Câu hỏi hướng dẫn đọc
Câu 1 [561642]: Dựa vào hình thức trình bày của văn bản và sự xuất hiện luân phiên của các từ xưng hô mình ta, hãy xác định kết cấu của tác phẩm. Kết cấu đó gợi cho anh/chị liên tưởng đến thể loại nào của văn học dân gian?
- Đoạn thơ được kết cấu theo lối đối đáp, gồm lời người đi và kẻ ở trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến sau bao năm gắn bó, sẻ chia. Trong đó, phần in nghiêng là lời người ở lại ướm hỏi, gợi nhắc kẻ lên đường còn các đoạn thơ in đứng còn lại là lời tâm tình, nhắn nhủ, ôn lại những kỉ niệm sâu đậm của một thời trong lòng người ra đi.
+ Kết cấu của tác phẩm không chỉ là lời hỏi, lời đáp mà còn là sự hô ứng, đồng vọng. Lời đáp không chỉ nhằm giải đáp cho những điều đặt ra của lời hỏi mà còn là sự tán đồng, mở rộng, cụ thể và làm phong phú thêm những ý tình trong lời hỏi, có khi trở thành lời đồng vọng ngân vang những tình cảm chung.
+ Nhìn sâu hơn nữa vào cấu trúc của thi phẩm, ta sẽ còn thấy qua lớp đối thoại của bố cục bên ngoài là lời độc thoại bên trong của nhân vật trữ tình - người đang đắm mình trong những hoài niệm ngọt ngào về tình nghĩa nhân dân, nghĩa tình kháng chiến. Về điều này, GS. Nguyễn Văn Hạnh nhận xét: đối đáp là cấu tạo bên ngoài, mà độc thoại, tự biểu hiện là cấu tạo bên trong. Cho nên, kẻ ở - người đi, lời hỏi - lời đáp có thể xem là một cách “phân thân” của chủ thể trữ tình để tâm trạng, tình cảm được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng.
- Lối đối đáp này, ta vẫn thấy trong các sinh hoạt văn hoá dân gian như các buổi hát đối, hát ví, hát phường vải, hát giao duyên,... Tức là bài ca có bố cục theo kiểu đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca. Ví dụ:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:
- Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
- Đan sàng thiếp cũng xin vâng!
Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng?
(Ca dao)
- Em đố anh từ nam chí bắc,
Sông nào là sông sâu nhất?
Núi nào là núi cao nhất ở nước ta?
Anh mà giảng được cho ra,
Thì em kết nghĩa giao hoà cùng anh.
- Sâu nhất là sông Bạch Đằng,
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan.
Cao nhất là núi Lam Sơn,
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.
(Ca dao)
Câu 2 [561643]: Mình, ta trong bài thơ này là những ai? Dựa vào yếu tố nào trong văn bản và hoàn cảnh sáng tác của bài thơ để xác định điều đó?
Mình, ta trong bài thơ này là đi - người ở trong cuộc chia tay. Từ hoàn cảnh ra đời và nội dung của lời trao đáp (những kỉ niệm kháng chiến), có thể thấy mình, ta là người ở lại - những người dân Việt Bắc và người về xuôi - cán bộ kháng chiến.
- Kẻ ở - người đi trong cuộc chia tay đã chọn cặp đại từ xưng hô ta - mình vừa quen thuộc vừa thân thiết, gắn bó. Quen thuộc vì nó gợi nhắc những khúc hát yêu thương tình nghĩa trong ca dao, dân ca - từ lời ru, câu hát của bà, của mẹ. Thân thiết gắn bó vì lẽ người ta thường sử dụng cách xưng hô ta - mình trong tình yêu đôi lứa, trong tình vợ chồng keo sơn, bền chặt:
- Mình về có nhớ ta chăng?
Ta về, ta nhớ hàm răng mình cười.
- Mình nói với ta mình hãy còn son
+
Cặp đại từ ta - mình được sử dụng vừa linh hoạt vừa biến hoá tinh tế theo suốt chiều dài bài thơ. Trong tiếng lòng của người ở lại Mình về mình có nhớ ta, mình là người đi, ta là kẻ ở. Còn khi đáp lại Ta về mình có nhớ ta thì vị trí ấy đã được hoán đổi tự nhiên: ta lại là người đi đau đáu trông về mình nơi Việt Bắc. Có lúc mình - ta quấn quýt, tuy hai nhưng là một trong lời hỏi Mình đi mình có nhớ mình và đan bện trong lời đáp Mình đi mình lại nhớ mình.
+ Cặp đại từ ta - mình trong kết cấu đối đáp của đoạn thơ đã đem lại màu sắc trữ tình cho tác phẩm. Chuyện nghĩa tình cách mạng, chuyện ân tình kháng chiến, “uống nước nhớ nguồn”,”ăn quả nhớ người trồng cây” đã hoá thành chuyện riêng tư mình - ta đôi lứa gửi trao khi tạm phải chia xa. Cứ thế lời thơ hoà quyện ngọt ngào đi vào lòng người và nhắc nhở thấm thía bằng tiếng nói của tình thương mến. Ẩn sau đôi lứa ta - mình trò chuyện tâm tình là tâm trạng của nhân vật trữ tình - nhà thơ Tố Hữu - cũng là tiếng lòng của những người cán bộ kháng chiến khi lên đường về xuôi thực hiện nhiệm vụ cách mạng mới. Vậy là, đối đáp chỉ là kiểu hình thức được lựa chọn để giãi bày tâm tình.
Câu 3 [561644]: Tâm trạng bao trùm của cả mình ta trong đoạn trích là gì? Từ tâm trạng ấy, những kỉ niệm nào đã ùa về? (Ví dụ: kỉ niệm về thiên nhiên Việt Bắc,...)
Tâm trạng bao trùm của cả mìnhta trong đoạn trích là gì? Từ tâm trạng ấy, những kỉ niệm nào đã ùa về? (Ví dụ: kỉ niệm về thiên nhiên Việt Bắc,...)
Tâm trạng bao trùm của cả mìnhta trong bài thơ là nỗi nhớ. Từ tâm trạng ấy, những kí ức, kỉ niệm về thiên nhiên, con người, cuộc sống kháng chiến ở Việt Bắc ùa về:
- Thiên nhiên: Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù, Trăng lên đầu núi, nằng chiều lưng nương, Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi,...
- Con người: Nhớ người mẹ nắng cháy lưng/ Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô, Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang, Nhớ cô em gái hải măng một mình,...
- Cuộc sống kháng chiến: Thương nhau, chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng, Nhớ sao lớp học i tờ/ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan/ Nhớ sao ngày tháng cơ quan/ Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo,...
Câu 4 [561645]: Hình tượng thiên nhiên, con người và cuộc sống kháng chiến ở Việt Bắc đã được nhà thơ khắc hoạ qua những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ nào? Hãy giải thích sự độc đáo hoặc nét đặc sắc của một trong các yếu tố nghệ thuật đó.
Hình tượng thiên nhiên, con người và cuộc sống kháng chiến ở Việt Bắc đã được nhà thơ khắc hoạ qua nhiều từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ. Chẳng hạn:
- Dòng thơ Mình đi, mình lại nhớ mình lặp lại ba lần từ mình, trong đó, từ mình1mình2 chỉ cán bộ về xuôi, từ mình3 là người Việt Bắc ở lại nhưng cũng - có thể là chính người về. Đại từ mình ở vị trí thứ ba này mới thật là biến hoá và tinh tế. Mình ấy là người ở lại theo lối nói Mình với ta tuy hai mà một/ Ta với mình tuy một mà hai, hay mình đó vẫn là ngôi thứ hai trong cách hỏi và trả lời đầy ẩn ý: Anh về anh có nhớ chính bản thân anh không? Nhớ chính bản thân nghĩa là thuỷ chung son sắt, trước sau như một, nghĩa là không quên những gì mình đã được nhận và trao từ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mối băn khoăn ấy trong lòng người ở lại đã được người ra đi tinh tế nhận ra để rồi khẳng định: Mình đi mình lại nhớ mình - đã nhớ rồi, vẫn còn nhớ và sẽ luôn khắc cốt ghi tâm.
- Dòng thơ Nhớ gì như nhớ người yêu sử dụng biện pháp so sánh, trong đó, tác giả dùng nỗi nhớ người yêu - nỗi nhớ da diết, cồn cào khôn tả để cụ thể hoá nỗi nhớ Việt Bắc của người ra đi. So sánh này diễn tả nỗi nhớ, tình cảm sâu đậm của người đi dành cho đồng bào Việt Bắc.
- Dòng thơ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng vẽ ra một hình ảnh đẹp về người lao động Việt Bắc trên tầm cao của không gian, giữa thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc. Người đứng trên đèo cao, ảnh nắng chiều vào lưỡi dao trên thắt lưng loé sáng. Hình ảnh ấy gợi ra một tư thế tự tin, vững chãi của người làm chủ núi rừng.
Câu 5 [561646]: Việt Bắc là một bài thơ hiện đại nhưng lại thấm đẫm chất dân gian. Hãy chỉ ra các biểu hiện của tính dân gian, tính hiện đại trong đoạn trích.
Tính dân gian, hiện đại trong bài thơ thể hiện cả ở bình diện nội - dung và hình thức của văn bản.
- Tính dân gian:
+ Về nội dung, tỉnh dân gian thể hiện rõ nét ở những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc văn hoá về thiên nhiên và con người Việt Bắc; ở tình nghĩa giữa con người với con người, thể hiện đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.
+ Về hình thức nghệ thuật:
• Thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa có âm điệu thống nhất vừa biến hoá, đa dạng. Câu lục bát trong Việt Bắc lúc dung dị, gần gũi với ca dao, khi cân xứng, đăng đối, trau chuốt, nhuần nhị đến độ cổ điển.
• Lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca đã được vận dụng một cách thích hợp, tài tình cùng cách sử dụng sáng tạo ngôn ngữ, những lối ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ mang đậm phong vị dân gian.
• Ngoài ra, còn có lối tả cảnh theo kiểu tranh tứ bình trong hội hoạ dân gian,...
- Tính hiện đại:
+ Về nội dung: Lối ứng xử nghĩa tình đã thành đạo lí nghìn đời của dân tộc đã được cụ thể hoá qua tình cảm gắn bó keo sơn giữa những người cán bộ kháng chiến với Việt Bắc, giữa đồng bào Việt Bắc với cách mạng và Bác Hồ. Những tình cảm ấy vửa tiếp nối nguồn mạch cảm hứng yêu nước đã thành truyền thống vừa mang màu sắc hiện đại của bối cảnh kháng chiến bấy giờ. Hoặc vẫn là tâm trạng bâng khuâng, nhớ thương da diết thường thấy ở những cuộc chia li trong văn học cổ nhưng nét hiện đại là ở chỗ: có nhớ thương da diết nhưng không đẫm lệ mà mang niềm vui của những con người vừa làm nên chiến thắng. Chia tay không phải là vĩnh biệt mà tìn tưởng vào ngày gặp lại. Tính hiện đại còn thể hiện ở những dự cảm sau này: Mình về thành thị xa xôi/ Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?/ Phố đông, còn nhớ bản làng/ Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?.
+ Về nghệ thuật: Trong cuộc chia tay, vẫn xuất hiện hình ảnh của chiếc áo chia li giống trong văn học cổ (Chẳng hạn, chiếc áo chia li trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: Người lên ngựa, kẻ chia bào hay trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn: Áo chàng đỏ tựa ráng pha/ Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in) nhưng ở đây tính hiện đại lại thể hiện ở sắc áo chàm quen thuộc, gắn bó với đồng bào Việt Bắc hiện tại. Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi với cuộc sống hằng ngày, không mang tính ước lệ như trong văn học trung đại.
Câu 6 [561647]: Anh/Chị đọc được thông điệp gì từ đoạn trích Việt Bắc?
Thông điệp gì từ đoạn trích Việt Bắc: Thông điệp về đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, về tình nghĩa thuỷ chung bền vững.
Bài tập viết
Câu 7 [561648]: Từ văn bản Việt Bắc, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ), trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của tình cảm thuỷ chung son sắt giữa người với người trong cuộc sống.
Đoạn văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của tình cảm thuỷ chung son sắt giữa người với người trong cuộc sống có thể triển khai theo hướng:
- Với cá nhân, tình cảm thuỷ chung son sắt tạo nên sự gắn kết giữa người với người; gây dựng niềm tin yêu giữa con người với nhau; góp phần mang đến sức mạnh tinh thần giúp mỗi người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống;...
- Với cộng đồng, tình cảm thuỷ chung son sắt giữa người với người góp phần gây dựng một cộng đồng đoàn kết, yêu thương nhau, cùng nhau phát triển,...
Lưu ý: HS bổ sung dẫn chứng để hoàn thiện đoạn văn.
Câu 8 [561649]: So sánh hai đoạn thơ sau:
- Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

(Tây Tiến - Quang Dũng)
- Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

(Việt Bắc - Tố Hữu)
Bài văn so sánh hai đoạn thơ trong Tây Tiến (Quang Dũng) và Việt Bắc (Tố Hữu) có thể triển khai theo hướng:
a. Mở bài
Ví dụ:
Quê hương, đất nước là một trong những đề tài bất tận của thơ ca kháng chiến Việt Nam. Chúng ta đã từng biết đến một đất nước đau thương mà quật cường trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Đình Thi, một đất nước giàu truyền thống văn hoá, văn hiến và biết bao hi sinh thầm lặng của Nhân dân trong trích đoạn Đất Nước từ trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, một đất nước như con tàu xé sóng trong Mũi Cà Mau của Xuân Diệu,... Và trước đó, hẳn ai trong chúng ta từng biết đến đất nước tươi đẹp, nên thơ, trữ tình ngay cả trong kháng chiến gian khổ qua những vần thơ Tây Tiến, Việt Bắc tuyệt đẹp của Quang Dũng và Tố Hữu:
- Sài Khao sương lấp đoàn quan mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

b. Thân bài
* Giới thiệu khái quát về các tác giả Quang Dũng, Tố Hữu, các tác phẩm Tây Tiến, Việt Bắc và hai đoạn trích
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc. Thơ ông hấp dẫn người đọc bởi hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa.
Tây Tiến là một trong những thi phẩm đặc sắc góp phần làm nên tên tuổi của Quang Dũng.
- Tố Hữu là nhà thơ lớn của nền văn nghệ cách mạng.
Việt Bắc là bài thơ đặc sắc nằm trong tập thơ cùng tên của Tố Hữu. Tác phẩm vừa làm sống dậy những kỉ niệm ân tình của đời sống cách mạng và kháng chiến vừa là lời nhắc nhở về sự thuỷ chung của con người đối với quá khứ cách mạng.
- Hai đoạn thơ nằm trong hai thi phẩm đặc sắc của nền thơ ca kháng chiến.
* Giải quyết vấn đề nghị luận
** So sánh hai đoạn thơ
*** Điểm tương đồng:
Hai đoạn thơ đều nỗi nhớ da diết của chủ thể trữ tình đối với thiên nhiên và con người Tây Bắc (Tây Tiến), Việt Bắc (Việt Bắc); đồng thời thể hiện vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Đoạn thơ trong Tây Tiến tái hiện hình ảnh thiên nhiên miền Tây và hình tượng người lính Tây Tiến trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình
+ Nỗi nhớ thiên nhiên núi rừng Tây Bắc:
• Các hình ảnh: sương lấp, dốc tiếp dốc, cồn mây, ngàn thước lên cao ngàn thước xuống gợi tả vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở của thiên nhiên nhiên núi rừng Tây Bắc.
Hiện lên trước mắt người đọc là hình ảnh dốc tiếp dốc, đồi tiếp đồi, núi tiếp núi; dốc càng cao vực càng sâu. Chèn lấp các thung sâu là những khối mây, khối sương lèn chặt.
Để gợi tả hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, hiểm trở, độc dữ như thế, Quang Dũng đã sử dụng:
o Phép điệp: điệp từ dốc, điệp ngữ ngàn thước gợi tả hình ảnh những con dốc, những ngọn đồi liên tiếp, nối tiếp nhau. Theo đó, địa hình hiểm trở của núi rừng Tây Bắc cũng dần được mở ra trước mắt chúng ta.
o Phép đối (đối lập) kết hợp với nhịp thơ 4/3 cùng các từ láy khúc khuỷu, thăm thẳm tiếp tục khắc hoạ địa hình gieo neo, gồ ghề, gập ghềnh của núi rừng Tây Bắc.
o Câu thơ có 5/7 thanh trắc (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm) góp phần gợi tả cái gồ ghề, gập ghềnh của địa hình địa thế hiểm trở.
• Các hình ảnh: hoa về trong đêm hơi, mưa xa khơi tuy chỉ thoáng hiện trong đoạn thơ nhưng lại đủ sức cân lại vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc. Chúng gợi tả vẻ đẹp rất đỗi lãng mạn, thơ mộng của khung cảnh nơi đây.
Câu thơ Mường Lát hoa về trong đêm hơi gợi không gian đêm ở núi rừng đầy hình ảnh, màu sắc, hương thơm. Người đọc có thể hình dung về một khung cảnh cụ thể với biết bao hoa cỏ, với biết bao sắc màu và cả làn hương dìu dặt trong một đêm sương khói bảng lảng nơi núi rừng miền Tây. Hay với câu thơ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi, chúng ta lại có thể tưởng tượng ra một màn mưa đang giăng mắc khắp Pha Luông phía xa xa. Và màn mưa ấy đã làm dịu đi cảm giác oi nồng nóng bức của những người lính trên chặng đường hành quân. Nó khiến không gian núi rừng như được gội rửa, được thanh tẩy và trở nên thoáng đãng, mát mẻ, thanh sạch hơn.
Để gợi tả vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng của thiên nhiên, Quang Dũng đã chọn viết những câu thơ rất nhiều thanh bằng (Mường Lát hoa về trong đêm hơi, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi), hình ảnh thơ giàu sức gợi.
• Hai vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội và thơ mộng, lãng mạn đã luôn đồng hiện trong từng câu thơ, làm nên vẻ đẹp phong phú của bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây.
+ Nỗi nhớ đồng đội gợi lại hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân: đoàn quân mỏi, súng ngửi trời.
• Chi tiết đoàn quân mỏi gợi những gian lao, khó nhọc của những người lính khi họ phải sống, hành quân, chiến đấu ở một địa bàn rất rộng (cả vùng miền Tây Việt Nam và Thượng Lào), địa hình gồ ghề, gập ghềnh, khúc khuỷu, khí hậu khắc nghiệt, thiên nhiên độc dữ, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Cái chết thường trực rình rập họ.
• Mặc dầu vậy, những người lính Tây Tiến vẫn hiện lên với biết bao nhiêu vẻ đẹp:
o Kiêu bạc, thách thức, ngạo nghễ: Hình ảnh súng ngửi trời cho thấy vị trí, vị thế của những người lính giữa thiên nhiên hùng vĩ. Con người xuất hiện giữa không gian núi rừng Tây Bắc rộng dài, cao ngất nhưng không hề nhỏ bé, đơn độc mà lại rất hiên ngang, kiêu hùng.
o Trẻ trung, tinh nghịch: Từ ngửi trong cụm từ súng ngửi trời gợi hình dung về những chàng trai còn rất trẻ, luôn tếu táo, vui đùa trong những câu chuyện với nhau để quên đi những gian khổ, khó nhọc trên chặng đường hành quân. Cách họ chĩa thẳng mũi súng lên trời cho thấy chất lính ngang tàng, khí phách của họ.
+ Giữa hình tượng người lính Tây Tiến và thiên nhiên núi rừng Tây Bắc có sự hô ứng, tương đồng: Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội - người lính can trường, dũng cảm; thiên nhiên thơ mộng - người lính lãng mạn, hào hoa. Chính sự hô ứng này tạo nên vẻ đẹp của sự hài hoà giữa thiên nhiên với con người trong lời thơ.
Chốt:
+ Đoạn thơ đã tập trung khắc hoạ bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây và hình tượng người lính trên chặng đường hành quân. Qua đó, Quang Dũng đã thể hiện nỗi nhớ, sự khắc ghi của mình về những nẻo đường đã qua và những người đồng đội mà ông đã sống cùng.
+ Suốt dọc đoạn thơ là sự xuất hiện của rất nhiều địa danh (Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông). Các địa danh một mặt như là những cột mốc chỉ báo cho những chặng đường mà Quang Dũng và đồng đội đã đi qua, một mặt lại là ảnh chiếu thể hiện sự ghi nhớ sâu đậm của Quang Dũng về một thời đã sống, đã chiến đấu cùng đồng đội của mình - những người lính Tây Tiến.
- Đoạn thơ trong Việt Bắc cũng tái hiện vẻ đẹp nhiên nhiên và con người Việt Bắc qua nỗi nhớ của người về xuôi:
+ Mùa đông:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”

Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi là hai chi tiết được lựa chọn để gợi tả vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên Việt Bắc mùa đông. Hai chi tiết này thật lạ, bởi lẽ, lâu nay, trong chúng ta thường có ấn tượng về mùa đông trên các vùng núi cao: gió rét dữ dội, rừng cây trơ trụi, cành lá khẳng khiu. Theo đó, bức tranh thiên nhiên hiện lên với tông màu chủ đạo là màu xám lạnh.
Nhưng khi Tố Hữu chọn vẽ bức tranh mùa đông Việt Bắc bằng tông nền là sắc xanh bạt ngàn và nổi bật trên nền xanh ấy là màu đỏ tươi của những bông hoa chuối rừng thì rõ ràng bức tranh ấy không những dạt dào sức sống mà còn ấm sực hơi ấm của gam màu nóng (sắc đỏ từ những bông hoa chuối rừng). Cái âm u, giá lạnh của mùa nơi núi cao cũng theo đó mà tan biến.
• Con người không xuất hiện trực tiếp mà chỉ thấp thoáng hiện lên phía sau cây lá, qua hình ảnh hoán dụ dao gài thắt lưng. Chi tiết đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng cho phép người đọc hình dung về bước đi rất nhanh và dáng vẻ thoăn thoắt, hoạt bát của người đi rừng. Con người tuy không hiện lên cụ thể với từng đường nét chi tiết trên gương mặt, hình hài song vẫn gây được trong lòng người đọc một lòng cảm mến bởi hình ảnh rất gần gũi, thân thuộc. Tố Hữu không cụ thể công việc của người đi rừng nhưng có lẽ dù đang thực hiện công việc, nhiệm vụ gì thì người đi rừng hẳn đang làm công việc phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến.
+ Mùa xuân:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

• Thiên nhiên được gợi tả qua hình ảnh rất đặc trưng của mùa xuân trên các vùng núi cao phía Bắc - hoa mơ. Cách viết mơ nở trắng rừng vừa gợi sắc trắng tinh khôi, thanh khiết, trong trẻo vừa gợi hình ảnh sống động của khung cảnh: những cánh rừng mơ bạt ngàn, nối tiếp nhau bung nở để dệt nên sắc trắng bất tận cho núi rừng Tây Bắc.
Tố Hữu không miêu tả chi tiết nhưng chính cách gợi của tác giả lại khiến người đọc có thể tự do hình dung về một bức tranh mùa xuân tươi đẹp, sinh động, lãng mạn, thơ mộng.
• So với cặp câu thơ trước, ở đây, hình ảnh con người trong hai câu thơ này có phần rõ nét hơn một chút. Con người hiện lên trong công việc đan nón với sự cần mẫn, tỉ mỉ, chu đáo chuốt từng sợi giang. Người Việt Bắc đan nón, đan mũ cho bộ đội ta, cho cán bộ ta và họ đan bằng tất cả tình cảm tin yêu, trân trọng nên cẩn trọng trong từng sợi nan, cẩn trọng chuốt cho từng sợi nan ấy thật nhẵn, thật mỏng, thật mềm.
+ Mùa hạ:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình

• Thiên nhiên được nhận diện thông qua nhiều tín hiệu (âm thanh, màu sắc, hình ảnh). Âm thanh đặc trưng của mùa hè - tiếng ve - xuất hiện như một hồi còi hiệu báo hiệu mùa sang. Và có vẻ như ngay khi tiếng còi hiệu đó vang cất lên thì lập tức từ trên cao, một khối vàng sóng sánh của nắng (hạ) đã chan hoà xuống vạn vật, nhuộm lấy những cánh rừng hổ phách đương độ trổ hoa. Cách viết rừng phách đổ vàng không chỉ gợi hình sắc - sắc vàng chói chang của hoa lá mùa hạ mà còn gợi sự chuyển động (của màu sắc, của hình ảnh những bông hoa hổ phách nở vàng). Theo đó, hình ảnh thơ trở nên sinh động chứ không hề tĩnh tại, bằng lặng.
• Con người tiếp tục hiện lên trong tư thế lao động. Hiện lên trong lời thơ là hình ảnh của một cô gái đang hái măng để nuôi quân. Hình ảnh này khiến người đọc liên tưởng đến những cô gái thanh niên xung phong trong thơ ca chống Mĩ sau này:
Hết rau rồi, em có lấy măng không?
(Phạm Tiến Duật)

Những câu thơ này ít nhiều ánh chiếu cuộc sống sinh hoạt đời thường của bộ đội ta trong kháng chiến. Nhiều khi, vì thiếu rau xanh nên những bữa cơm của họ sẽ có măng rừng thay thế. Và cô gái trong câu thơ này đang mải miết hái măng cho cán bộ cách mạng, cho bộ đội ta. Tuy “một mình” nhưng rõ ràng cô gái không cô đơn bên cô, dõi theo cô vẫn là ánh nhìn, là niềm cảm kích, là lòng biết ơn của cán bộ kháng chiến.
+ Mùa thu:
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

• Đoạn thơ kết thúc bằng thời điểm mùa thu, vừa trọn một vòng thời gian của năm (đông - xuân - hạ - thu) nhưng cũng rất phù hợp với thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Tháng 10/1954, cuộc kháng chiến chống Pháp đã giành thắng lợi hoàn toàn, Trung ương Đảng bắt đầu dời chuyển từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội - đây cũng là thời điểm đương thu.
• Thiên nhiên tiếp tục được gợi tả thông qua hình ảnh đặc trưng của mùa thu - vầng trăng. Vầng trăng mùa thu cao vợi rọi chiếu ánh sáng xuống núi rừng Tây Bắc, nhưng đó không chỉ là sắc vàng thông thường mà nó còn là sắc màu biểu trưng cho hoà bình. Ngước nhìn vầng trăng ấy, có lẽ cán bộ cách mạng và đồng bào kháng chiến đều chung một tâm nguyện, tưởng vọng mong cầu hoà bình sẽ sớm được lập lại trên quê hương đất nước này.
• Con người xuất hiện thông qua hoán dụ tiếng hát. Tố Hữu không tái hiện chi tiết lời hát, giai điệu nhưng chỉ mấy chữ “ân tình thuỷ chung” cũng đủ để lắng lại trong lòng cán bộ cách mạng, trong lòng người đọc tình cảm sâu đậm của đồng bào Việt Bắc. Tình cảm ấy mới là điều quý giá nhất, đáng ghi nhớ, lưu đọng hơn cả trong lòng người về xuôi.
Chốt:
+ Đoạn thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng đúc trong đó nỗi nhớ sâu sắc của cán bộ cách mạng với đồng bào kháng chiến. Điệp từ “nhớ” xuất hiện trong tất cả các cặp câu thơ như một cách để láy lại, để khắc sâu, tô đậm cho nỗi nhớ da diết trong lòng người đi.
Trong mỗi cặp câu lục bát, Tố Hữu dành câu lục (sáu tiếng) để viết về nỗi nhớ cảnh và câu bát (tám tiếng) để viết về nỗi nhớ người. Thêm vào đó, từ nhớ luôn được gắn ở đầu mỗi câu bát. Điều đó chứng tỏ nỗi nhớ người có phần sâu đậm hơn nỗi nhớ cảnh.
Con người Việt Bắc qua nỗi nhớ của người về xuôi tuy không hiện lên chi tiết, cụ thể nhưng luôn gây xúc động bởi những cử chỉ, hành động biểu thị tình cảm chăm chút, yêu thương dành cho cán bộ cách mạng.
+ Bốn cặp câu thơ đã dựng lên một bộ tranh tứ bình tuyệt đẹp về hoa và người Việt Bắc. Qua những dòng thơ này, rõ ràng người đọc được cảm nhận về cuộc sống kháng chiến hết sức đẹp đẽ, bình yên thay vì có những ấn tượng về những gian khổ, hi sinh, khó khăn, thiếu thốn. Có lẽ bởi vậy mà những dòng thơ này in đậm cảm hứng lãng mạn - một trong những cảm hứng nổi bật của văn học kháng chiến Việt Nam.
*** Điểm khác biệt:
- Đoạn thơ trong Tây Tiến:
+ Gắn liền với tình đồng chí, đồng đội.
+ Được viết theo thể thơ bảy chữ, âm điệu chắc khoẻ; bút pháp lãng mạn; hình ảnh vừa thơ mộng, hào hoa vừa hào hùng, dũng mãnh;...
- Đoạn thơ trong Việt Bắc:
+ Ngợi ca tình quân dân, đồng chí - đồng bào; tình cảm này gắn liền với truyền thống đạo lí ngàn đời của dân tộc (thuỷ chung son sắt)
+ Được viết theo thể thơ lục bát, âm điệu thiết tha, dìu dặt; bút pháp trữ tình; ngôn ngữ, hình ảnh thơ mang đậm tính dân tộc;...
* Nhận xét, đánh giá
- Hai đoạn thơ tập trung khắc hoạ vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Nam trong kháng chiến; góp phần làm phong phú cho đề tài quê hương đất nước trong văn học.
- Vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn thơ thể hiện đậm nét phong cách nghệ thuật độc đáo của mỗi nhà thơ.
c. Kết bài
Bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ về hai đoạn thơ.
© 2023 - - Made With