Câu hỏi hướng dẫn đọc
Câu 1 [561515]: Phân tích bức tranh thiên nhiên và cảm xúc của nhà thơ trong hai câu thơ đầu.
Bức tranh thiên nhiên và cảm xúc của nhà thơ trong hai câu đầu
- Hình ảnh cánh chim:
+ Quen thuộc trong thơ ca, vừa mang ý nghĩa không gian, vừa mang ý nghĩa thời gian:
- Chim bay về núi tối rồi
- Hình ảnh cánh chim:
+ Quen thuộc trong thơ ca, vừa mang ý nghĩa không gian, vừa mang ý nghĩa thời gian:
- Chim bay về núi tối rồi
(Ca dao)
- Chim hôm thoi thót về rừng
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
- Mây vẩn tầng không chim bay đi
(Thơ duyên - Xuân Diệu)
- Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
(Tràng giang - Huy Cận)
+ Cánh chim trong Mộ được bổ sung thêm ý nghĩa trạng thái, tâm trạng (quyện) qua cái nhìn cảm thông của tác giả. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình thương yêu mênh mông của Hồ Chí Minh.
- Hình ảnh chòm mây:
+ Gợi nhớ hình ảnh trong những câu thơ xưa:
- Bạch vân thiên tải không du du
- Hình ảnh chòm mây:
+ Gợi nhớ hình ảnh trong những câu thơ xưa:
- Bạch vân thiên tải không du du
(Hoàng Hạc lâu - Thôi Hiệu)
- Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
(Thu điếu - Nguyễn Khuyến)
+ Chòm mây trong câu thơ Hồ Chí Minh là chòm mây quen thuộc trên bầu trời, gợi cảm rất nhiều về cái cao rộng, trong trẻo, êm ả của chiều thu nơi núi rừng Quảng Tây, phản chiếu tâm hồn ung dung, thư thái của nhân vật trữ tình.
Cánh chim, chòm mây như mang tâm trạng con người: mệt mỏi, cô đơn, lẻ loi, lặng lẽ. Và dường như chúng cũng mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa.
Hai câu thơ còn thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ, bởi vì nếu không có ý chí, nghị lực, không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể có những câu thơ cảm nhận thiên nhiên một cách sâu sắc và tinh tế như thế.
Cánh chim, chòm mây như mang tâm trạng con người: mệt mỏi, cô đơn, lẻ loi, lặng lẽ. Và dường như chúng cũng mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa.
Hai câu thơ còn thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ, bởi vì nếu không có ý chí, nghị lực, không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể có những câu thơ cảm nhận thiên nhiên một cách sâu sắc và tinh tế như thế.
Câu 2 [561516]: Bức tranh đời sống được cảm nhận trong hai câu thơ sau như thế nào?
Bức tranh đời sống trong hai câu thơ sau
- Điểm nhìn của tác giả có sự chuyển dịch từ cao xa xuống gần thấp, từ bức tranh thiên nhiên nghiêng về ước lệ sang bức tranh cuộc sống con người gần gũi, chân thực.
- Câu 3 miêu tả chân thật, giản dị hình ảnh sự thật mà Bác nhìn thấy: cô gái xóm núi đang xay ngô. Nó mang lại chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui trong hạnh phúc cho người đi đường.
- Cách điệp vòng tròn ma bao túc - bao túc ma gợi tả vòng quay của chiếc cối xay, động tác xay ngô (nặng nhọc, đều đặn), sự kiên nhẫn bền bỉ của cô gái lao động nghèo, sự chuyển vần của thời gian từ chiều sang tối.
- Hình ảnh cô gái xay ngô bên bếp lửa gợi cảnh gia đình và cuộc sống bình yên, sum họp. Tâm hồn nhà cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui đời thường của con người nơi đất khách.
- Điểm nhìn của tác giả có sự chuyển dịch từ cao xa xuống gần thấp, từ bức tranh thiên nhiên nghiêng về ước lệ sang bức tranh cuộc sống con người gần gũi, chân thực.
- Câu 3 miêu tả chân thật, giản dị hình ảnh sự thật mà Bác nhìn thấy: cô gái xóm núi đang xay ngô. Nó mang lại chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui trong hạnh phúc cho người đi đường.
- Cách điệp vòng tròn ma bao túc - bao túc ma gợi tả vòng quay của chiếc cối xay, động tác xay ngô (nặng nhọc, đều đặn), sự kiên nhẫn bền bỉ của cô gái lao động nghèo, sự chuyển vần của thời gian từ chiều sang tối.
- Hình ảnh cô gái xay ngô bên bếp lửa gợi cảnh gia đình và cuộc sống bình yên, sum họp. Tâm hồn nhà cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui đời thường của con người nơi đất khách.
Câu 3 [561517]: Nhận xét nghệ thuật tả cảnh và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ.
Nghệ thuật tả cảnh và sử dụng ngôn ngữ trong bài thơ
- Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu xưa cũ) vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã đời thường). Ở đây chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, cho nên tính chất cô đọng, hàm súc rất cao.
- Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo. Một số từ ngữ vừa gợi tả vừa gợi cảm (quyện điểu, cô vân). Biện pháp điệp vòng ở câu 3 và câu 4.
Chữ hồng được coi là chữ thần. Hoàng Trung Thông viết : “Chữ hồng trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là “con mắt của thơ” (thi nhân) hoặc là “nhãn tự” (chữ có mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa. Với chữ hồng đó, có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia.”.
- Nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển (bút pháp chấm phá, ước lệ với những thi liệu xưa cũ) vừa có nét hiện đại (bút pháp tả thực sinh động với những hình ảnh dân dã đời thường). Ở đây chủ yếu là gợi tả chứ không phải là miêu tả, cho nên tính chất cô đọng, hàm súc rất cao.
- Ngôn ngữ trong bài thơ được sử dụng rất linh hoạt và sáng tạo. Một số từ ngữ vừa gợi tả vừa gợi cảm (quyện điểu, cô vân). Biện pháp điệp vòng ở câu 3 và câu 4.
Chữ hồng được coi là chữ thần. Hoàng Trung Thông viết : “Chữ hồng trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là “con mắt của thơ” (thi nhân) hoặc là “nhãn tự” (chữ có mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa. Với chữ hồng đó, có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia.”.
Câu 4 [561518]: Nêu cảm nghĩ về sự vận động của cảnh vật và tâm trạng nhà thơ trong bài thơ.
Sự vận động của cảnh vật và tâm trạng nhà thơ trong bài thơ
Cảm quan biện chứng của người chiến sĩ cách mạng biểu hiện ở cách nhìn cuộc sống trong sự vận động tất yếu hướng tới cái tốt đẹp, tươi sáng. Sự vận động từ hai câu đầu đến hai câu sau: cảnh vật (cánh chim về rừng, chòm mây trôi về phía trời xa, chiều dần sang tối với ánh lửa hồng, từ lạnh lẽo, âm u đến ấm áp, bừng sáng,...); lòng người (từ nỗi buồn đến niềm vui,...). Sự vận động đó cho thấy niềm lạc quan yêu đời, niềm tin vào tương lai tươi sáng của người chiến sĩ cách mạng.
Cảm quan biện chứng của người chiến sĩ cách mạng biểu hiện ở cách nhìn cuộc sống trong sự vận động tất yếu hướng tới cái tốt đẹp, tươi sáng. Sự vận động từ hai câu đầu đến hai câu sau: cảnh vật (cánh chim về rừng, chòm mây trôi về phía trời xa, chiều dần sang tối với ánh lửa hồng, từ lạnh lẽo, âm u đến ấm áp, bừng sáng,...); lòng người (từ nỗi buồn đến niềm vui,...). Sự vận động đó cho thấy niềm lạc quan yêu đời, niềm tin vào tương lai tươi sáng của người chiến sĩ cách mạng.
Câu 5 [561519]: Trong bài thơ, hình ảnh nào thể hiện tập trung vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh?
Trong bài Mộ, hình ảnh đẹp nhất, thể hiện tập trung vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh là hình ảnh cô gái xay ngô và bếp lửa hồng.
Câu 6 [561520]: Làm rõ “chất thép” trong tác phẩm.
Chất “thép” trong bài thơ Mộ được thể hiện ở dũng khí kiên cường của người tù cộng sản trong hoàn cảnh lao tù khổ cực.
Bài tập viết
Câu 7 [561521]: Có ý kiến cho rằng: Đọc bài thơ “Mộ”, người ta bắt gặp hình ảnh một chiến sĩ cộng sản kiên cường. Ý kiến khác khẳng định: Tác phẩm thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của một thi sĩ dạt dào cảm hứng thơ.
Bằng cảm nhận của anh/chị về bài thơ Mộ (“Chiều tối” - Hồ Chí Minh), hãy bình luận các ý kiến trên.
Bằng cảm nhận của anh/chị về bài thơ Mộ (“Chiều tối” - Hồ Chí Minh), hãy bình luận các ý kiến trên.
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, các ý kiến
* Cảm nhận về bài thơ Mộ
- Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Mộ (“Chiều tối”) nằm trong cuốn Ngục trung nhật kí (“Nhật kí trong tù”) của Hồ Chí Minh. Đây là bài thứ 30 của tập thơ; được thi sĩ cách mạng sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, trên đường đi đày từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.
- Chiều tối là thời khắc cuối cùng của ngày. Với người tù cách mạng Hồ Chí Minh, đây là chặng cuối cùng của ngày bị đày ải. Trong hoàn cảnh này, thường con người ta dễ mệt mỏi, buồn chán. Thế nhưng, với Bác, cảm hứng thơ lại đến một cách ngẫu nhiên, dạt dào.
- Quên đi hoàn cảnh khắc nghiệt của bản thân, người nghệ sĩ đã hướng cái nhìn của mình vào thiên nhiên và cuộc sống để họa lại những bức tranh tuyệt đẹp:
+ Bức tranh thiên nhiên chiều muộn nơi núi rừng được vẽ bằng những hình ảnh quen thuộc của thi ca (cánh chim, chòm mây). Nhưng cánh chim và chòm mây trong bài thơ được bổ sung thêm ý nghĩa trạng thái, tâm trạng (quyện - mỏi, cô - cô đơn, mạn mạn - lững lờ) qua cái nhìn cảm thông của tác giả. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình thương yêu mênh mông của thi nhân - tù nhân. Cánh chim, chòm mây như mang tâm trạng con người: mệt mỏi, cô đơn, lẻ loi, lặng lẽ và dường như chúng cũng mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa.
Hai câu thơ thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ: nếu không có ý chí, nghị lực, không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể có những câu thơ cảm nhận thiên nhiên một cách sâu sắc và tinh tế như thế.
+ Hai câu sau là bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người:
Điểm nhìn của tác giả có sự chuyển dịch từ cao xa tới gần thấp, từ bức tranh thiên nhiên nghiêng về ước lệ sang bức tranh cuộc sống con người gần gũi, chân thực.
Câu thơ thứ ba miêu tả chân thật, giản dị vẻ đẹp khỏe khoắn của cô gái xóm núi đang xay ngô bên lò than. Hình ảnh thơ mang lại chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui trong hạnh phúc cho người đi đường, gợi cảnh gia đình và cuộc sống bình yên, sum họp. Tâm hồn người tù cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui đời thường của con người nơi đất khách.
Chữ hồng cuối bài thơ khiến mọi cảm giác nặng nề, mệt nhọc bị xua tan, chỉ còn thấy màu đỏ nhuốm lên cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia. Nguyên văn không có chữ tối mà vẫn thấy tối dần dần, chầm chậm thay thế ánh chiều muộn. Như vậy, cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động của mạch thơ, tư tưởng người làm thơ: từ tối đến sáng, từ tàn lụi đến sinh sôi, từ buồn sang vui, từ lạnh lẽo, cô đơn sáng ấm nóng tình người.
⟶ Bằng những từ ngữ cô đọng, hàm súc, thủ pháp đối lập và điệp liên hoàn, bài thơ đã dựng lại vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ - chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống.
* Bình luận các ý kiến
- Hai ý kiến đều xác đáng, thể hiện cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình - tác giả - trong bài thơ Mộ.
- Hai ý kiến không đối lập, trái chiều mà bổ sung cho nhau. Vốn dĩ trong bài thơ, vẻ đẹp hình ảnh một chiến sĩ cộng sản kiên cường và hình ảnh một thi nhân với tâm hồn dạt dào thi hứng đã quyện hòa với nhau, làm nên chất thi sĩ - chiến sĩ trong hình ảnh nhân vật trữ tình.
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, các ý kiến
* Cảm nhận về bài thơ Mộ
- Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Mộ (“Chiều tối”) nằm trong cuốn Ngục trung nhật kí (“Nhật kí trong tù”) của Hồ Chí Minh. Đây là bài thứ 30 của tập thơ; được thi sĩ cách mạng sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, trên đường đi đày từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.
- Chiều tối là thời khắc cuối cùng của ngày. Với người tù cách mạng Hồ Chí Minh, đây là chặng cuối cùng của ngày bị đày ải. Trong hoàn cảnh này, thường con người ta dễ mệt mỏi, buồn chán. Thế nhưng, với Bác, cảm hứng thơ lại đến một cách ngẫu nhiên, dạt dào.
- Quên đi hoàn cảnh khắc nghiệt của bản thân, người nghệ sĩ đã hướng cái nhìn của mình vào thiên nhiên và cuộc sống để họa lại những bức tranh tuyệt đẹp:
+ Bức tranh thiên nhiên chiều muộn nơi núi rừng được vẽ bằng những hình ảnh quen thuộc của thi ca (cánh chim, chòm mây). Nhưng cánh chim và chòm mây trong bài thơ được bổ sung thêm ý nghĩa trạng thái, tâm trạng (quyện - mỏi, cô - cô đơn, mạn mạn - lững lờ) qua cái nhìn cảm thông của tác giả. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình thương yêu mênh mông của thi nhân - tù nhân. Cánh chim, chòm mây như mang tâm trạng con người: mệt mỏi, cô đơn, lẻ loi, lặng lẽ và dường như chúng cũng mang nỗi buồn trong cảnh ngộ chia lìa.
Hai câu thơ thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ: nếu không có ý chí, nghị lực, không có phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần thì không thể có những câu thơ cảm nhận thiên nhiên một cách sâu sắc và tinh tế như thế.
+ Hai câu sau là bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người:
Điểm nhìn của tác giả có sự chuyển dịch từ cao xa tới gần thấp, từ bức tranh thiên nhiên nghiêng về ước lệ sang bức tranh cuộc sống con người gần gũi, chân thực.
Câu thơ thứ ba miêu tả chân thật, giản dị vẻ đẹp khỏe khoắn của cô gái xóm núi đang xay ngô bên lò than. Hình ảnh thơ mang lại chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui trong hạnh phúc cho người đi đường, gợi cảnh gia đình và cuộc sống bình yên, sum họp. Tâm hồn người tù cách mạng đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm với niềm vui đời thường của con người nơi đất khách.
Chữ hồng cuối bài thơ khiến mọi cảm giác nặng nề, mệt nhọc bị xua tan, chỉ còn thấy màu đỏ nhuốm lên cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia. Nguyên văn không có chữ tối mà vẫn thấy tối dần dần, chầm chậm thay thế ánh chiều muộn. Như vậy, cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động của mạch thơ, tư tưởng người làm thơ: từ tối đến sáng, từ tàn lụi đến sinh sôi, từ buồn sang vui, từ lạnh lẽo, cô đơn sáng ấm nóng tình người.
⟶ Bằng những từ ngữ cô đọng, hàm súc, thủ pháp đối lập và điệp liên hoàn, bài thơ đã dựng lại vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ - chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống.
* Bình luận các ý kiến
- Hai ý kiến đều xác đáng, thể hiện cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình - tác giả - trong bài thơ Mộ.
- Hai ý kiến không đối lập, trái chiều mà bổ sung cho nhau. Vốn dĩ trong bài thơ, vẻ đẹp hình ảnh một chiến sĩ cộng sản kiên cường và hình ảnh một thi nhân với tâm hồn dạt dào thi hứng đã quyện hòa với nhau, làm nên chất thi sĩ - chiến sĩ trong hình ảnh nhân vật trữ tình.
Câu 8 [561522]: Có ý kiến cho rằng: Thơ Hồ Chí Minh đậm chất Đường thi mà lại rất hiện đại. Có thể nhận thấy điều này trong bài Mộ (“Chiều tối” - Hồ Chí Minh) như thế nào?
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, ý kiến
* Chứng minh ý kiến thông qua bài thơ Mộ
- Bài thơ Mộ đậm chất Đường thi:
+ Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
+ Không gian nghệ thuật quen thuộc (chiều tối), sử dụng những thi liệu quen thuộc của cổ thi (cánh chim, chòm mây).
+ Bút pháp chấm phá, gợi vài nét đơn sơ cốt ghi lấy linh hồn của tạo vật.
- Tinh thần hiện đại trong bài thơ:
+ Tác giả đã thổi sức sống, linh hồn vào thiên nhiên vô tri vô giác, khiến cánh chim, chòm mây cũng mang tâm trạng của con người.
+ Con người, sự sống của con người là trung tâm của bức tranh. Con người không ẩn đi mà hiện ra, con người là chủ thể trong bức tranh đó.
+ Tâm hồn nhà thơ vận động từ bóng tối ra ánh sáng, hướng về sự sống và ánh sáng, thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng trong bất kì tình huống nào.
* Đánh giá
- Đậm chất Đường thi mà rất hiện đại là nét phong cách nghệ thuật đặc sắc của thi ca Hồ Chí Minh.
- Bài thơ Mộ rất tiêu biểu cho nét đặc sắc nghệ thuật đó.
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, ý kiến
* Chứng minh ý kiến thông qua bài thơ Mộ
- Bài thơ Mộ đậm chất Đường thi:
+ Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
+ Không gian nghệ thuật quen thuộc (chiều tối), sử dụng những thi liệu quen thuộc của cổ thi (cánh chim, chòm mây).
+ Bút pháp chấm phá, gợi vài nét đơn sơ cốt ghi lấy linh hồn của tạo vật.
- Tinh thần hiện đại trong bài thơ:
+ Tác giả đã thổi sức sống, linh hồn vào thiên nhiên vô tri vô giác, khiến cánh chim, chòm mây cũng mang tâm trạng của con người.
+ Con người, sự sống của con người là trung tâm của bức tranh. Con người không ẩn đi mà hiện ra, con người là chủ thể trong bức tranh đó.
+ Tâm hồn nhà thơ vận động từ bóng tối ra ánh sáng, hướng về sự sống và ánh sáng, thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng trong bất kì tình huống nào.
* Đánh giá
- Đậm chất Đường thi mà rất hiện đại là nét phong cách nghệ thuật đặc sắc của thi ca Hồ Chí Minh.
- Bài thơ Mộ rất tiêu biểu cho nét đặc sắc nghệ thuật đó.
Câu 9 [561523]: Phân tích bài thơ Mộ (“Chiều tối”) của Hồ Chí Minh để chứng minh cho nhận định của Hoàng Trung Thông:
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông, bát ngát tình
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông, bát ngát tình
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, nhận định
* Giải thích ý nghĩa nhận định
- Ý nghĩa lời thơ của Hoàng Trung Thông
+ Thép: cách nói hình tượng, biểu trưng cho bản lĩnh, ý chí kiên cường, sắt đá.
+ Tình: thơ Bác đầy chất “thép” nhưng cũng hết sức trữ tình, nồng hậu, ấm áp tình người, tình đời.
⟶ Câu thơ của Hoàng Trung Thông khẳng định thơ Hồ Chí Minh luôn có sự hòa hợp, thống nhất giữa hai đặc điểm: chất “thép” và chất trữ tình.
- Lí giải:
+ Cội nguồn của chất trữ tình chính là tấm lòng “đại nhân” của Người. Cội nguồn của chất “thép” chính là phẩm chất “đại dũng”, là tinh thần kiên gan vốn có ở người chiến sĩ cộng sản.
+ Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh: Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
* Chứng minh nhận định
- Chất “thép” trong Chiều tối:
+ Thời điểm chiều tối: thời khắc cuối cùng của hành trình lao giải, tù nhân hẳn rất mệt mỏi và buồn nhớ quê hương. Nhưng trong người chiến sĩ cộng sản, cảm hứng thơ ca vẫn cất lên tự nhiên, bay bổng với những hình ảnh thơ hướng về sự sống, ánh sáng.
+ Hai câu thơ đầu: Người tù - chiến sĩ đã hoàn toàn quên đi cảnh ngộ riêng của mình để bày tỏ lòng yêu mến, đồng cảm với cánh chim chiều và chòm mây cô đơn.
+ Hai câu sau:
• Hình ảnh thơ hướng đến sự sống con người.
• Hình ảnh thơ đẹp, khoẻ khoắn: con người trong lao động.
• Chữ hồng ở vị trí cuối cùng của bài thơ nhưng đủ sức toả sáng và làm ấm lại không gian chiều tối miền sơn cước.
⟶ Ý chí thép, tinh thần thép đã kết đọng trong cảm hứng thơ để rồi bật lên thành những câu thơ tuyệt hay, tuyệt đẹp.
- Chất trữ tình trong bài thơ:
+ Hai câu thơ đầu thể hiện sự gắn bó, tấm lòng yêu thiên nhiên, tấm lòng vị tha, nhân ái của Hồ Chí Minh.
+ Hai câu sau là niềm vui, là tấm lòng nâng niu, trừu mến, chút reo vui trước cuộc sống bình thường nghèo khổ nhưng bình yên (Lê Trí Viễn).
⟶ Sự hòa hợp, thống nhất giữa chất trữ tình và chất “thép”, giữa xúc cảm và ý chí kiên cường chính là một trong những nét phong cách nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của nhà thơ - chiến sĩ Hồ Chí Minh.
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, nhận định
* Giải thích ý nghĩa nhận định
- Ý nghĩa lời thơ của Hoàng Trung Thông
+ Thép: cách nói hình tượng, biểu trưng cho bản lĩnh, ý chí kiên cường, sắt đá.
+ Tình: thơ Bác đầy chất “thép” nhưng cũng hết sức trữ tình, nồng hậu, ấm áp tình người, tình đời.
⟶ Câu thơ của Hoàng Trung Thông khẳng định thơ Hồ Chí Minh luôn có sự hòa hợp, thống nhất giữa hai đặc điểm: chất “thép” và chất trữ tình.
- Lí giải:
+ Cội nguồn của chất trữ tình chính là tấm lòng “đại nhân” của Người. Cội nguồn của chất “thép” chính là phẩm chất “đại dũng”, là tinh thần kiên gan vốn có ở người chiến sĩ cộng sản.
+ Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh: Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
* Chứng minh nhận định
- Chất “thép” trong Chiều tối:
+ Thời điểm chiều tối: thời khắc cuối cùng của hành trình lao giải, tù nhân hẳn rất mệt mỏi và buồn nhớ quê hương. Nhưng trong người chiến sĩ cộng sản, cảm hứng thơ ca vẫn cất lên tự nhiên, bay bổng với những hình ảnh thơ hướng về sự sống, ánh sáng.
+ Hai câu thơ đầu: Người tù - chiến sĩ đã hoàn toàn quên đi cảnh ngộ riêng của mình để bày tỏ lòng yêu mến, đồng cảm với cánh chim chiều và chòm mây cô đơn.
+ Hai câu sau:
• Hình ảnh thơ hướng đến sự sống con người.
• Hình ảnh thơ đẹp, khoẻ khoắn: con người trong lao động.
• Chữ hồng ở vị trí cuối cùng của bài thơ nhưng đủ sức toả sáng và làm ấm lại không gian chiều tối miền sơn cước.
⟶ Ý chí thép, tinh thần thép đã kết đọng trong cảm hứng thơ để rồi bật lên thành những câu thơ tuyệt hay, tuyệt đẹp.
- Chất trữ tình trong bài thơ:
+ Hai câu thơ đầu thể hiện sự gắn bó, tấm lòng yêu thiên nhiên, tấm lòng vị tha, nhân ái của Hồ Chí Minh.
+ Hai câu sau là niềm vui, là tấm lòng nâng niu, trừu mến, chút reo vui trước cuộc sống bình thường nghèo khổ nhưng bình yên (Lê Trí Viễn).
⟶ Sự hòa hợp, thống nhất giữa chất trữ tình và chất “thép”, giữa xúc cảm và ý chí kiên cường chính là một trong những nét phong cách nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của nhà thơ - chiến sĩ Hồ Chí Minh.
Câu 10 [561524]: Từ bài thơ Mộ (“Chiều tối” - Hồ Chí Minh), anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về nghị lực sống phi thường của con người.
Bài viết cần bảo đảm các ý sau:
* Giới thiệu vấn đề cần bàn luận
- Nghị lực sống phi thường của con người
* Nghị lực phi thường của nhân vật trữ tình trong bài thơ Mộ
Trong hoàn cảnh lao tù, bị đày ải về thể xác nhưng người tù cộng sản luôn quên đi cảnh ngộ của bản thân để hướng cái nhìn ra vạn vật, tìm sự đồng điệu từ đó bày tỏ tình yêu thương, sự thấu hiểu, đồng cảm.
* Bình luận về nghị lực sống phi thường của con người
- Ý chí, nghị lực sống là một trong những di sản tinh thần quý giá nhất mà Hồ Chí Minh đã di chúc lại cho dân tộc ta.
- Việc rèn giũa ý chí, nghị lực là điều thiết thực nên thực hiện trong cuộc sống. Mỗi người phải rèn luyện ý chí, nghị lực vì đó là tấm bảo hiểm duy nhất cho cuộc sống đầy thách thức, cam go.
- Muốn có ý chí, nghị lực: Không nói “không” trước mọi hoàn cảnh khắc nghiệt, kiên trì, nhẫn nại, không ngại khó, ngại khổ; đặt ra những mục tiêu, đích đến nhất định để phấn đấu cũng là một cách rèn luyện ý chí; luôn giữ tâm thế thoải mái, lạc quan, chủ động khi làm việc, không để hoàn cảnh trấn áp tinh thần; ý chí, nghị lực phải đi liền với lòng quyết tâm cao độ,...
* Rút ra bài học nhận thức và hành động
* Giới thiệu vấn đề cần bàn luận
- Nghị lực sống phi thường của con người
* Nghị lực phi thường của nhân vật trữ tình trong bài thơ Mộ
Trong hoàn cảnh lao tù, bị đày ải về thể xác nhưng người tù cộng sản luôn quên đi cảnh ngộ của bản thân để hướng cái nhìn ra vạn vật, tìm sự đồng điệu từ đó bày tỏ tình yêu thương, sự thấu hiểu, đồng cảm.
* Bình luận về nghị lực sống phi thường của con người
- Ý chí, nghị lực sống là một trong những di sản tinh thần quý giá nhất mà Hồ Chí Minh đã di chúc lại cho dân tộc ta.
- Việc rèn giũa ý chí, nghị lực là điều thiết thực nên thực hiện trong cuộc sống. Mỗi người phải rèn luyện ý chí, nghị lực vì đó là tấm bảo hiểm duy nhất cho cuộc sống đầy thách thức, cam go.
- Muốn có ý chí, nghị lực: Không nói “không” trước mọi hoàn cảnh khắc nghiệt, kiên trì, nhẫn nại, không ngại khó, ngại khổ; đặt ra những mục tiêu, đích đến nhất định để phấn đấu cũng là một cách rèn luyện ý chí; luôn giữ tâm thế thoải mái, lạc quan, chủ động khi làm việc, không để hoàn cảnh trấn áp tinh thần; ý chí, nghị lực phải đi liền với lòng quyết tâm cao độ,...
* Rút ra bài học nhận thức và hành động