I. Hướng theo kì thi đánh giá năng lực (Quốc gia Hà Nội, Quốc gia Hồ Chí Minh, Sư phạm Hà Nội, Sư phạm Hồ Chí Minh)
Virus HIV có khả năng gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (AIDS) thuộc nhóm retrovirus có tế bào chủ là tế bào lympho T-CD4+. Trong chu trình xâm nhập của virus vào tế bào chủ, gai glycoprotein (gp120) của HIV gắn đặc hiệu với thụ thể CD4 và đòng thụ thể CCR5 trên màng sinh chất của tế bào chủ. Hình sau biểu thị mối liên kết giữa gai gp120 và các thụ thể trong chu trình xâm nhập của virus HIV vào tế bào. Nhiễm trùng ban đầu có thể gây ra bệnh sốt không đặc hiệu. Các triệu chứng tiếp theo liên quan đến suy giảm miễn dịch – tỉ lệ thuận với mức suy giảm CD4+. HIV có thể trực tiếp gây tổn thương não, tuyến sinh dục, thận và tim, gây suy giảm nhận thức, suy sinh dục, suy thận hoặc bệnh cơ tim. Các biểu hiện bao gồm từ việc mang virus không có triệu chứng đến HIV giai đoạn cuối (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải [AIDS]), được xác định bằng sự hiện diện của một căn bệnh xác định bệnh AIDS (nhiễm trùng cơ hội nghiêm trọng hoặc ung thư) hoặc số lượng CD4 < 200/mcL.
Cho biết rằng Maraviroc là loại thuốc có khả năng bám vào đồng thụ thể CCR5 và làm thay đổi vị trí gắn của thụ thể với gai gp120. Những nhà khoa học đã thấy rằng một số trường hợp virus HIV vẫn có khả năng xâm nhập vào tế bào lympho T mặc dù có mặt của maraviroc gắn trên thụ thể CCR5.
Dựa vào đoạn thông tin trên và trả lời các câu hỏi sau:

Lời giải chi tiết
A. Gai glycoprotein gp120 của HIV gắn đặc hiệu với thụ thể CD4 và đồng thụ thể CCR5 hoặc CXCR4 trên màng tế bào lympho T-CD4+, giúp virus xâm nhập. ✅ Đúng
B. gp120 chỉ gắn với thụ thể CD4 là chưa đủ để HIV xâm nhập, cần có thêm đồng thụ thể CCR5 hoặc CXCR4. ❌ Sai
C. HIV chỉ sử dụng một trong hai đồng thụ thể (CCR5 hoặc CXCR4), không dùng cả hai cùng lúc, nên nói “và” là không chính xác. ❌ Sai
D. Gai glycoprotein gp120 là của virus HIV, không phải của tế bào vật chủ, nên nói như vậy là sai bản chất. ❌ Sai
Đáp án: ALời giải chi tiết
A. gp120 luôn cần có đồng thụ thể CCR5 hoặc CXCR4 để hoàn tất quá trình xâm nhập, không thể chỉ gắn với CD4 là đủ dù có thay đổi cấu trúc. ❌
B. Đây là cơ chế tác dụng của maraviroc, nhưng không giải thích được vì sao HIV vẫn xâm nhập khi có mặt thuốc. ❌
C. Một số chủng HIV đột biến làm gp120 thay đổi hình dạng, vẫn có thể gắn vào CCR5 dù đã có maraviroc gắn, nên virus vẫn xâm nhập được. ✅
D. Maraviroc không gắn vào CD4 mà gắn vào CCR5, nên thông tin này sai hoàn toàn. ❌
Đáp án: CLời giải chi tiết:
A. HIV có tốc độ đột biến rất cao, đặc biệt dưới áp lực của thuốc. Việc xuất hiện các chủng kháng thuốc có thể khiến thuốc không còn ức chế hiệu quả, dẫn đến tải lượng virus không giảm và tế bào CD4+ tiếp tục suy giảm. ✅
B. Thuốc ức chế protease có chức năng ngăn cản việc tạo thành protein virus hoàn chỉnh, từ đó giảm sự lây lan của virus, chứ không làm virus tăng sinh. Nhận định sai hoàn toàn. ❌
C. Thuốc này ức chế quá trình phiên mã ngược, không kích hoạt tế bào CD4+ hay làm chúng chết đi. Không đúng về cơ chế. ❌
D. ART được dùng để ngăn virus nhân lên và bảo vệ tế bào CD4+, vì vậy số lượng CD4+ tiếp tục giảm là dấu hiệu thất bại điều trị, không phải bình thường. ❌
Đáp án: AĐọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 4 đến 6:

Chú thích (+): Biểu hiện triệu chứng/kết quả xét nghiệm dương tính
(–): Không biểu hiện triệu chứng/kết quả xét nghiệm âm tính

Giả sử virus SARS-CoV-2 chưa phát sinh thêm đột biến mới, ban đầu chỉ có 1 chủng gây bệnh, thì những người nên ưu tiên tiêm vaccine phòng ngừa bệnh viêm đường hô hấp cấp là [_______] và [_______] .
Giải thích:
- Nhìn vào bảng 1, ta thấy bệnh nhân số 1 và số 5 đều không mắc bệnh Covid-19, tức là trong cơ thể của 2 người này đều chưa tồn tại kháng thể đặc hiệu với chủng virus SARS-CoV-2 này. Nên những người bệnh này cần được ưu tiên tiêm vaccine. Những người bệnh còn lại đều đưa ra kết quả xét nghiệm là đã từng, hoặc đang mắc bệnh Covid-19, những bệnh nhân này cơ thể đã/đang/sẽ sinh ra kháng thể tương ứng, và kháng thể IgG có trí nhớ miễn dịch, có khả năng nhận diện lại nếu kháng nguyên này xâm nhập vào một lần nữa.
Bệnh nhân đang bị nhiễm virus SARS-CoV-2 chưa biểu hiện thành triệu chứng là bệnh nhân số [________].
Giải thích:
- Bệnh nhân số 3 bệnh nhân số 5 bệnh nhân số 1 bệnh nhân số 2 bệnh nhân số 4. Nhìn vào bảng 1, ta thấy bệnh nhân số 2 xét nghiệm PCR ra kết quả dương tính, trong khi đó không có biểu hiện bệnh, xét nghiệm kháng thể IgG và IgM đều âm tính, chứng tỏ bệnh ở giai đoạn mới đầu, chưa sinh ra kháng thể, chỉ khi xét nghiệm RT-PCR nhằm xác định sự có mặt của vật chất di truyền virus thì mới phát hiện bệnh.
Trong trường hợp tất cả các bệnh nhân đều chưa tiêm vaccine thì bệnh nhân có khả năng cao nhất bị nhiễm virus SARS-CoV-2 nhưng đã được điều trị khỏi bệnh là bệnh nhân số ________.
Trong trường hợp tất cả các bệnh nhân đều chưa tiêm vaccine thì bệnh nhân có khả năng cao nhất bị nhiễm virus SARS-CoV-2 nhưng đã được điều trị khỏi bệnh là bệnh nhân số 3.
Giải thích:
- IgG cùng với IgM là hai kháng thể đặc biệt giúp chống lại virus SARS-CoV-2. IgG có trong máu người đã nhiễm Covid 19 sau một khoảng thời gian nhất định (thường là giai đoạn phục hồi), hoặc ở những người đã tiêm vaccine phòng Covid-19. Trong trường hợp này, đề bài loại trừ trường hợp kháng thể IgG xuất hiện do tiêm vaccine, nên sự xuất hiện của kháng thể IgG ở người nào chứng tỏ người đó đã từng nhiễm Covid-19. Nhìn vào bảng 1, ta chỉ thấy duy nhất bệnh nhân số 3 có kết quả dương tính với IgG, ngoài ra không biểu hiện triệu chứng nào, đồng thời kết quả xét nghiệm RT-PCR và IgM đều âm tính chứng tỏ người này đã từng nhiễm virus SARS-CoV-2 nhưng đã được điều trị khỏi bệnh.
II. Hướng theo kì thi đánh giá tư duy Bách Khoa Hà Nội
Vào năm 1921, Frederick Banting và sinh viên Charles Best đã phát hiện ra insulin, một hormone quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Họ phát hiện rằng tuyến tụy sản xuất insulin, giúp giảm lượng đường trong máu. Banting và Best tiến hành thí nghiệm trên chó và phát hiện rằng insulin có khả năng điều chỉnh đường huyết hiệu quả.
John Macleod, một nhà sinh lý học người Scotland, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và hướng dẫn Banting và Best. Ông cung cấp thiết bị và điều kiện nghiên cứu cần thiết.
Phát hiện insulin đã cách mạng hóa điều trị bệnh tiểu đường. Trước đó, bệnh tiểu đường thường dẫn đến tử vong vì không có phương pháp điều trị hiệu quả. Việc sử dụng insulin, chiết xuất từ tuyến tụy động vật, đã cứu sống hàng triệu người và nâng cao chất lượng cuộc sống. Hiện nay, insulin được tổng hợp bằng công nghệ sinh học và có nhiều dạng khác nhau để phù hợp với nhu cầu bệnh nhân.
Frederick Banting và John Macleod được trao giải Nobel Sinh lý học và Y học năm 1923 để ghi nhận đóng góp của họ. Những phát hiện của họ không chỉ cứu sống hàng triệu người mà còn mở ra kỷ nguyên mới trong điều trị bệnh tiểu đường, chứng minh tầm quan trọng của sự sáng tạo và hợp tác trong y học.
Lời giải: B
Bệnh tiểu đường loại 1 là do thiếu insulin hoàn toàn do tuyến tụy không sản xuất đủ insulin, trong khi bệnh tiểu đường loại 2 chủ yếu liên quan đến sự kháng insulin, và có thể được điều trị bằng thuốc uống hoặc thay đổi lối sống.
A. Một số bệnh nhân tiểu đường loại 2 vẫn cần dùng insulin, đặc biệt khi thuốc uống không kiểm soát tốt đường huyết. Vì vậy nói “không cần thiết” là không chính xác. ❌
B. Tiểu đường loại 1 là do tuyến tụy không sản xuất insulin, nên bắt buộc phải tiêm insulin.
Tiểu đường loại 2 là do các tế bào kém nhạy cảm với insulin (kháng insulin), nên điều trị ưu tiên là thuốc uống và thay đổi lối sống, chứ không phải insulin ngay từ đầu. ✅
C. Sai. Insulin vẫn có hiệu quả với bệnh tiểu đường loại 2, nhất là ở giai đoạn muộn hoặc trong trường hợp cấp cứu. ❌
D. Sai. Insulin không chữa khỏi mà chỉ giúp kiểm soát đường huyết. Tiểu đường loại 2 là mạn tính, không có thuốc chữa khỏi hoàn toàn. ❌
Đáp án: BA. Trong thí nghiệm của Banting và Best, chó được sử dụng vì tuyến tụy và cơ chế điều hòa đường huyết của chúng tương đồng với con người, giúp các nhà khoa học phát hiện và kiểm chứng tác dụng hạ đường huyết của insulin, từ đó áp dụng vào điều trị tiểu đường ở người. ✅
B. Không có bằng chứng cho thấy chó được chọn vì khả năng "chịu đựng điều trị" tốt hơn. Đây không phải lý do chính trong thiết kế thí nghiệm. ❌
C. Mặc dù chó có thể nuôi và theo dõi được, đây không phải lý do quan trọng nhất trong việc chọn chó làm mô hình nghiên cứu insulin. ❌
D. Hệ miễn dịch không liên quan đến việc phát hiện insulin – đây là hormone điều hòa đường huyết, không phải yếu tố miễn dịch. ❌
Đáp án: A"Mặc dù insulin là phương pháp điều trị chính cho bệnh tiểu đường loại 1, nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng việc điều trị bằng insulin không cần phải điều chỉnh liều thường xuyên nếu sử dụng các dạng insulin giải phóng chậm, vì chúng tự động điều chỉnh nồng độ glucose trong máu mà không cần sự can thiệp của bệnh nhân."
vì nó giả định rằng các dạng insulin giải phóng chậm có thể tự động điều chỉnh nồng độ glucose mà không cần điều chỉnh liều. Mặc dù các dạng insulin giải phóng chậm giúp duy trì mức glucose ổn định hơn, điều chỉnh liều insulin vẫn cần thiết để đáp ứng sự thay đổi trong chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, và các yếu tố khác ảnh hưởng đến lượng đường trong máu. Công nghệ hiện tại giúp cải thiện quản lý bệnh tiểu đường, nhưng không thể hoàn toàn thay thế sự cần thiết phải theo dõi và điều chỉnh liều lượng insulin theo nhu cầu cá nhân của bệnh nhân. Đáp án: B
2. Sai. Mặc dù hệ thống theo dõi glucose liên tục cung cấp thông tin liên tục và tiện lợi hơn, việc đo glucose thủ công vẫn cần thiết để kiểm tra độ chính xác của hệ thống và để có dữ liệu bổ sung khi cần thiết.
3. Đúng. Công nghệ tái tổ hợp ADN đã tạo ra một bước tiến lớn trong sản xuất insulin, cho phép sản xuất insulin nhân tạo giống hệt insulin người và giảm nguy cơ phản ứng phụ so với các nguồn insulin từ động vật.
4. Sai. Mặc dù bơm insulin hiện đại có thể tự động điều chỉnh một số khía cạnh của liều lượng insulin, bệnh nhân và bác sĩ vẫn cần theo dõi và điều chỉnh cài đặt dựa trên các yếu tố như chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, và tình trạng sức khỏe.
5. Đúng. Bệnh nhân tiểu đường loại 1 không sản xuất insulin tự nhiên, vì vậy điều trị bằng insulin là cần thiết suốt đời, bất kể mức đường huyết hiện tại.

Có bao nhiêu ý kiến đúng trong những ý kiến dưới đây
I. Chuột đột biến Db sản xuất dư thừa một chất thèm ăn.
II. Các sản phẩm của gen Ob và gen Db hoạt động trong cùng một con đường tín hiệu.
III. Sản phẩm của gen Ob kiểu dại (chưa đột biến) kích thích lên con đường tín hiệu hoạt hóa nhân vòm.
IV. Trường hợp béo phì ở người có thể được điều trị lâu dài bằng cách bổ sung hoocmon leptin.
I. Đúng. Khi nối chuột Db với chuột kiểu dại, chuột kiểu dại ăn ít dẫn đến kiểu hình gầy hơn. Vì vậy chuột Db phải sản xuất một chất ức chế thèm ăn dư thừa, dẫn đến khi truyền máu vào chuột Wt thì cân nặng WT giảm.
II. Đúng. Khi nối máu của Db với Ob thì các chất trong máu Db làm chuột Ob gầy lại, chứng tỏ chất ức chế thèm ăn trong máu của Db có thể cùng con đường truyền tín hiệu với các chất được tạo ra bởi con Ob.
III. Đúng. Ở các con chuột bị tổn thương nhân vòm, cân nặng của chúng tăng bất thường, vì vậy phải có một chất nào đó có tác động ức chế sự thèm ăn được tổng hợp bởi con đường truyền tín hiệu liên quan đến nhân vòm. Tức đột biến gây tổn thương nhân vòm thì sẽ làm tăng sự thèm ăn. Vậy sản phẩm của gen Ob kiểu dại có thể kích thích lên nhân vòm, làm giảm sự thèm ăn.
IV. Sai. Ở những người béo phì do sai hỏng gen quy định thụ thể leptin thì các tế bào neuron có vai trò gây ra cảm giác no và các tế bào neuron gây ra cảm giác thèm ăn sẽ không tiếp nhận được tín hiệu leptin ➔ Các tế bào neuron gây ra cảm giác thèm ăn sẽ có mức độ hưng phấn cao do không bị ức chế bởi leptin ➔ Gây ra cảm giác thèm ăn ➔ người bệnh vẫn ăn nhiều ➔ vẫn béo phì. Đáp án: C
Khi mắc bệnh cúm hoặc bất kỳ bệnh nhiễm trùng nào khác, cơ thể sẽ phản ứng lại bằng cách tăng cường sản xuất các hormone stress như cortisol và adrenaline. Các hormone này làm tăng mức đường huyết để cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể chống lại bệnh tật, đồng thời gây ra sự đề kháng insulin. Do đó, nhu cầu insulin của bệnh nhân tiểu đường type 1 thường tăng lên trong những giai đoạn này. Đáp án: D
Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời câu hỏi từ 7 đến 12:
Hormone TRH (Thyrotropin-Releasing Hormone) là một hormone được sản xuất và tiết ra bởi vùng dưới đồi trong não. TRH kích thích tuyến yên trước để tiết ra TSH (Thyroid-Stimulating Hormone), một hormone có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của tuyến giáp.
TRH là yếu tố kích thích chính để tuyến yên tiết ra TSH. Khi TSH được giải phóng, nó sẽ kích thích tuyến giáp sản xuất và tiết ra các hormone tuyến giáp, chủ yếu là thyroxine (T4) và triiodothyronine (T3). Những hormone này sau đó điều chỉnh nhiều chức năng trong cơ thể, bao gồm quá trình trao đổi chất, sự tăng trưởng và phát triển. Hệ thống hormone này hoạt động dựa trên cơ chế phản hồi âm. Khi nồng độ hormone tuyến giáp (T3 và T4) trong máu tăng lên, chúng sẽ ức chế sự tiết ra của TRH từ vùng dưới đồi và TSH từ tuyến yên. Ngược lại, khi nồng độ các hormone này giảm, sự tiết ra TRH và TSH sẽ tăng lên để khôi phục sự cân bằng.
Mỗi mẫu trong 6 mẫu xét nghiệm (từ A đến F) tương ứng với mỗi bệnh nhân được chẩn đoán một bệnh dưới đây. Chọn đáp án đúng
Bệnh nhân bị tăng nhạy cảm của thụ thể với TSH ở tuyến giáp. Tương ứng với mẫu C
Vì tăng nhạy cảm của thụ thể với TSH ở tuyến giáp ➔ tuyến giáp tăng tiết tirôxin ➔ tirôxin tăng ➔ tăng ức chế ngược lên tuyến yên, vùng dưới đồi ➔ giảm tiết TSH và TRH (tương ứng mẫu C). Đáp án: B
Người này đang gặp vấn đè cường giáp Đáp án: B