Câu hỏi hướng dẫn đọc
Câu 1 [561573]: Câu hỏi ở dòng thơ thứ nhất là lời của ai nói với ai? Anh/Chị hình dung như thế nào về cảnh và người thôn Vĩ qua khổ thơ đầu?
- Dòng thơ thứ nhất: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
+ Hình thức: câu hỏi tu từ, mục đích không phải chỉ để hỏi.
+ Có hai cách hiểu về chủ thể của lời hỏi:
• Cách hiểu thứ nhất: Lời của cô gái thôn Vĩ, vừa mang âm điệu trách nhẹ vừa như lời mời.
o Trách nhẹ: cô gái trách chàng trai (anh) là sao lâu rồi không về chơi thôn Vĩ.
o Lời mời: cô gái thôn Vĩ mời chàng trai (anh) về chơi thôn Vĩ.
• Cách hiểu thứ hai: Lời của chính chủ thể trữ tình (chàng trai) tự nhắc mình lâu rồi không về chơi thôn Vĩ và hãy về đi.
- Cảnh và người thôn Vĩ qua khổ thơ đầu thực chất chình là hành trình trở lại thôn Vĩ trong tưởng tượng và bằng tưởng tượng của chủ thể trữ tình - tác giả
+ Cảnh (câu 2 + 3):
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
• Cảnh nhà vườn thôn Vĩ: Cảnh được nhìn theo điểm nhìn từ cao xa xuống thấp gần. Chính sự di chuyển của điểm nhìn cho phép người đọc hình dung về bước chân từ xa lại gần của chủ thể trữ tình trong hành trình trở về thôn Vĩ.
• Cảnh tượng mà chủ thể trữ tình nhìn thấy trước tiên (khi đứng từ xa ngước nhìn lên cao) là hình ảnh những đọt cau non trong nắng sớm.
o Điệp từ nắng: gợi tả đặc điểm thời tiết đặc trưng của khí hậu miền Trung (nắng nhiều, nắng chan hoà, nắng từ rất sớm).
o Hình ảnh nắng hàng cau: không phải là một loại nắng mà chỉ đơn thuần là sự giao thoa của hai hình ảnh nắng và hàng cau, gợi hình ảnh nắng sớm chiếu rọi qua các tàu cau, đọt cau non, nắng xuyên qua những giọt sương mai còn đọng trên tàu cau, đọt cau và gợi vẻ đẹp lung linh, thanh khiết của buổi sớm bình minh.
• Khi bước chân của chủ thể trữ tình đến gần hơn với khu nhà vườn thì hình ảnh hiện lên lúc này là hình ảnh của khu vườn được chăm sóc, tỉa tót hết sức kĩ lưỡng.
o Đại từ phiếm chỉ ai khiến chủ nhân của khu vườn không được xác định rõ ràng. Nhưng chính cái không rõ ràng này lại là phông nền để nhấn một vẻ đẹp rõ ràng hơn: vẻ đẹp của cây lá trong vườn.
o Cụm từ mướt quá: thể hiện cảm xúc ngạc nhiên/ kinh ngạc và thái độ ngợi ca của chủ thể trữ tình trước vẻ đẹp sạch sẽ, láng bóng (mướt) của cây lá.
o Phép so sánh cách điệu xanh như ngọc gợi cảm nhận về sắc xanh được tô nhấn thêm bởi vẻ đẹp sang trọng, thanh quý (thông qua hình ảnh so sánh ngọc).
⟶ Hai câu thơ (2+3) gợi tả vẻ đẹp sạch sẽ, sang trọng của cây lá trong khu nhà vườn Vĩ Dạ; đồng thời thể hiện sự ghi nhớ/ khắc ghi của chủ thể trữ tình (bởi chủ thể trữ tình chỉ đang trở về Vĩ Dạ trong tưởng tượng) về thiên nhiên thôn Vĩ, tình yêu, sự gắn bó của nvtt với cảnh thôn Vĩ.
+ Người (câu 4): Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
• Mặt chữ điền: hoán dụ gợi tả vẻ đẹp của con người Vĩ Dạ.
o Gợi khuôn mặt vuông vức, gợi vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu.
o Hình ảnh con người không hiện lên rõ nét, cụ thể mà chỉ thấp thoáng sau lá trúc gợi vẻ đẹp đặc trưng trong tính cách của người Huế: sự ý nhị, kín đáo.
• Câu thơ còn thể hiện tình cảm yêu mến, niềm nhớ nhung của nvtt đối với con người xứ Huế.
⟶ Như vậy, có thể thấy ba dòng thơ sau tập trung gợi tả vẻ đẹp của cảnh và người thôn Vĩ đồng thời bộc lộ tình cảm yêu mến, niềm tha thiết được trở lại thôn Vĩ của chủ thể trữ tình.
+ Hình thức: câu hỏi tu từ, mục đích không phải chỉ để hỏi.
+ Có hai cách hiểu về chủ thể của lời hỏi:
• Cách hiểu thứ nhất: Lời của cô gái thôn Vĩ, vừa mang âm điệu trách nhẹ vừa như lời mời.
o Trách nhẹ: cô gái trách chàng trai (anh) là sao lâu rồi không về chơi thôn Vĩ.
o Lời mời: cô gái thôn Vĩ mời chàng trai (anh) về chơi thôn Vĩ.
• Cách hiểu thứ hai: Lời của chính chủ thể trữ tình (chàng trai) tự nhắc mình lâu rồi không về chơi thôn Vĩ và hãy về đi.
- Cảnh và người thôn Vĩ qua khổ thơ đầu thực chất chình là hành trình trở lại thôn Vĩ trong tưởng tượng và bằng tưởng tượng của chủ thể trữ tình - tác giả
+ Cảnh (câu 2 + 3):
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
• Cảnh nhà vườn thôn Vĩ: Cảnh được nhìn theo điểm nhìn từ cao xa xuống thấp gần. Chính sự di chuyển của điểm nhìn cho phép người đọc hình dung về bước chân từ xa lại gần của chủ thể trữ tình trong hành trình trở về thôn Vĩ.
• Cảnh tượng mà chủ thể trữ tình nhìn thấy trước tiên (khi đứng từ xa ngước nhìn lên cao) là hình ảnh những đọt cau non trong nắng sớm.
o Điệp từ nắng: gợi tả đặc điểm thời tiết đặc trưng của khí hậu miền Trung (nắng nhiều, nắng chan hoà, nắng từ rất sớm).
o Hình ảnh nắng hàng cau: không phải là một loại nắng mà chỉ đơn thuần là sự giao thoa của hai hình ảnh nắng và hàng cau, gợi hình ảnh nắng sớm chiếu rọi qua các tàu cau, đọt cau non, nắng xuyên qua những giọt sương mai còn đọng trên tàu cau, đọt cau và gợi vẻ đẹp lung linh, thanh khiết của buổi sớm bình minh.
• Khi bước chân của chủ thể trữ tình đến gần hơn với khu nhà vườn thì hình ảnh hiện lên lúc này là hình ảnh của khu vườn được chăm sóc, tỉa tót hết sức kĩ lưỡng.
o Đại từ phiếm chỉ ai khiến chủ nhân của khu vườn không được xác định rõ ràng. Nhưng chính cái không rõ ràng này lại là phông nền để nhấn một vẻ đẹp rõ ràng hơn: vẻ đẹp của cây lá trong vườn.
o Cụm từ mướt quá: thể hiện cảm xúc ngạc nhiên/ kinh ngạc và thái độ ngợi ca của chủ thể trữ tình trước vẻ đẹp sạch sẽ, láng bóng (mướt) của cây lá.
o Phép so sánh cách điệu xanh như ngọc gợi cảm nhận về sắc xanh được tô nhấn thêm bởi vẻ đẹp sang trọng, thanh quý (thông qua hình ảnh so sánh ngọc).
⟶ Hai câu thơ (2+3) gợi tả vẻ đẹp sạch sẽ, sang trọng của cây lá trong khu nhà vườn Vĩ Dạ; đồng thời thể hiện sự ghi nhớ/ khắc ghi của chủ thể trữ tình (bởi chủ thể trữ tình chỉ đang trở về Vĩ Dạ trong tưởng tượng) về thiên nhiên thôn Vĩ, tình yêu, sự gắn bó của nvtt với cảnh thôn Vĩ.
+ Người (câu 4): Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
• Mặt chữ điền: hoán dụ gợi tả vẻ đẹp của con người Vĩ Dạ.
o Gợi khuôn mặt vuông vức, gợi vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu.
o Hình ảnh con người không hiện lên rõ nét, cụ thể mà chỉ thấp thoáng sau lá trúc gợi vẻ đẹp đặc trưng trong tính cách của người Huế: sự ý nhị, kín đáo.
• Câu thơ còn thể hiện tình cảm yêu mến, niềm nhớ nhung của nvtt đối với con người xứ Huế.
⟶ Như vậy, có thể thấy ba dòng thơ sau tập trung gợi tả vẻ đẹp của cảnh và người thôn Vĩ đồng thời bộc lộ tình cảm yêu mến, niềm tha thiết được trở lại thôn Vĩ của chủ thể trữ tình.
Câu 2 [561574]: Phong cảnh ở khổ thứ hai có gì khác so với cảnh sông nước mà bạn từng biết? Từ kịp trong câu hỏi tu từ ở cuối khổ thơ cho thấy điều gì trong cảm quan của chủ thể trữ tình?
- Phong cảnh được thể hiện ở mỗi cặp câu trong khổ thơ thứ hai
+ Hai câu trước:
• Cảnh sông nước sông Hương được gợi tả bởi các hình ảnh gió, mây, dòng nước, hoa bắp cùng các chi tiết miêu tả giàu sức gợi.
• Nhịp thơ 4/3, kết hợp với cách diễn đạt gió theo lối gió, mây đường mây khiến cặp hình ảnh gió - mây vốn luôn vận động cùng chiều (gió thổi mây bay) bỗng trở nên lạc hướng, chia lìa đôi ngả.
• Phép nhân hoá dòng nước buồn thiu cùng với hình ảnh hoa bắp lay (hoa ngô khẽ lay trong gió nhẹ) gợi tâm trạng buồn hiu hắt mà thấm thía. Nỗi buồn rõ ràng toả ra từ lòng người (chủ thể trữ tình) và lan thấm vào cảnh vật, nhuộm buồn lên cảnh vật.
⟶ Hai câu thơ gợi tả khung cảnh tĩnh lặng, yên ắng đặc trưng của xứ Huế; gợi buồn, nỗi buồn man mác mà sâu lắng trong lòng chủ thể trữ tình.
+ Hai câu sau:
• Cảnh sông Hương trong đêm trăng Vĩ Dạ, con thuyền trên dòng sông giữa một đêm chan hoà ánh trăng.
• Đại từ phiếm chỉ ai không xác định đối tượng - chủ thể cụ thể.
• Con thuyền đậu trên bến sông trăng, chở trăng, chở ánh sáng chan hoà rọi chiếu từ bầu trời cao rộng xuống lòng sông. Cảnh tượng được gợi đến trong lời thơ là một cảnh tượng huyền hoặc, hư ảo: bầu trời đầy trăng, dòng sông ánh sáng, con chuyền chở ánh trăng.
⟶ Cảnh đẹp mộng mơ nhưng hư ảo, huyền hoặc, không rõ ràng.
⟶ Trở lên, có thể thấy, khung cảnh sông nước được gợi tả trong khổ thơ thứ hai đẹp vẻ tĩnh lặng, yên bình, thơ mộng nhưng chứa chan nỗi buồn, thấm đượm mặc cảm chia lìa cùng cảm nhận về một không gian nhuốm màu sắc hư ảo, huyền hoặc. Đây chính là điều làm nên sự khác biệt giữa sông nước sông Hương với cảnh sông nước mà chúng ta từng bắt gặp trong những thi phẩm như Nhớ con sông quê hương (Tế Hanh), Dòng sông quê anh, dòng sông quê em (Lai Vu), Vàm Cỏ Đông (Hoài Vũ),...
- Từ kịp trong câu hỏi tu từ ở cuối khổ thơ: Có chở trăng về kịp tối nay? bộc lộ nỗi niềm khắc khoải chờ trông (có chở (...) kịp) trong vô vọng của chủ thể trữ tình. Đặt câu thơ, bài thơ trong hoàn cảnh cụ thể (Hàn Mặc Tử đang mắc trọng bệnh và quỹ đời của thi nhân còn rất ngắn ngủi) thì mới hiểu nỗi chờ trông, khao khát con thuyền chở trăng về kịp chính là nỗi khao khát sự sống, khao khát tình yêu. Kịp tối nay chứ không phải một tối nào khác nữa vì quỹ thời gian dành cho Hàn không còn nhiều.
+ Hai câu trước:
• Cảnh sông nước sông Hương được gợi tả bởi các hình ảnh gió, mây, dòng nước, hoa bắp cùng các chi tiết miêu tả giàu sức gợi.
• Nhịp thơ 4/3, kết hợp với cách diễn đạt gió theo lối gió, mây đường mây khiến cặp hình ảnh gió - mây vốn luôn vận động cùng chiều (gió thổi mây bay) bỗng trở nên lạc hướng, chia lìa đôi ngả.
• Phép nhân hoá dòng nước buồn thiu cùng với hình ảnh hoa bắp lay (hoa ngô khẽ lay trong gió nhẹ) gợi tâm trạng buồn hiu hắt mà thấm thía. Nỗi buồn rõ ràng toả ra từ lòng người (chủ thể trữ tình) và lan thấm vào cảnh vật, nhuộm buồn lên cảnh vật.
⟶ Hai câu thơ gợi tả khung cảnh tĩnh lặng, yên ắng đặc trưng của xứ Huế; gợi buồn, nỗi buồn man mác mà sâu lắng trong lòng chủ thể trữ tình.
+ Hai câu sau:
• Cảnh sông Hương trong đêm trăng Vĩ Dạ, con thuyền trên dòng sông giữa một đêm chan hoà ánh trăng.
• Đại từ phiếm chỉ ai không xác định đối tượng - chủ thể cụ thể.
• Con thuyền đậu trên bến sông trăng, chở trăng, chở ánh sáng chan hoà rọi chiếu từ bầu trời cao rộng xuống lòng sông. Cảnh tượng được gợi đến trong lời thơ là một cảnh tượng huyền hoặc, hư ảo: bầu trời đầy trăng, dòng sông ánh sáng, con chuyền chở ánh trăng.
⟶ Cảnh đẹp mộng mơ nhưng hư ảo, huyền hoặc, không rõ ràng.
⟶ Trở lên, có thể thấy, khung cảnh sông nước được gợi tả trong khổ thơ thứ hai đẹp vẻ tĩnh lặng, yên bình, thơ mộng nhưng chứa chan nỗi buồn, thấm đượm mặc cảm chia lìa cùng cảm nhận về một không gian nhuốm màu sắc hư ảo, huyền hoặc. Đây chính là điều làm nên sự khác biệt giữa sông nước sông Hương với cảnh sông nước mà chúng ta từng bắt gặp trong những thi phẩm như Nhớ con sông quê hương (Tế Hanh), Dòng sông quê anh, dòng sông quê em (Lai Vu), Vàm Cỏ Đông (Hoài Vũ),...
- Từ kịp trong câu hỏi tu từ ở cuối khổ thơ: Có chở trăng về kịp tối nay? bộc lộ nỗi niềm khắc khoải chờ trông (có chở (...) kịp) trong vô vọng của chủ thể trữ tình. Đặt câu thơ, bài thơ trong hoàn cảnh cụ thể (Hàn Mặc Tử đang mắc trọng bệnh và quỹ đời của thi nhân còn rất ngắn ngủi) thì mới hiểu nỗi chờ trông, khao khát con thuyền chở trăng về kịp chính là nỗi khao khát sự sống, khao khát tình yêu. Kịp tối nay chứ không phải một tối nào khác nữa vì quỹ thời gian dành cho Hàn không còn nhiều.
Câu 3 [561575]: Khách đường xa ở khổ thơ cuối có thể là ai? Từ những hình ảnh trong khổ thơ này, xác định mối liên hệ cảm xúc giữa chủ thể trữ tình và em.
- Khách đường xa ở khổ thơ cuối có thể hiểu là người xứ Huế nói chung nhưng cũng có thể hiểu là em.
- Khổ thơ có nhiều hình ảnh:
+ Hình ảnh khách đường xa trở đi trở lại hai lần trong dòng thơ với âm tiết cuối cùng là một âm mở (a), đẩy hình ảnh khách mỗi lúc một xa hơn so với tầm nhìn, tầm với của chủ thể trữ tình.
+ Đến dòng thơ thứ hai, có vẻ khách đã hiện lên rõ hơn, là em nhưng lập tức em lại xuất hiện trong hình ảnh áo (...) trắng quá. Huế nắng lắm mưa nhiều nên sương khói cũng nhiều, mà sương khói toàn màu trắng, lại hư ảo, huyền hoặc nên khi em mặc áo trắng thì chính em cũng bị nhoè mờ trong khói sương hư hoặc ấy.
⟶ Chủ thể trữ tình mơ, khao khát được gặp gỡ người xứ Huế, gặp lại em và vì khao khát nên cố công tìm kiếm hình ảnh con người (khách, em) nhưng cả khách và em đều huyền hoặc, hư ảo, xa xôi quá. Chủ thể trữ tình càng khao khát được đến gần, được chạm vào người xứ Huế (khao khát được giao cảm) thì lại người xứ Huế lại càng vuột khỏi tầm với, lại càng xa xôi. Nỗi khao khát như chen với niềm vô vọng.
+ Ai1 - ai2: có nhiều cách hiểu
• Ai1 - ai2: người xứ Huế - chủ thể trữ tình. Câu thơ được hiểu là người xứ Huế có biết được tình cảm đậm đà mà chủ thể trữ tình dành cho người xứ Huế không?
• Ai1 - ai2: chủ thể trữ tình - người xứ Huế. Câu thơ được hiểu là chủ thể trữ tình làm sao biết được người xứ Huế có tình cảm đậm đà với mình không?
⟶ Cả hai cách hiểu đều thể hiện niềm khát khao được gắn bó, yêu thương, gần gụi, giao cảm giữa chủ thể trữ tình với người xứ Huế. Nhưng tại sao lại khao khát? Vì chủ thể trữ tình - tác giả - biết mình chỉ còn lại những ngày tháng ít ỏi trong quỹ đời hạn hẹp nên nỗi khao khát ấy cũng thấm đượm nỗi buồn.
⟶ Từ những hình ảnh trong khổ thơ có thể thấy giữa chủ thể trữ tình có tình cảm yêu thương và khát khao gần gụi, khát khao giao cảm dành cho em song tình cảm ấy như đang mỗi lúc một mất mát, chia lìa trong xa xôi, hư ảo.
- Khổ thơ có nhiều hình ảnh:
+ Hình ảnh khách đường xa trở đi trở lại hai lần trong dòng thơ với âm tiết cuối cùng là một âm mở (a), đẩy hình ảnh khách mỗi lúc một xa hơn so với tầm nhìn, tầm với của chủ thể trữ tình.
+ Đến dòng thơ thứ hai, có vẻ khách đã hiện lên rõ hơn, là em nhưng lập tức em lại xuất hiện trong hình ảnh áo (...) trắng quá. Huế nắng lắm mưa nhiều nên sương khói cũng nhiều, mà sương khói toàn màu trắng, lại hư ảo, huyền hoặc nên khi em mặc áo trắng thì chính em cũng bị nhoè mờ trong khói sương hư hoặc ấy.
⟶ Chủ thể trữ tình mơ, khao khát được gặp gỡ người xứ Huế, gặp lại em và vì khao khát nên cố công tìm kiếm hình ảnh con người (khách, em) nhưng cả khách và em đều huyền hoặc, hư ảo, xa xôi quá. Chủ thể trữ tình càng khao khát được đến gần, được chạm vào người xứ Huế (khao khát được giao cảm) thì lại người xứ Huế lại càng vuột khỏi tầm với, lại càng xa xôi. Nỗi khao khát như chen với niềm vô vọng.
+ Ai1 - ai2: có nhiều cách hiểu
• Ai1 - ai2: người xứ Huế - chủ thể trữ tình. Câu thơ được hiểu là người xứ Huế có biết được tình cảm đậm đà mà chủ thể trữ tình dành cho người xứ Huế không?
• Ai1 - ai2: chủ thể trữ tình - người xứ Huế. Câu thơ được hiểu là chủ thể trữ tình làm sao biết được người xứ Huế có tình cảm đậm đà với mình không?
⟶ Cả hai cách hiểu đều thể hiện niềm khát khao được gắn bó, yêu thương, gần gụi, giao cảm giữa chủ thể trữ tình với người xứ Huế. Nhưng tại sao lại khao khát? Vì chủ thể trữ tình - tác giả - biết mình chỉ còn lại những ngày tháng ít ỏi trong quỹ đời hạn hẹp nên nỗi khao khát ấy cũng thấm đượm nỗi buồn.
⟶ Từ những hình ảnh trong khổ thơ có thể thấy giữa chủ thể trữ tình có tình cảm yêu thương và khát khao gần gụi, khát khao giao cảm dành cho em song tình cảm ấy như đang mỗi lúc một mất mát, chia lìa trong xa xôi, hư ảo.
Câu 4 [561576]: Xác định chủ thể của ba câu hỏi trong bài thơ. Ba câu hỏi này thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của người hỏi?
- Chủ thể của ba câu hỏi trong bài thơ:
+ Câu hỏi thứ nhất: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? có thể là lời của cô gái thôn Vĩ hoặc là lời của chàng trai - chủ thể trữ tình.
+ Câu hỏi thứ hai: Có chở trăng về kịp tối nay? là lời của chàng trai - chủ thể trữ tình.
+ Câu hỏi thứ hai: Ai biết tình ai có đậm đà? là lời của chàng trai - chủ thể trữ tình.
- Tình cảm, cảm xúc gì của người hỏi được thể hiện qua mỗi câu hỏi:
+ Câu hỏi thứ nhất:
• Câu hỏi và cũng là lời mời mọc, pha chút trách nhẹ của cô gái thôn Vĩ; thể hiện tình cảm thân mật, trân trọng, quý mến.
Hoặc:
• Lời của chính chủ thể trữ tình (chàng trai) tự nhắc mình lâu rồi không về chơi thôn Vĩ và hãy về đi.
+ Câu hỏi thứ hai niềm khát khao sự sống, khát khao tình yêu trong vô vọng, trong tuyệt vọng, trong chờ trông khắc khoải của nhân vật trữ tình.
+ Câu hỏi thứ ba thể hiện niềm khát khao được gắn bó, yêu thương, gần gụi, giao cảm giữa nhân vật trữ tình với người xứ Huế.
+ Câu hỏi thứ nhất: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? có thể là lời của cô gái thôn Vĩ hoặc là lời của chàng trai - chủ thể trữ tình.
+ Câu hỏi thứ hai: Có chở trăng về kịp tối nay? là lời của chàng trai - chủ thể trữ tình.
+ Câu hỏi thứ hai: Ai biết tình ai có đậm đà? là lời của chàng trai - chủ thể trữ tình.
- Tình cảm, cảm xúc gì của người hỏi được thể hiện qua mỗi câu hỏi:
+ Câu hỏi thứ nhất:
• Câu hỏi và cũng là lời mời mọc, pha chút trách nhẹ của cô gái thôn Vĩ; thể hiện tình cảm thân mật, trân trọng, quý mến.
Hoặc:
• Lời của chính chủ thể trữ tình (chàng trai) tự nhắc mình lâu rồi không về chơi thôn Vĩ và hãy về đi.
+ Câu hỏi thứ hai niềm khát khao sự sống, khát khao tình yêu trong vô vọng, trong tuyệt vọng, trong chờ trông khắc khoải của nhân vật trữ tình.
+ Câu hỏi thứ ba thể hiện niềm khát khao được gắn bó, yêu thương, gần gụi, giao cảm giữa nhân vật trữ tình với người xứ Huế.
Câu 5 [561577]: Nhận xét về sự thay đổi của ngoại cảnh và cảm xúc của chủ thể trữ tình qua ba khổ thơ.
Sự thay đổi của ngoại cảnh và cảm xúc của chủ thể trữ tình qua ba khổ thơ
- Ngoại cảnh: Từ bình minh thôn Vĩ (khổ 1) đến sông nước sông Hương trong đêm trăng (khổ 2) và đến xứ Huế mờ sương (khổ 3). Khung cảnh chuyển đổi từ thực đến ảo, mộng, huyền hoặc.
- Cảm xúc của nhân vật trữ tình: Từ yêu mến, tha thiết, khao khát trở lại thôn Vĩ (khổ 1) đến nỗi buồn và niềm đau cô lẻ (khổ 2) và đến khát khao giao cảm với cảnh và người xứ Huế trong tuyệt vọng (khổ 3).
- Ngoại cảnh: Từ bình minh thôn Vĩ (khổ 1) đến sông nước sông Hương trong đêm trăng (khổ 2) và đến xứ Huế mờ sương (khổ 3). Khung cảnh chuyển đổi từ thực đến ảo, mộng, huyền hoặc.
- Cảm xúc của nhân vật trữ tình: Từ yêu mến, tha thiết, khao khát trở lại thôn Vĩ (khổ 1) đến nỗi buồn và niềm đau cô lẻ (khổ 2) và đến khát khao giao cảm với cảnh và người xứ Huế trong tuyệt vọng (khổ 3).
Câu 6 [561578]: Yếu tố siêu thực trong bài thơ thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh nào? Phân tích ý nghĩa của những từ ngữ, hình ảnh đó.
Yếu tố siêu thực trong bài thơ được thể hiện qua:
- Một số từ ngữ, hình ảnh như: Gió theo lối gió, mây đường mây; thuyền chở trăng. Hình ảnh Gió theo lối gió, mây đường mây tô đậm cảm giác về sự chia li, chia lìa, lạc hướng; hình ảnh con thuyền chở trăng đưa đến cảm giác về cái hư ảo, huyền hoặc, không thực trong tâm tưởng của chủ thể trữ tình.
- Sự kết hợp của những hình ảnh xa nhau tạo liên tưởng bất ngờ: Hình ảnh vườn buổi sớm (khổ 1), bến sông đêm khuya (khổ 2) và một nơi chốn “ở đây” không xác định (khổ 3). Chuỗi hình ảnh này đi từ hiệc thực đến không thực, khiến chúng ta hình dung chủ thể trữ tình như mỗi lúc một chia lìa, một xa vời khỏi cuộc đời trần thế.
- Một số từ ngữ, hình ảnh như: Gió theo lối gió, mây đường mây; thuyền chở trăng. Hình ảnh Gió theo lối gió, mây đường mây tô đậm cảm giác về sự chia li, chia lìa, lạc hướng; hình ảnh con thuyền chở trăng đưa đến cảm giác về cái hư ảo, huyền hoặc, không thực trong tâm tưởng của chủ thể trữ tình.
- Sự kết hợp của những hình ảnh xa nhau tạo liên tưởng bất ngờ: Hình ảnh vườn buổi sớm (khổ 1), bến sông đêm khuya (khổ 2) và một nơi chốn “ở đây” không xác định (khổ 3). Chuỗi hình ảnh này đi từ hiệc thực đến không thực, khiến chúng ta hình dung chủ thể trữ tình như mỗi lúc một chia lìa, một xa vời khỏi cuộc đời trần thế.
Câu 7 [561579]: Nêu chủ đề của bài thơ. Những biện pháp nghệ thuật nào góp phần thể hiện chủ đề đó?
- Chủ đề của bài thơ: Vẻ đẹp của khung cảnh Vĩ Dạ cùng tình yêu nhân vật trữ tình - tác giả - dành cho cảnh và người thôn Vĩ nói riêng và xứ Huế nói chung.
- Những biện pháp nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề: Câu hỏi tu từ, phép điệp, so sánh, hoán dụ,...
- Những biện pháp nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề: Câu hỏi tu từ, phép điệp, so sánh, hoán dụ,...
Bài tập viết
Câu 8 [561580]: Phân tích một khổ thơ mà anh/chị ấn tượng nhất trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn thơ được lựa chọn để phân tích
* Phân tích khổ thơ ấn tượng nhất được lựa chọn
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có ba khổ thơ, mỗi khổ thơ có thể coi là một bức tranh xinh xắn về cảnh và tình:
- Khổ một: Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết.
- Khổ hai: Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa.
- Khổ ba: Nỗi niềm thôn Vĩ.
Học sinh lựa chọn một khổ thơ mà mình ấn tượng nhất, phân tích để làm nổi bật vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của khổ thơ.
Chẳng hạn:
Khổ 1
- Câu 1: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
+ Hình thức: câu hỏi tu từ, mục đích không phải chỉ để hỏi.
+ Có hai cách hiểu về chủ thể của lời hỏi:
• Lời của cô gái thôn Vĩ:
o Trách nhẹ: cô gái trách chàng trai (anh) là sao lâu rồi không về chơi thôn Vĩ.
o Lời mời: cô gái thôn Vĩ mời chàng trai (anh) về chơi thôn Vĩ.
• Lời của chính nhân vật trữ tình (chàng trai): Lời tự nhắc của chàng trai rằng lâu rồi anh không về chơi thôn Vĩ và hãy về đi.
+ Về chơi khác với “về thăm”:
• “Về thăm”: khách sáo.
• Về chơi: tình cảm gần gũi, gắn bó, thân mật giữa nhân vật trữ tình anh với người thôn Vĩ.
⟶ Câu hỏi thể hiện lòng mong mỏi tha thiết/ khao khát được trở lại thôn Vĩ (của chủ thể trữ tình - tác giả).
Bởi thế nên, ngay lập tức, sang câu thơ thứ hai, chủ thể trữ tình đã thực hiện hành trình trở lại thôn Vĩ (dù chỉ trong tưởng tượng).
- Ba câu sau: Hành trình trở lại thôn Vĩ trong hình dung tưởng tượng của nhân vật trữ tình + Cảnh (câu 2 + 3):
• Cảnh nhà vườn thôn Vĩ: Cảnh được nhìn theo điểm nhìn từ cao xa xuống thấp gần. Chính sự di chuyển của điểm nhìn cho phép người đọc hình dung về bước chân từ xa lại gần của chủ thể trữ tình trong hành trình trở về thôn Vĩ (dù chỉ là tưởng tượng).
• Cảnh tượng mà chủ thể trữ tình nhìn thấy trước tiên (khi đứng từ xa ngước nhìn lên cao) là hình ảnh những đọt cau non trong nắng sớm.
o Điệp từ nắng: gợi tả đặc điểm thời tiết đặc trưng của khí hậu miền Trung (nắng nhiều, nắng chan hoà, nắng từ rất sớm).
o Hình ảnh nắng hàng cau: không phải là một loại nắng mà chỉ đơn thuần là sự giao thoa của hai hình ảnh nắng - hàng cau. Đó chính là hình ảnh nắng sớm chiếu rọi qua các tàu cau, đọt cau non, nắng xuyên qua những giọt sương mai còn đọng trên tàu cau, đọt cau và gợi vẻ đẹp lung linh, thanh khiết của buổi sớm bình minh.
• Khi bước chân của chủ thể trữ tình đến gần hơn với khu nhà vườn thì hình ảnh hiện lên lúc này là hình ảnh của khu vườn được chăm sóc, tỉa tót hết sức kĩ lưỡng.
o Đại từ phiếm chỉ ai khiến chủ nhân của khu vườn không được xác định rõ ràng. Nhưng chính cái không rõ ràng này lại là phông nền để nhấn một vẻ đẹp rõ ràng hơn: vẻ đẹp của cây lá trong vườn.
o Cụm từ mướt quá: thể hiện cảm xúc ngạc nhiên/ kinh ngạc và thái độ ngợi ca của chủ thể trữ tình trước vẻ đẹp sạch sẽ, láng bóng (“mướt”) của cây lá.
o So sánh xanh như ngọc: so sánh cách điệu. Sắc xanh được tô nhấn thêm bởi vẻ đẹp sang trọng, thanh quý (thông qua hình ảnh so sánh ngọc).
⟶ Hai câu thơ gợi tả vẻ đẹp sạch sẽ, sang trọng của cây lá trong khu nhà vườn Vĩ Dạ; đồng thời thể hiện sự ghi nhớ/ khắc ghi của chủ thể trữ tình (bởi chủ thể trữ tình chỉ đang trở về Vĩ Dạ trong tưởng tượng) về thiên nhiên thôn Vĩ, tình yêu, sự gắn bó của chủ thể trữ tình với cảnh thôn Vĩ.
+ Người (câu 4): Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
• Mặt chữ điền: hoán dụ gợi tả vẻ đẹp của con người Vĩ Dạ.
o Gợi khuôn mặt vuông vức, gợi vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu.
o Hình ảnh con người không hiện lên rõ nét, cụ thể mà chỉ thấp thoáng sau lá trúc gợi vẻ đẹp đặc trưng trong tính cách của người Huế: sự ý nhị, kín đáo.
• Câu thơ còn thể hiện tình cảm yêu mến, niềm nhớ nhung của chủ thể trữ tình đối với con người xứ Huế.
* Đánh giá
- Khẳng định vẻ đẹp của khổ thơ cùng tài năng nghệ thuật của tác giả.
Chẳng hạn: Khổ thơ thứ nhất.
+ Gợi tả vẻ đẹp của cảnh và người thôn Vĩ.
+ Bộc lộ tình cảm yêu mến, niềm tha thiết được trở lại thôn Vĩ của chủ thể trữ tình.
- Khái quát ấn tượng, cảm xúc sâu sắc nhất dành cho đoạn thơ đó.
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn thơ được lựa chọn để phân tích
* Phân tích khổ thơ ấn tượng nhất được lựa chọn
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có ba khổ thơ, mỗi khổ thơ có thể coi là một bức tranh xinh xắn về cảnh và tình:
- Khổ một: Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết.
- Khổ hai: Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa.
- Khổ ba: Nỗi niềm thôn Vĩ.
Học sinh lựa chọn một khổ thơ mà mình ấn tượng nhất, phân tích để làm nổi bật vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của khổ thơ.
Chẳng hạn:
Khổ 1
- Câu 1: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
+ Hình thức: câu hỏi tu từ, mục đích không phải chỉ để hỏi.
+ Có hai cách hiểu về chủ thể của lời hỏi:
• Lời của cô gái thôn Vĩ:
o Trách nhẹ: cô gái trách chàng trai (anh) là sao lâu rồi không về chơi thôn Vĩ.
o Lời mời: cô gái thôn Vĩ mời chàng trai (anh) về chơi thôn Vĩ.
• Lời của chính nhân vật trữ tình (chàng trai): Lời tự nhắc của chàng trai rằng lâu rồi anh không về chơi thôn Vĩ và hãy về đi.
+ Về chơi khác với “về thăm”:
• “Về thăm”: khách sáo.
• Về chơi: tình cảm gần gũi, gắn bó, thân mật giữa nhân vật trữ tình anh với người thôn Vĩ.
⟶ Câu hỏi thể hiện lòng mong mỏi tha thiết/ khao khát được trở lại thôn Vĩ (của chủ thể trữ tình - tác giả).
Bởi thế nên, ngay lập tức, sang câu thơ thứ hai, chủ thể trữ tình đã thực hiện hành trình trở lại thôn Vĩ (dù chỉ trong tưởng tượng).
- Ba câu sau: Hành trình trở lại thôn Vĩ trong hình dung tưởng tượng của nhân vật trữ tình + Cảnh (câu 2 + 3):
• Cảnh nhà vườn thôn Vĩ: Cảnh được nhìn theo điểm nhìn từ cao xa xuống thấp gần. Chính sự di chuyển của điểm nhìn cho phép người đọc hình dung về bước chân từ xa lại gần của chủ thể trữ tình trong hành trình trở về thôn Vĩ (dù chỉ là tưởng tượng).
• Cảnh tượng mà chủ thể trữ tình nhìn thấy trước tiên (khi đứng từ xa ngước nhìn lên cao) là hình ảnh những đọt cau non trong nắng sớm.
o Điệp từ nắng: gợi tả đặc điểm thời tiết đặc trưng của khí hậu miền Trung (nắng nhiều, nắng chan hoà, nắng từ rất sớm).
o Hình ảnh nắng hàng cau: không phải là một loại nắng mà chỉ đơn thuần là sự giao thoa của hai hình ảnh nắng - hàng cau. Đó chính là hình ảnh nắng sớm chiếu rọi qua các tàu cau, đọt cau non, nắng xuyên qua những giọt sương mai còn đọng trên tàu cau, đọt cau và gợi vẻ đẹp lung linh, thanh khiết của buổi sớm bình minh.
• Khi bước chân của chủ thể trữ tình đến gần hơn với khu nhà vườn thì hình ảnh hiện lên lúc này là hình ảnh của khu vườn được chăm sóc, tỉa tót hết sức kĩ lưỡng.
o Đại từ phiếm chỉ ai khiến chủ nhân của khu vườn không được xác định rõ ràng. Nhưng chính cái không rõ ràng này lại là phông nền để nhấn một vẻ đẹp rõ ràng hơn: vẻ đẹp của cây lá trong vườn.
o Cụm từ mướt quá: thể hiện cảm xúc ngạc nhiên/ kinh ngạc và thái độ ngợi ca của chủ thể trữ tình trước vẻ đẹp sạch sẽ, láng bóng (“mướt”) của cây lá.
o So sánh xanh như ngọc: so sánh cách điệu. Sắc xanh được tô nhấn thêm bởi vẻ đẹp sang trọng, thanh quý (thông qua hình ảnh so sánh ngọc).
⟶ Hai câu thơ gợi tả vẻ đẹp sạch sẽ, sang trọng của cây lá trong khu nhà vườn Vĩ Dạ; đồng thời thể hiện sự ghi nhớ/ khắc ghi của chủ thể trữ tình (bởi chủ thể trữ tình chỉ đang trở về Vĩ Dạ trong tưởng tượng) về thiên nhiên thôn Vĩ, tình yêu, sự gắn bó của chủ thể trữ tình với cảnh thôn Vĩ.
+ Người (câu 4): Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
• Mặt chữ điền: hoán dụ gợi tả vẻ đẹp của con người Vĩ Dạ.
o Gợi khuôn mặt vuông vức, gợi vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu.
o Hình ảnh con người không hiện lên rõ nét, cụ thể mà chỉ thấp thoáng sau lá trúc gợi vẻ đẹp đặc trưng trong tính cách của người Huế: sự ý nhị, kín đáo.
• Câu thơ còn thể hiện tình cảm yêu mến, niềm nhớ nhung của chủ thể trữ tình đối với con người xứ Huế.
* Đánh giá
- Khẳng định vẻ đẹp của khổ thơ cùng tài năng nghệ thuật của tác giả.
Chẳng hạn: Khổ thơ thứ nhất.
+ Gợi tả vẻ đẹp của cảnh và người thôn Vĩ.
+ Bộc lộ tình cảm yêu mến, niềm tha thiết được trở lại thôn Vĩ của chủ thể trữ tình.
- Khái quát ấn tượng, cảm xúc sâu sắc nhất dành cho đoạn thơ đó.
Câu 9 [561581]: “Đây thôn Vĩ Dạ” vừa đem đến cho người đọc bức tranh thiên nhiên đặc trưng cho hoa cỏ núi sông vùng miền Trung nước Việt, vừa cho người ta thấy được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu thời Thơ mới.
Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến trên?
Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến trên?
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, ý kiến
* Giải thích ý kiến
- Đây thôn Vĩ Dạ đem đến cho người đọc bức tranh thiên nhiên đặc trưng cho hoa cỏ núi sông vùng miền Trung nước Việt: Tất cả những gì là hồn cốt của xứ Huế mộng mơ được Hàn Mặc Tử khắc ghi trong vẻ đẹp của thôn Vĩ và sông Hương.
+ Thôn Vĩ hiện lên với cây lá xanh như ngọc lấp lánh trong nắng mai; người thôn Vĩ chân tình, phúc hậu; thiên nhiên và con người hài hòa với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.
+ Sông Hương phô bày vẻ đẹp êm đềm, thơ mộng dưới ánh trăng vàng và con thuyền đậu trên bến sông trăng để chở trăng về một nơi nào đó trong mơ. Phải vô cùng yêu thiên nhiên và con người của đất nước mới viết được những câu thơ tuyệt đẹp và có hồn như thế.
+ Xứ Huế nắng lắm mưa nhiều, sương khói cũng nhiều nên không gian hư ảo, huyền hoặc sương khói mờ nhân ảnh.
- Đây thôn Vĩ Dạ cho người ta thấy được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu thời Thơ mới:
+ Đây là một bài thơ về tình yêu. Tình yêu của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc là có thật (dù tình yêu của Hàn Mặc Tử chỉ là đơn phương). Hàn Mặc Tử đã viết Đây thôn Vĩ Dạ để tặng Hoàng Cúc như một tiếng lòng tri ân dành cho người con gái xứ Huế. Song gắn liền với tình cảm riêng tư ấy còn là những tình cảm lớn lao và rất đỗi trong trẻo - tình yêu thiên nhiên, tình yêu xứ Huế, tình yêu quê hương đất nước. Những tình cảm này không riêng rẽ tách rời mà quyện hoà với nhau trong từng chi tiết, hình ảnh thơ, trong mỗi dòng thơ và suốt dọc bài thơ.
+ Sự vận động tâm tư của nhân vật trữ tình trong bài thơ, từ cảnh đẹp thôn Vĩ, nơi có người mà nhà thơ thương mến, vẻ thơ mộng của sông Hương, dòng sông làm tăng thêm vẻ đẹp của thôn Vĩ, đến nét huyền ảo của cô gái thôn Vĩ, người con gái áo trắng trong sương khói mơ mộng, đều hướng đến điểm hẹn với câu hỏi xao xuyến của tình yêu: Ai biết tình ai có đậm đà?... (Lưu ý: dù hiểu cặp đại từ phiếm chỉ ai1 - ai2 trong bài thơ như thế nào đi chăng nữa, cũng cần thấy ở đây sự gắn kết giữa chủ thể trữ tình - tác giả với em, với người xứ Huế, với Vĩ Dạ, với xứ Huế, với cuộc đời. Theo đó, tình yêu ở đây không chỉ là tình cảm trai gái mà còn là tình yêu thiên nhiên, tình yêu xứ sở, tình yêu cuộc đời,...)
* Bình luận ý kiến
- Ý kiến thể hiện cảm nhận sâu sắc, tinh tế về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
- Sức hấp dẫn của Đây thôn Vĩ Dạ cũng nằm trong chính vẻ đẹp đó.
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, ý kiến
* Giải thích ý kiến
- Đây thôn Vĩ Dạ đem đến cho người đọc bức tranh thiên nhiên đặc trưng cho hoa cỏ núi sông vùng miền Trung nước Việt: Tất cả những gì là hồn cốt của xứ Huế mộng mơ được Hàn Mặc Tử khắc ghi trong vẻ đẹp của thôn Vĩ và sông Hương.
+ Thôn Vĩ hiện lên với cây lá xanh như ngọc lấp lánh trong nắng mai; người thôn Vĩ chân tình, phúc hậu; thiên nhiên và con người hài hòa với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.
+ Sông Hương phô bày vẻ đẹp êm đềm, thơ mộng dưới ánh trăng vàng và con thuyền đậu trên bến sông trăng để chở trăng về một nơi nào đó trong mơ. Phải vô cùng yêu thiên nhiên và con người của đất nước mới viết được những câu thơ tuyệt đẹp và có hồn như thế.
+ Xứ Huế nắng lắm mưa nhiều, sương khói cũng nhiều nên không gian hư ảo, huyền hoặc sương khói mờ nhân ảnh.
- Đây thôn Vĩ Dạ cho người ta thấy được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu thời Thơ mới:
+ Đây là một bài thơ về tình yêu. Tình yêu của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc là có thật (dù tình yêu của Hàn Mặc Tử chỉ là đơn phương). Hàn Mặc Tử đã viết Đây thôn Vĩ Dạ để tặng Hoàng Cúc như một tiếng lòng tri ân dành cho người con gái xứ Huế. Song gắn liền với tình cảm riêng tư ấy còn là những tình cảm lớn lao và rất đỗi trong trẻo - tình yêu thiên nhiên, tình yêu xứ Huế, tình yêu quê hương đất nước. Những tình cảm này không riêng rẽ tách rời mà quyện hoà với nhau trong từng chi tiết, hình ảnh thơ, trong mỗi dòng thơ và suốt dọc bài thơ.
+ Sự vận động tâm tư của nhân vật trữ tình trong bài thơ, từ cảnh đẹp thôn Vĩ, nơi có người mà nhà thơ thương mến, vẻ thơ mộng của sông Hương, dòng sông làm tăng thêm vẻ đẹp của thôn Vĩ, đến nét huyền ảo của cô gái thôn Vĩ, người con gái áo trắng trong sương khói mơ mộng, đều hướng đến điểm hẹn với câu hỏi xao xuyến của tình yêu: Ai biết tình ai có đậm đà?... (Lưu ý: dù hiểu cặp đại từ phiếm chỉ ai1 - ai2 trong bài thơ như thế nào đi chăng nữa, cũng cần thấy ở đây sự gắn kết giữa chủ thể trữ tình - tác giả với em, với người xứ Huế, với Vĩ Dạ, với xứ Huế, với cuộc đời. Theo đó, tình yêu ở đây không chỉ là tình cảm trai gái mà còn là tình yêu thiên nhiên, tình yêu xứ sở, tình yêu cuộc đời,...)
* Bình luận ý kiến
- Ý kiến thể hiện cảm nhận sâu sắc, tinh tế về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
- Sức hấp dẫn của Đây thôn Vĩ Dạ cũng nằm trong chính vẻ đẹp đó.