Câu hỏi hướng dẫn đọc
Câu 1 [561557]: Xác định chủ thể trữ tình và nội dung bao quát của bài thơ.
- Chủ thể trữ tình: chủ thể ẩn - người lên lầu Hoàng Hạc ngắm cảnh sinh tình - tác giả.
- Nội dung bao quát của bài thơ: nỗi sầu của con người khi đối diện với cái đẹp (xưa - nay, xa - gần, thời gian - không gian, thực - hư, cảnh - tình).
Câu 2 [561558]: Phân tích tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình bộc lộ trong bài thơ (lưu ý bốn dòng thơ đầu và hai dòng thơ cuối).
Tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài thơ
- Bốn dòng đầu: Hiện lên trước mắt chủ thể trữ tình là khung cảnh hiện hữu: lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu), mây trắng lững lờ bay (bạch vân (...) không du du). Nhưng có vẻ như nhân vật trữ tình không để tâm đến cảnh đẹp trước mắt mà lòng ngập tràn tâm trạng hoài niệm, hoài cổ người xưa, chuyện cũ (tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ), bâng khuâng, nao nao nhớ tiếc (bạch vân thiên tải, hoàng hạc nhất khứ bất phục phản).
- Hai dòng cuối: Vẫn từ khung cảnh hiện tại với hoàng hôn (nhật mộ), khói sóng trên sông (yên ba giang thượng) trong chủ thể trữ tình lại dấy lên xúc cảm nhớ quê (hà xứ thị?) và buồn (sầu).
Trở lên, có thể thấy, lời thơ đong đầy tâm trạng, xúc cảm của nhân vật trữ tình và có một quy luật: cảm xúc luôn được gọi đến bởi ngoại cảnh - cảnh đẹp hiện hữu trước mắt. Quy luật đó khiến chúng ta nghĩ đến sức mạnh/ ý nghĩa/ giá trị rất đỗi nhân văn của cái đẹp trong cuộc sống: Cái đẹp có khả năng thanh lọc tâm hồn con người.
Câu 3 [561559]: Nhận xét về bố cục, cách sử dụng vần, nhịp, đối trong bài thơ.
Bố cục, cách sử dụng vần, nhịp, đối trong bài thơ
- Bố cục:
+ Theo thể thơ (thất ngôn bát cú Đường luật):
• Hai câu đề: Hoài niệm “hạc vàng” trong tích xưa, đồng thời cũng là hoài niệm vẻ đẹp đã qua không trở lại.
• Hai câu thực: Hoài niệm, nuối tiếc và cảm thức về sự còn - mất, về sự hữu hạn - vô hạn của đất trời và con người.
• Hai câu luận: Phong cảnh nhìn từ lầu Hoàng Hạc, qua đó gửi gắm cảm xúc.
• Hai câu kết: Tâm trạng buồn, cô đơn, nhớ quê hương da diết.
+ Kim Thánh Thán (đời Thanh) chia bài thơ thành hai phần.
• Bốn câu trước (tiền giải): tả “người xưa”.
• Bốn câu sau (hậu giải): tả “người nay”.
- Cách sử dụng vần, nhịp, đối:
+ Vần không theo quy định của thơ Đường luật (thơ Đường luật thường chỉ gieo một vần và là vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8):
B - B - T - T - T - B - B (vần)
T - T - B - B - T - T - B (vần)
T - T - B - B - B - T - T
B - B - T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B - B - T
T - T - B - B - T - T - B (vần)
T - T - B - B - B - T - T
B - B - T - T - T - B - B (vần)
Nhưng hai câu đầu bài Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu) lại không tuân theo luật thơ: Vần ở cuối câu 1 là vần trắc (khứ) nhưng vần ở cuối các câu 2, 4, 6, 8 lại là vần bằng (lâu - du - châu - sầu). Thêm nữa, các tiếng 2, 4, 6 (in đậm) trong mỗi dòng thơ phải tuân thủ theo quy định “nhị tứ lục phân minh” thì trong bài thơ lại có các câu không thực hiện theo quy định này.
Tích nhân thừa hoàng hạc khứ,
            B            B                 T
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
               T              T            T
Đó là những bằng chứng đưa đến kết luận về sự “phá luật” của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu.
+ Nhịp: 4/3 (tuân thủ cách ngắt nhịp của một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật)
+ Đối: giữa các câu trong cặp câu thực (3 - 4) và cặp câu luận (5 - 6).
Câu 4 [561560]: Theo anh/chị, các hình ảnh, điển tích, điển cố có vai trò như thế nào trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm?
Vai trò của các hình ảnh, điển tích, điển cố trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm
- Chủ đề bài thơ: Sự tiếc nuối khôn nguôi đối với những vẻ đẹp đã qua trong quá khứ mà đại diện là “hạc vàng” và tâm trạng đơn côi trong sự hữu hạn của đời người.
- Hệ thống hình ảnh thể hiện chủ đề bài thơ: tích nhân (“người xưa”), thử địa (“nơi đây”), không (“trống không, trơ trọi”), nhất khứ (“đã bay đi”), thiên tài (“ngàn năm”),... Các hình ảnh xác lập các quan hệ xưa - nay (tích nhân – thử địa), xa - gần (bạch vân - tình xuyên, thụ, phương thảo), hữu hạn – vô cùng (hoàng hạc nhất khứ – bạch vân thiên tải),...
- Điển tích, điển cố “hạc vàng” gắn liền với chủ đề tác phẩm: Tên gọi “lầu Hoàng Hạc” bắt nguồn từ truyền thuyết tu sĩ Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên, thường cưỡi hạc vàng ngao du sơn thuỷ. Một hôm, bay qua Vũ Hán đã đỗ xuống ngắm nhìn cảnh đẹp, người đời sau bèn xây lầu để kỉ niệm. Con hạc vàng tượng trưng cho điều kì diệu, đẹp đẽ chỉ xuất hiện một lần, mãi mãi gây thương nhớ không nguôi cho đời sau.
- Vai trò của các hình ảnh, điển tích, điển cố trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm: Việc sử dụng các hình ảnh, điển tích, điển cố “hạc vàng” giúp cho bài thơ thấm đượm phong vị hoài cổ; cấu tứ trở nên hàm súc, giàu sức gợi cảm hơn.
Câu 5 [561561]: Hoàng Hạc lâu được sáng tác theo phong cách nào? Theo anh/chị, bài thơ đã thể hiện rõ nhất đặc điểm gì của phong cách đó?
Bài thơ Hoàng Hạc lâu được sáng tác theo phong cách cổ điển. Phong cách này được thể hiện qua việc đề cao tính chất khuôn mẫu, chuẩn mực về tư tưởng và nghệ thuật. Tính chất chuẩn mực về nghệ thuật (quy định về thể loại; hệ thống ngôn từ tao nhã; hình ảnh ước lệ tượng trưng; sử dụng điển tích, điển cố,…) đặc biệt rõ nét trong tác phẩm này.
Câu 6 [561562]: Kẻ bảng sau đây vào vở và điền thông tin thích hợp vào bảng:
Bài tập viết
Câu 7 [561563]: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ), phân tích sự phá cách của Thôi Hiệu trong thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Đoạn văn phân tích sự phá cách của Thôi Hiệu trong thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật có thể được triển khai theo hướng:
- Biểu hiện của sự phá cách: Cách gieo vần, việc vi phạm luật bằng trắc trong một bài thơ Đường luật (chú ý đối sánh với quy định về cách gieo vần và luật bằng trắc ở một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thông thường: thơ Đường luật thường chỉ gieo một vần và là vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8; luật thơ tuân theo quy định “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”).
- Tuy có những phá cách táo bạo nhưng Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu) vẫn được đánh giá là “đệ nhất”. Nghiêm Vũ, một nhà phê bình văn học thời Tống, nói rằng: “Thơ thất ngôn luật thi của người đời Đường, nên coi bài “Lầu Hoàng Hạc” của Thôi Hiệu là đệ nhất” (Đường nhân thất ngôn luật thi đương dĩ Thôi Hiệu “Hoàng Hạc lâu” vi đệ nhất). Tương truyền Lí Bạch đến lầu Hoàng Hạc, định để thơ, bỗng nhìn lên thấy bài này của Thôi Hiệu, đành gác bút mà than:
Nhân tiễn hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

(Trước mắt có cảnh nói không được
Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu.)
Sự phá cách của Thôi Hiệu không chỉ thể hiện tài năng mà còn thể hiện sự thăng hoa trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ.
(Tham khảo: Có ý kiến cho rằng Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu là một bài thơ “cổ luật” điển hình. “Cổ luật là thuật ngữ để chỉ những bài thơ vừa có tính chất của luật thi vừa có tính chất của cổ thi. Ở loại thơ này, số chữ, số câu, cách gieo vần và đối ngẫu giống như thơ luật nhưng phối thanh lại giống như cổ phong, không hoàn toàn hợp luật.”)