) ⟶ vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà không kém "chất" anh hùng bởi tư thế hiên ngang, coi thường mọi khó khăn, thiếu thốn (nào đợi tập rèn, không chờ bày bố, nào đợi mang, chi nài sắm).
+ Hình tượng những người anh hùng được khắc nổi trên nền một trận công đồn đầy khí thế tiến công.
• Hệ thống từ ngữ: nhiều động từ mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, xô, hè, ó…), dứt khoát (đốt xong, chém đặng, trối kệ), nhiều khẩu ngữ nông thôn và từ ngữ mang tính địa phương Nam Bộ (nhà dạy đạo, như chẳng có, thằng Tây, hè, ó…)
• Phép đối từ ngữ (trống kì - trống giục, lướt tới - xông vào, đạn nhỏ - đạn to, đâm ngang - chém ngược…), đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm vông - địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu thiếc, tàu đồng; vũ khí thô sơ: rơm con cúi, lưỡi dao phay - chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rót đầu quan hai), đối thanh bằng - trắc (kia - nọ, kì - giục, tới - vào, nhỏ - to…).
⟶ Khác với hình ảnh lính thú thời xưa:
Ngang lưng thì thắt bao vàng…
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa
⟶ Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện và ngợi ca phẩm chất cao quý tiềm ẩn sau manh áo vải, sau cuộc đời lam lũ của người nông dân là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.
Hình tượng nhân vật được đặt trong một kết cấu chặt chẽ, hợp lí. Ngòi bút hiện thực kết hợp với chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu chữ, từng hình ảnh thể hiện nỗi cảm thông, niềm kính phục và tự hào của tác giả. Từ ngữ tinh tế, chính xác, có sức gợi cảm. Nhiều biện pháp tu từ được sử dụng thành công, tạo được hiệu quả nghệ thuật cao.
Câu 3 [561547]: Tiếng khóc của tác giả xuất phát từ những nguồn cảm xúc nào? Tiếng khóc trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có bi luỵ không? Vì sao?
Tiếng khóc của tác giả được thể hiện qua phần Ai vãn và Khốc tận, xuất phát từ rất nhiều cảm xúc, tình cảm dành cho nhữn người nông dân nghĩa sĩ (tiếc hận, xót xa, căm hờn, uất nghẹn, cảm phục, tự hào, ngợi ca...):
- Phần Ai vãn: Nỗi xót thương đối với người nghĩa sĩ:
+ Nỗi tiếc hận của người phải hi sinh khi sự nghiệp còn đang dang dở, chí nguyện chưa thành (câu 16 - 24).
+ Nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với mẹ già, vợ trẻ (câu 25).
+ Nỗi căm hờn những kẻ đã gây nên nghịch cảnh éo le (câu 21).
+ Tiếng khóc uất ức nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước (câu 27).
- Niềm cảm phục và tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên bảo vệ từng tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo, đã lấy cái chết để làm rạng ngời chân lí cao đẹp của thời đại thà chết vinh còn hơn sống nhục (câu 22 - 23).
- Biểu dương công trạng của người nông dân - nghĩa sĩ, đời đời được Tổ quốc ghi công (câu 26 - 28).
- Phần Khốc tận: Tác giả trở lại hiện thực, khóc thương và ngợi ca tấm lòng thiên dân của nghĩa sĩ. Nỗi đau sâu nặng (Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo) không chỉ trong lòng người mà dường như còn bao trùm khắp cỏ cây, sông núi (sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tông Thạnh, Bến Nghé, Đồng Nai) - tất cả đều nhuốm màu tang tóc, bi thương.
 Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người nghĩa sĩ. Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống không chỉ gợi nỗi đau thương mà cao hơn nữa, còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ. Bởi thế tiếng khóc ấy bi thương nhưng không bi luỵ.
Câu 4 [561548]: Phân tích một số thành công nghệ thuật của bài văn tế (nghệ thuật sử dụng từ ngữ, các biện pháp tu từ, đối,...).
Một số thành công nghệ thuật của bài văn tế:
- Nghệ thuật sử dụng từ ngữ:
+ Từ ngữ giàu sắc thái gợi hình, ví dụ:
• Từ cui cút gợi dáng điệu, dáng vẻ lầm lụi, tội nghiệp của những người nông dân.
• Các động từ mạnh đánh, đốt, chém, đạp, xô, hè, ó,... miêu tả rõ nét hành động đánh giặc.
• Các từ ngữ manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay gợi tả vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà không kém chất anh hùng, tư thế hiên ngang của những người nông dân nghĩa sĩ.
...
+ Từ ngữ giàu sắc thái gợi cảm, ví dụ:
• Các động từ tình thái như ghét thói mọi… cỏ, muốn tới ăn gan, cắn cổ biểu đạt thành công lòng căm thù giặc của những người nông dân.
• Các từ ngữ nào đợi, chẳng thèm, ra sức đoạn kình, ra tay bộ hổ thể hiện rõ nét tinh thần tự nguyện, lòng quyết tâm đánh giặc của những người nông dân.
...
- Các biện pháp tu từ (phép liệt kê, phép đối):
+ Liệt kê các chi tiết miêu tả tình cảm, thái độ; hành động;... của những người nông dân nghĩa sĩ.
+ Phép đối: đối từ ngữ (trống kì - trống giục, lướt tới - xông vào, đạn nhỏ - đạn to, đâm ngang - chém ngược…); đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm vông - địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu thiếc, tàu đồng; vũ khí thô sơ: rơm con cúi, lưỡi dao phay - chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rót đầu quan hai); đối thanh bằng - trắc (kia - nọ, kì - giục, tới - vào, nhỏ - to…) góp phần gợi tả vẻ đẹp giản dị mà hiên ngang, dũng cảm cùng lòng yêu nước sâu đậm của những người nông dân nghĩa sĩ khi xông trận.
...
Câu 5 [561549]: Ở bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã biểu hiện một cái nhìn mới mẻ, tiến bộ về người nông dân so với văn học trung đại. Theo anh/chị, điều đó thể hiện ở những điểm nào?
Cái nhìn mới mẻ, tiến bộ về người nông dân so với văn học trung đại:
- Trong văn học trung đại, trước Nguyễn Đình Chiểu, hình tượng người nông dân mới chỉ thảng hoặc xuất hiện trong một số sáng tác:
- Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu, vai mang túi dài
Một tay thì cắp hoả mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa
(Ca dao)
⟶ Lời ca gợi tả hình tượng lính thú thời xưa.
- Yết can vi kì, manh lệ chi đồ tứ tập
Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm
(Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới;
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào)
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
Hai câu văn tập trung thể hiện vai trò và sức mạnh của những người manh lệ (từ manh lệ ở đây chỉ những người dân cày lưu tán (manh), những người tôi tớ, đi ở (lệ)).
- Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ
(Thuyền có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước)
(Quan hải - Nguyễn Trãi)
- So với hình tượng lính thú thời xưa trong bài ca dao, hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu rõ ràng tự nguyện, chủ động hơn khi đánh giặc.
Hình tượng người dân trong thơ văn Nguyễn Trãi chủ yếu được tô đậm ở khía cạnh sức mạnh và tinh thần đoàn kết, một lòng đánh giặc. Song họ đánh giặc trước hết vì “trung quân” (theo quan điểm yêu nước là trung với vua), còn hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu đánh giặc vì yêu nước, căm thù giặc.
Bài tập viết
Câu 6 [561550]: Từ bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, hãy viết một đoạn văn (khoảng 10-12 dòng) chia sẻ suy nghĩ của anh/chị về hai chữ “nhục” và “vinh” trong cuộc sống.
Đoạn văn (khoảng 10 - 12 dòng) bàn về hai chữ “nhục” và “vinh” trong cuộc sống có thể triển khai theo hướng:
- Lẽ “nhục”, “vinh” gắn liền với quan niệm sống của mỗi người. Quan niệm đó chi phối ứng xử của mỗi chúng ta trong cuộc sống.
- Để sống “vinh”, mỗi người có thể lựa chọn ứng xử theo những chuẩn mực đạo đức, theo những điều tốt đẹp, nhân văn. Ngược lại, việc vi phạm các chuẩn mực đạo đức, lối hành xử xấu xí sẽ khiến chúng ta chịu “nhục” (dẫn chứng).
© 2023 - - Made With