QUÁ TRÌNH LỌC VÀ TÁI HẤP THU Ở THẬN
Insulin là chất được sử dụng để xác định tốc độ lọc ở cầu thận do toàn bộ insulin trong huyết tương đều được lọc qua cầu thận và không được tái hấp thu. Quá trình tái hấp thu urea ở ống thận được thực hiện theo cơ chế khuếch tán. Quá trình bài tiết ion K+ ở ống thận theo cơ chế vận chuyển chủ động. Bảng 1 thể hiện kết quả phân tích một số chỉ số liên quan đến bài tiết và tuần hoàn máu ở thận của một người bình thường khoẻ mạnh.
Câu 1 [1074320]: Dựa trên nồng độ insulin trong huyết tương và nước tiểu, tính tốc độ lọc ở cầu thận?
A, Tốc độ lọc ở cầu thận = 1,2 mL/ phút.
B, Tốc độ lọc ở cầu thận = 120 mL/ phút.
C, Tốc độ lọc ở cầu thận = 10 mL/ phút.
D, Tốc độ lọc ở cầu thận = 0,01 mL/ phút.
Đáp án: B
Câu 2 [1074321]: Nếu một người có thụ thể ADH (hormone chống lợi niệu) giảm nhạy cảm, thì tốc độ tái hấp thu urea trong ống thận sẽ thay đổi như thế nào?
A, Tốc độ tái hấp thu urea tăng, dẫn đến giảm nồng độ urea trong nước tiểu.
B, Tốc độ tái hấp thu urea không bị ảnh hưởng, nồng độ urea trong nước tiểu không thay đổi.
C, Tốc độ tái hấp thu urea giảm, dẫn đến tăng nồng độ urea trong nước tiểu.
D, Tốc độ tái hấp thu urea giảm, nhưng nồng độ urea trong nước tiểu vẫn không thay đổi.
ADH (Antidiuretic Hormone) điều chỉnh lượng nước tái hấp thu ở ống thận, ảnh hưởng đến nồng độ urea trong nước tiểu.
Thụ thể ADH giảm nhạy cảm dẫn đến giảm khả năng tái hấp thu nước ở ống lượn xa và ống góp → tăng áp suất thẩm thấu dịch kĩ vùng vỏ và tuỷ thận (giảm áp suất thẩm thấu trong ống thận, làm giảm nồng độ urea trong ống thận.
Tốc độ tái hấp thu urea thường giảm khi ADH không hoạt động hiệu quả, vì cơ chế chính để tái hấp thu urea phụ thuộc vào sự hiện diện của ADH, và giảm nhạy cảm với ADH sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu urea.
Kết quả là, lượng urea trong nước tiểu sẽ tăng do giảm tái hấp thu urea.
Đáp án: C
Thụ thể ADH giảm nhạy cảm dẫn đến giảm khả năng tái hấp thu nước ở ống lượn xa và ống góp → tăng áp suất thẩm thấu dịch kĩ vùng vỏ và tuỷ thận (giảm áp suất thẩm thấu trong ống thận, làm giảm nồng độ urea trong ống thận.
Tốc độ tái hấp thu urea thường giảm khi ADH không hoạt động hiệu quả, vì cơ chế chính để tái hấp thu urea phụ thuộc vào sự hiện diện của ADH, và giảm nhạy cảm với ADH sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu urea.
Kết quả là, lượng urea trong nước tiểu sẽ tăng do giảm tái hấp thu urea.
Đáp án: C
Câu 3 [1074322]: Người bị bệnh huyết áp thấp thường được điều trị bằng thuốc lợi tiểu để tăng cường chức năng thận và huyết áp. Trong trường hợp này, khả năng bài tiết K+ ở người bệnh này sẽ thay đổi như thế nào?
A, Khả năng bài tiết K+ tăng do cơ chế phản ứng của thận để điều chỉnh huyết áp thấp.
B, Khả năng bài tiết K+ giảm do huyết áp thấp dẫn đến giảm tốc độ lọc cầu thận, làm giảm bài tiết K+.
C, Khả năng bài tiết K+ tăng lên do thuốc lợi tiểu làm tăng bài tiết K+ qua thận.
D, Khả năng bài tiết K+ không thay đổi, vì huyết áp thấp không ảnh hưởng đến cơ chế bài tiết K+ ở thận.
Huyết áp thấp có thể làm giảm tốc độ lọc cầu thận (GFR) vì giảm lưu lượng máu qua thận → Giảm khả năng bài tiết K+ qua nước tiểu, vì ít máu hơn sẽ bị lọc qua thận, làm giảm sự bài tiết K+.
Thuốc lợi tiểu có thể ảnh hưởng đến mức K+ trong cơ thể, nhưng ở những người có huyết áp thấp, tốc độ lọc cầu thận giảm làm giảm khả năng bài tiết K+ mặc dù thuốc lợi tiểu có thể làm tăng bài tiết K+.
Cơ chế điều chỉnh huyết áp có thể liên quan đến sự thay đổi trong việc tái hấp thu và bài tiết các chất điện giải, nhưng giảm tốc độ lọc cầu thận có thể dẫn đến giảm bài tiết K+. Đáp án: B
Cơ chế điều chỉnh huyết áp có thể liên quan đến sự thay đổi trong việc tái hấp thu và bài tiết các chất điện giải, nhưng giảm tốc độ lọc cầu thận có thể dẫn đến giảm bài tiết K+. Đáp án: B