THÍ NGHIỆM BIẾN TÍNH PROTEIN
Urea và β-mercaptoethanol là hai hợp chất gây biến tính protein. Để tìm hiểu cấu trúc bậc bốn của một phân tử protein (protein trên màng tế bào), người ta tiến hành thí nghiệm xử lý phân tử protein này bằng hai hợp chất trên rồi tiến hành phân tích sản phẩm thu được. Kết quả thí nghiệm thu được như sau: Thí nghiệm 1: Khi xử lý bằng dung dịch urea 6M chỉ thu được hai protein có khối lượng tương ứng là 100 kDa và 120 kDa.
Thí nghiệm 2: Khi xử lý bằng dung dịch urea 6M bổ sung β-mercaptoethanol thu được ba loại protein có khối lượng tương ứng là 20kDa, 30 kDa và 50 kDa.
Biết β-mercaptoethanol oxy hóa liên kết disulfide, trong khi urea phá vỡ tất cả các liên kết yếu (không phải liên kết cộng hóa trị) bên trong phân tử protein. Số lượng chuỗi polypeptide của phân tử này không quá 6 chuỗi.
Câu 1 [1074224]: Khối lượng của phân tử protein này là bao nhiêu?
A, 100 kDa.
B, 120 kDa.
C, 220 kDa.
D, 20 kDa.
Dung dịch urea phá vỡ các liên kết yếu (liên kết hydro, lực Van der Waals và lực liên kết ion) bên trong phân tử protein. ➔ hai khối protein thu được là hai khối được tách ra từ phân tử protein trên.
Phân tử này có khối lượng: 100 + 120 = 220 kDa. Đáp án: C
Phân tử này có khối lượng: 100 + 120 = 220 kDa. Đáp án: C
Câu 2 [1074225]: Cấu trúc bậc bốn của phân tử protein ban đầu gồm bao nhiêu chuỗi polypeptide, và mỗi chuỗi có khối lượng bao nhiêu?
A, Protein gồm 6 chuỗi polypeptide, với khối lượng lần lượt là 20 kDa, 30 kDa và 50 kDa.
B, Protein gồm 4 chuỗi polypeptide, với khối lượng lần lượt là 50 kDa, 50 kDa, 20 kDa và 30 kDa.
C, Protein gồm 2 chuỗi polypeptide, với khối lượng lần lượt là 100 kDa và 120 kDa.
D, Protein gồm 3 chuỗi polypeptide, với khối lượng lần lượt là 100 kDa, 20 kDa và 30 kDa.
Trường hợp 1:
- Tiểu phần protein 100 kDa được cấu tạo từ 3 chuỗi polypeptide: 1 chuỗi 50 kDa, 1 chuỗi 30 kDa, 1 chuỗi 20 kDa.
- Tiểu phần protein 120 kDa được cấu tạo từ 2 chuỗi polypeptide: 2 chuỗi 50 kDa, 1 chuỗi 20 kDa.
Trường hợp 2:
- Tiểu phần protein 100 kDa được cấu tạo từ 2 chuỗi polypeptide: 2 chuỗi 50 kDa.
- Tiểu phần protein 120 kDa được cấu tạo từ 4 chuỗi polypeptide: 1 chuỗi 50 kDa, 1 chuỗi 30 kDa, 2 chuỗi 20 kDa. Đáp án: A
- Tiểu phần protein 100 kDa được cấu tạo từ 3 chuỗi polypeptide: 1 chuỗi 50 kDa, 1 chuỗi 30 kDa, 1 chuỗi 20 kDa.
- Tiểu phần protein 120 kDa được cấu tạo từ 2 chuỗi polypeptide: 2 chuỗi 50 kDa, 1 chuỗi 20 kDa.
Trường hợp 2:
- Tiểu phần protein 100 kDa được cấu tạo từ 2 chuỗi polypeptide: 2 chuỗi 50 kDa.
- Tiểu phần protein 120 kDa được cấu tạo từ 4 chuỗi polypeptide: 1 chuỗi 50 kDa, 1 chuỗi 30 kDa, 2 chuỗi 20 kDa. Đáp án: A
Câu 3 [1074226]: Sau khi thực hiện thí nghiệm 1, người ta xem xét khả năng vận chuyển ion qua màng của loại protein này. Tuy nhiên, người ta nhận ra hàm lượng ion này hai bên màng không thay đổi. Nguyên nhân giải thích cho hiện tượng này là do?
A, Các chuỗi polypeptide bị phân tách làm mất liên kết cộng hóa trị giữa các chuỗi, dẫn đến mất khả năng vận chuyển ion.
B, Liên kết yếu và liên kết disulfide bị phá vỡ, làm protein không thể duy trì cấu trúc bậc ba cần thiết cho chức năng vận chuyển ion.
C, Các chuỗi polypeptide không thể tái gắn kết sau khi bị biến tính, làm cho protein Y bị phá hủy hoàn toàn.
D, Các chuỗi polypeptide tách rời và tái tổ hợp không đúng cách, làm cho protein Y chuyển thành enzyme, mất chức năng vận chuyển ion.
- Urea 6M và β mercaptoethanol phá vỡ các liên kết yếu và liên kết disulfide, làm thay đổi cấu trúc bậc ba và bậc bốn của protein.
- Cấu trúc bậc ba rất quan trọng để protein Y có thể duy trì các vị trí cần thiết cho việc vận chuyển ion. Khi cấu trúc này bị phá vỡ, protein Y không còn hoạt động bình thường nữa. Đáp án: B
- Cấu trúc bậc ba rất quan trọng để protein Y có thể duy trì các vị trí cần thiết cho việc vận chuyển ion. Khi cấu trúc này bị phá vỡ, protein Y không còn hoạt động bình thường nữa. Đáp án: B