Henery Becaquerel phát hiện ra chất phóng xạ vào năm 1896 hoàn toàn một cách tình cờ. Các thí nghiệm được thực hiện sau đó cho thấy phóng xạ là hiện tượng một hạt nhân không bền vững tự động phân rã, phát ra các tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân nguyên tử khác. Các nguyên tố phóng xạ phát ra các phóng xạ alpha α, beta β và gamma γ, gọi là các tia phóng xạ và chúng có thể làm đen kính ảnh.

Hình vẽ. Thí nghiệm tính đâm xuyên của các tia phóng xạ qua các vật liệu khác nhau.

Hình vẽ. Thí nghiệm tác dụng của từ trường lên các hạt α, β và γ.

Hình vẽ. Thí nghiệm tính đâm xuyên của các tia phóng xạ qua các vật liệu khác nhau.

Hình vẽ. Thí nghiệm tác dụng của từ trường lên các hạt α, β và γ.
Câu 1 [1072547]: Phóng xạ được phát hiện bởi
A, Henery Becaquerel.
B, Rutherford.
C, J.Thomson.
D, Marie Curie.
Henery Becaquerel phát hiện ra chất phóng xạ vào năm 1896 hoàn toàn một cách tình cờ.
Chọn A Đáp án: A
Chọn A Đáp án: A
Câu 2 [1072548]: Tia nào sau đây không phải là tia phóng xạ?
A, Tia γ.
B, Tia β+.
C, Tia α.
D, Tia X.
Các nguyên tố phóng xạ phát ra các phóng xạ alpha α, beta β và gamma γ, gọi là các tia phóng xạ.
Chọn B Đáp án: B
Chọn B Đáp án: B
Câu 3 [1072549]: Cho 4 tia phóng xạ: tia α, tia β+, tia β– và tia γ đi vào một miền có điện trường đều (như hình vẽ trên) theo phương vuông góc với đường sức điện. Tia phóng xạ không bị lệch khỏi phương truyền ban đầu là
A, tia γ.
B, tia β–.
C, tia β+.
D, tia α.
Tia γ là sóng điện từ, không mang điện tích nên khi đi vào một miền có điện trường đều không bị lệch khỏi phương truyền.
Chọn A Đáp án: A
Chọn A Đáp án: A