Câu hỏi hướng dẫn đọc
Câu 1 [561601]: Bài thơ Vọng nguyệt được sáng tác trong hoàn cảnh nào? Hoàn cảnh ấy có ý nghĩa gì đối với việc tìm hiểu bài thơ?
- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Vọng nguyệt:
Ngày 28-01-1941, sau ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày 13-8-1942, Nguyễn Ái Quốc - lúc này lấy tên là Hồ Chí Minh - từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Sau nửa tháng đi bộ, ngày 27-8-1942, khi đến thị trấn Túc Vinh, một thị trấn thuộc huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Người bị chính quyền địa phương bắt giữ vì bị tình nghi là “Hán gian”. Chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm và đày đoạ Người trong mười ba tháng, giải qua giải lại gần mười tám nhà giam của mười ba huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đoạ cực khổ hơn một năm trời. Trong những ngày đó, Người đã viết Ngục trung nhật kí (“Nhật kí trong tù”) bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Một trong số đó là bài Vọng nguyệt (“Ngắm trăng”).
- Trong hoàn cảnh lao tù khổ ải, thi hứng vẫn đến với Hồ Chí Minh khiến một “lung nhân” (người tù) luôn mang tâm thế của một “thi nhân” (nhà thơ). Điều đó cho phép người đọc nghĩ đến tâm hồn đầy chất “thép”, chất thơ của nhân vật trữ tình - người tù cộng sản - Hồ Chí Minh.
Câu 2 [561602]: Nhận biết nghĩa của một số yếu tố Hán Việt thông dụng có trong phần phiên âm (ngục, trung, vô, tửu, hoa, nhân, hướng, song, tiền, khán, minh, nguyệt, thi, gia).
Các yếu tố Hán Việt được dẫn ra trong phần Phiên âm: ngục (“tù ngục”), trung (“trong”), (“không”), tửu (“rượu”), hoa (“bông hoa”), nhân (“người”), hướng (“hướng tới”), song (“cửa sổ”), tiền (“phía trước”), khán (“nhìn”), minh (“sáng”), nguyệt (“trăng”), thi (“thơ”), gia (“nhà”).
Câu 3 [561603]: Hai câu thơ đầu thể hiện tâm trạng gì của người tù? Tâm trạng ấy cho thấy tác giả là người như thế nào? (Chú ý phần Dịch nghĩa của hai dòng thơ đầu; giọng điệu ở dòng thơ thứ hai: Đối thử lương tiêu nại nhược hà? của phần Phiên âm)
- Xưa, ngắm trăng (thưởng nguyệt) là thú vui tao nhã của các bậc tao nhân mặc khách. Một cuộc thưởng trăng mãn nguyện, hẳn phải có... trăng, có tao nhân. Và cuộc thưởng lãm ấy hẳn sẽ thi vị, lãng mạn hơn, nếu có chút rượu, chút hoa, có men say và cái đẹp.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ Vọng nguyệt cũng ngắm trăng nhưng lại ở một bối cảnh thật đặc biệt: ngục trung (“trong tù”). Hoàn cảnh ấy hẳn sẽ chi phối cảm xúc, tâm thế người thường. Nhưng với nhân vật trữ tình - người tù cộng sản - song sắt nhà tù chỉ có thể giam cầm được thân xác mà không thể giam giữ tinh thần, tâm hồn Người. Sự rung động trước cái đẹp được thể hiện trong lời tự hỏi nại nhược hà? (“biết làm thế nào?”). Lời thơ bộc lộ rõ nét xao xuyến, xốn xang, bối rối trong tâm hồn nhạy cảm trước cái đẹp của nhân vật trữ tình. Trước cảnh đêm trăng đẹp quá, nhân vật trữ tình - người tù - khao khát được thưởng trăng một cách trọn vẹn và lấy làm tiếc vì không có rượu và hoa. Việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh tù ngục khắc nghiệt ấy đã cho thấy người tù này không hề vướng bận bởi những ách nặng về vật chất, tâm hồn vẫn tự do, vẫn ung dung, vẫn thèm được tận hưởng cảnh đẹp.
- Tâm trạng ấy cho thấy nhân vật trữ tình - tác giả - là người nhạy cảm, giàu cảm xúc; yêu cái đẹp; có tâm hồn lãng mạn, tinh tế, đậm chất nghệ sĩ,...
Câu 4 [561604]: Phân tích vẻ đẹp nội dung và hình thức của hai câu thơ cuối.
Hai dòng thơ sau
- Về hình thức, cặp câu thơ có kết cấu đăng đối đáng chú ý, đối trong từng câu và đối hai câu với nhau:
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Ở mỗi câu, chữ chỉ người (nhân, thi gia) và chữ chỉ trăng (nguyệt) đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song); mặt khác, hai câu còn tạo thành một cặp đối, cũng nhân nguyệt, minh nguyệtthi gia đối với nhau. Với kết cấu đó, bài thơ có một hiệu quả nghệ thuật riêng đáng kể.
- Về nội dung:
+ Như đã khẳng định bên trên, hai câu đều thấy giữa nhân nguyệt (ngoài trời) có song sắt nhà tù chắn ở giữa. Nhưng rõ ràng con người đã thả tâm hồn vượt ra ngoài cửa sắt nhà tù để tìm đến ngắm trăng sáng (khán minh nguyệt), tức là để giao hoà với vầng trăng tự do đang toả mộng giữa trời. Có thể coi đó là một cuộc “vượt ngục” về tinh thần của người tù cộng sản Hồ Chí Minh và hẳn nhiên đó không phải là lần vượt ngục duy nhất của Bác để tìm đến vầng trăng tri kỉ. Trong bài Trung thu, Bác cũng đã để “lòng theo vời vợi mảnh trăng thu” (Tâm tuỳ thu nguyệt cộng du du).
Đáp lại tình cảm của con người, vầng trăng cũng vượt qua song sắt nhà tù để tìm đến ngắm nhà thơ (khán thi gia) trong tù. Vậy là cả người và trăng đều chủ động tìm đến giao hoà cùng nhau, ngắm nhau say đắm. Cấu trúc đối của hai câu chữ Hán đã làm nổi bật tình cảm nồng nhiệt của cả người và trăng. Điều đó khiến chúng ta nghĩ đến sự gắn bó, thân thiết, đến tình cảm tri âm tri kỉ của Bác với vầng trăng nói riêng và lớn hơn là với thiên nhiên.
+ Hai câu thơ còn cho thấy sức mạnh tinh thần kì diệu của người chiến sĩ – thi sĩ ấy. Phía này là nhà tù đen tối, là hiện thực tàn bạo, còn ngoài kia là vầng trăng thơ mộng, là thế giới của cái đẹp, là bầu trời tự do, lãng mạn say người; ở giữa hai thế giới đối cực đó là cửa sắt của nhà tù. Nhưng với cuộc ngắm trăng này, song sắt nhà tù đã trở nên bất lực, vô nghĩa trước những tâm hồn tri âm tri kỉ tìm đến với nhau. Qua bài thơ, người đọc cảm thấy người tù cách mạng ấy dường như không chút bận tâm về những cùm xích, đói rét, muỗi rệp, ghẻ lở,... của chế độ nhà tù khủng khiếp, cũng bất chấp song sắt thô bạo của nhà tù, để tâm hồn bay bổng tìm đến “đối diện đàm tâm” với vầng trăng tri âm.
Trở lên, có thể thấy hai dòng cuối thể hiện vẻ đẹp ung dung tự tại của chủ thể trữ tình: quên cảnh ngục tù, vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn để ngắm vầng trăng sáng. Và tưởng tượng trăng cũng như say sưa ngắm nhà thơ qua khe cửa nhà tù. Trong tâm hồn nhà thơ, trăng và người trở thành tri kỉ, cùng hướng đến nhau, cùng ngắm (khán) nhìn nhau bất chấp ngoại cảnh bị giam cầm, cản trở,... Cánh cửa ngục tù chỉ giam được thể xác, không thể giam nổi trí óc và tâm hồn yêu thiên nhiên say đắm của nhà thơ,... Chất thơ, chất “thép” bởi vậy quyện hoà với nhau, bộc lộ tâm hồn thi sĩ - chiến sĩ trong người tù cộng sản Hồ Chí Minh.
Câu 5 [561605]: Theo anh/chị, bài thơ thể hiện đặc điểm gì trong phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh?
Bài thơ thể hiện một số đặc điểm trong phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh:
- Hình thức: viết bằng chữ Hán; theo thể tứ tuyệt Đường luật; câu chữ cô đọng, hàm súc; rất gần gũi với những bài thơ thời Đường, thời Tống nhưng cũng rất hiện đại với tử thơ độc đáo, nhiều hình ảnh gợi cảm, sáng tạo....
- Về nội dung: bài thơ phản ánh tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, tinh tế, lãng mạn nhưng cũng thể hiện một ý chí kiên cường và nhân cách cao đẹp của một bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng” trong hoàn cảnh cực khổ chốn lao tù,...
Câu 6 [561606]: Anh/Chị thích nhất câu thơ hoặc hình ảnh nào trong bài thơ Vọng nguyệt? Vì sao?
Học sinh bày tỏ cảm nhận của minh về câu thơ/ hình ảnh yêu thích nhất trong bài thơ Vọng nguyệt, đồng thời lí giải vì sao. Chẳng hạn, câu thơ “nhân hướng song tiền khán minh nguyệt”; lí do: Câu thơ thể hiện rõ nét chất thơ - chất “thép”, tâm hồn thi sĩ - chiến sĩ của người tù cộng sản Hồ Chí Minh...
Bài tập viết
Câu 7 [561607]: Viết đoạn văn (khoảng 8 - 10 dòng) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vẻ đẹp nhân văn của bài thơ Vọng nguyệt (“Ngắm trăng” - Hồ Chí Minh).
Đoạn văn (khoảng 8 - 10 dòng) trình bày suy nghĩ về vẻ đẹp nhân văn của bài thơ Vọng nguyệt (“Ngắm trăng” - Hồ Chí Minh) có thể được triển khai theo hướng:
- Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một người tù cộng sản, đang trong hoàn cảnh bị giam cầm (thân thể tại ngục trung). Trong hoàn cảnh đó, rất nhiều người thiếu ý chí, nghị lực sẽ buông xuôi, chán nản, thậm chí đầu hàng.
- Người tù cộng sản trong bài thơ Vọng nguyệt không những không bị khuất phục bởi hoàn cảnh mà còn mở rộng tâm hồn, rung động, xúc động, đón nhận cái đẹp (vầng trăng) và nâng niu, trân trọng, thưởng lãm cái đẹp (khán minh nguyệt).
Cảm xúc này, tinh thần này chúng ta cũng bắt gặp trong nhiều sáng tác khác trong Ngục trung nhật kí như Vãn cảnh (“Cảnh chiều hôm”), Mộ (“Chiều tối”),...