NHIỆT KẾ THỦY NGÂN
Nhiệt kế thủy ngân là một trong những loại nhiệt kế phổ biến nhất, được sử dụng rộng rãi để đo nhiệt độ trong nhiều lĩnh vực, từ y tế đến công nghiệp và gia đình. Nguyên lý hoạt động của nhiệt kế thủy ngân dựa trên sự giãn nở vì nhiệt của chất lỏng.Cấu tạo cơ bản của nhiệt kế thủy ngân bao gồm một ống thủy tinh nhỏ, bên trong có chứa một lượng thủy ngân. Một đầu của ống được bịt kín, đầu còn lại là bầu chứa thủy ngân. Trên thân ống thủy tinh có vạch chia độ để người dùng có thể đọc được nhiệt độ. Khi nhiệt độ môi trường tăng lên, thủy ngân trong bầu sẽ giãn nở và dâng lên trong ống mao dẫn. Ngược lại, khi nhiệt độ giảm, thủy ngân sẽ co lại và hạ xuống.
Thủy ngân được chọn làm chất lỏng trong nhiệt kế vì nó có một số đặc tính ưu việt. Thứ nhất, thủy ngân là kim loại lỏng ở nhiệt độ phòng, có điểm đóng băng thấp (-38,83 °C) và điểm sôi cao (356,7 °C), cho phép nó đo được một dải nhiệt độ rộng. Thứ hai, thủy ngân không bám vào thành ống thủy tinh, giúp việc đọc kết quả chính xác hơn. Thứ ba, thủy ngân có hệ số giãn nở nhiệt tương đối đồng đều, đảm bảo độ tuyến tính trong phép đo.
Tuy nhiên, nhiệt kế thủy ngân cũng có nhược điểm. Thủy ngân là một kim loại nặng độc hại. Nếu nhiệt kế bị vỡ, thủy ngân có thể thoát ra ngoài gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường. Do đó, việc xử lý và bảo quản nhiệt kế thủy ngân cần hết sức cẩn thận. Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, các loại nhiệt kế điện tử và nhiệt kế hồng ngoại đang dần thay thế nhiệt kế thủy ngân trong nhiều ứng dụng để đảm bảo an toàn.
Câu 1 [1072442]: Cho các phát biểu sau:
(I). Nguyên lí hoạt động của nhiệt kế thủy ngân dựa trên sự dãn nở vì nhiệt của chất lỏng.
(II). Nhiệt kế thủy ngân có ưu điểm hệ số dãn nở tương đối đồng đều đảm bảo độ tuyến tính cho phép đo.
(III). Nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, thủy ngân thoát ra có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.
(IV). Nhiệt độ ở vùng Seberia vào một ngày mùa đông là -45 °C, ta có thể dùng nhiệt kế thủy ngân để đo giá trị nhiệt độ này.
Theo bài đọc, số phát biểu đúng là
(I). Nguyên lí hoạt động của nhiệt kế thủy ngân dựa trên sự dãn nở vì nhiệt của chất lỏng.
(II). Nhiệt kế thủy ngân có ưu điểm hệ số dãn nở tương đối đồng đều đảm bảo độ tuyến tính cho phép đo.
(III). Nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, thủy ngân thoát ra có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.
(IV). Nhiệt độ ở vùng Seberia vào một ngày mùa đông là -45 °C, ta có thể dùng nhiệt kế thủy ngân để đo giá trị nhiệt độ này.
Theo bài đọc, số phát biểu đúng là
A, 1.
B, 2.
C, 3.
D, 4.
(I). Nguyên lí hoạt động của nhiệt kế thủy ngân dựa trên sự dãn nở vì nhiệt của chất lỏng.
ĐÚNG
(II). Nhiệt kế thủy ngân có ưu điểm hệ số dãn nở tương đối đồng đều đảm bảo độ tuyến tính cho phép đo.
ĐÚNG "Thứ ba, thủy ngân có hệ số giãn nở nhiệt tương đối đồng đều, đảm bảo độ tuyến tính trong phép đo."
(III). Nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, thủy ngân thoát ra có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.
ĐÚNG.Thủy ngân là một kim loại nặng độc hại. Nếu nhiệt kế bị vỡ, thủy ngân có thể thoát ra ngoài gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường.
(IV). Nhiệt độ ở vùng Seberia vào một ngày mùa đông là -45 °C, ta có thể dùng nhiệt kế thủy ngân để đo giá trị nhiệt độ này.
SAI. Thủy ngân là kim loại lỏng ở nhiệt độ phòng, có điểm đóng băng thấp (-38,83 °C) và điểm sôi cao (356,7 °C), cho phép nó đo được một dải nhiệt độ rộng.
Số phát biểu đúng là: (I), (II), (III)
Chọn C Đáp án: C
ĐÚNG(II). Nhiệt kế thủy ngân có ưu điểm hệ số dãn nở tương đối đồng đều đảm bảo độ tuyến tính cho phép đo.
ĐÚNG "Thứ ba, thủy ngân có hệ số giãn nở nhiệt tương đối đồng đều, đảm bảo độ tuyến tính trong phép đo."(III). Nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, thủy ngân thoát ra có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.
ĐÚNG.Thủy ngân là một kim loại nặng độc hại. Nếu nhiệt kế bị vỡ, thủy ngân có thể thoát ra ngoài gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường.(IV). Nhiệt độ ở vùng Seberia vào một ngày mùa đông là -45 °C, ta có thể dùng nhiệt kế thủy ngân để đo giá trị nhiệt độ này.
SAI. Thủy ngân là kim loại lỏng ở nhiệt độ phòng, có điểm đóng băng thấp (-38,83 °C) và điểm sôi cao (356,7 °C), cho phép nó đo được một dải nhiệt độ rộng.Số phát biểu đúng là: (I), (II), (III)
Chọn C Đáp án: C
Câu 2 [1072443]: Một nhiệt kế thủy ngân hiển thị nhiệt độ đo bên trong nhà và bên ngoài trời lúc 10 giờ sáng một ngày mùa đông.

Chênh lệch nhiệt độ trong nhà và ngoài trời là

Chênh lệch nhiệt độ trong nhà và ngoài trời là
A, 15 °C.
B, 24 °C.
C, 16 °C.
D, 17 °C.
Theo nhiệt kế ta có:
+) Nhiệt độ bên trong nhà là 21 °C
+) Nhiệt độ bên ngoài trời là -3 °C
Chênh lệch nhiệt độ trong nhà và ngoài trời: 21-(-3)=24 °C
Chọn Chọn B Đáp án: B
+) Nhiệt độ bên trong nhà là 21 °C
+) Nhiệt độ bên ngoài trời là -3 °C
Chênh lệch nhiệt độ trong nhà và ngoài trời: 21-(-3)=24 °C
Chọn Chọn B Đáp án: B
Câu 3 [1072444]: Một thước cm được đặt dọc theo một nhiệt kế thủy ngân chưa được chia vạch như hình dưới đây.

Trên nhiệt kế chỉ đánh dấu điểm đóng băng và điểm sôi của nước tinh khiết ở áp suất tiêu chuẩn. Giá trị nhiệt độ đang hiển thị trên nhiệt kế là bao nhiêu?

Trên nhiệt kế chỉ đánh dấu điểm đóng băng và điểm sôi của nước tinh khiết ở áp suất tiêu chuẩn. Giá trị nhiệt độ đang hiển thị trên nhiệt kế là bao nhiêu?
A, 56 °C.
B, 60 °C.
C, 66 °C.
D, 44 °C.
+) Ta có
bằng
khoảng nhiệt độ giữa điểm đóng băng và điểm sôi của nước.
+) Khoách cách
ứng với độ dài trên thước: 
+) Từ hình vẽ ta thấy khoảng cách từ điểm đóng băng đến điểm sôi của nước là 10cm
+) Khoảng cách từ nhiệt độ đang đo đến điểm đóng băng là:
+) Ứng với khoảng nhiệt độ trên nhiệt kế:
Chọn A
Đáp án: A
bằng
khoảng nhiệt độ giữa điểm đóng băng và điểm sôi của nước. +) Khoách cách
ứng với độ dài trên thước: 
+) Từ hình vẽ ta thấy khoảng cách từ điểm đóng băng đến điểm sôi của nước là 10cm
+) Khoảng cách từ nhiệt độ đang đo đến điểm đóng băng là:

+) Ứng với khoảng nhiệt độ trên nhiệt kế:

Chọn A
Đáp án: A