Chùm 01. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Lần đầu tôi xem thơ Phạm Hầu trên tạp chí Tao đàn, những bài thơ in bằng một thứ chữ chắc chắn, đậm nét. Lần ấy tôi bỏ qua. Hôm nay đại khái cũng những bài thơ ấy, tôi lại thích. Sự thay đổi đó tôi tin rằng một phần cũng vì những bài tôi xem hôm nay đều do tay tác giả chép bằng một lối chữ khác hẳn lối chữ Tao đàn ngày trước. Những chữ mảnh khảnh, nhỏ nét, nằm trên trang giấy như còn e thẹn, ngập ngừng. Lối chữ này đã giúp tôi hiểu Phạm Hầu dễ dàng hơn. Ở đời có những người nói to bước vững. Phạm Hầu quyết không phải trong hạng ấy. Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi. Người còn mải sống với mình và con người ta tưởng không có gì là một người giàu vô vạn. Lòng người là một vọng hải đài, người chỉ việc đứng trên đài lòng mà ngắm: qua lại thiếu gì mây sớm gió chiều. Một buổi trưa bình yên người thấy:
Có cái gì chuyển thay đây với đó,
Một cái gì lên xuống mãi không thôi.
Lắng càng lâu càng nghe mãi xa xôi...
Một tiếng nhẹ trong tiếng nào nhẹ nữa.
Cho đến khi yêu, người vẫn ưa nhìn lòng mình hơn nhìn nhan sắc người yêu:
Gặp tình cờ song chẳng biết vì đâu
Chân em trắng vậy mà lòng anh lạnh.
Cái màu trắng kia tưởng ở trong lòng người thơ nhiều hơn là trên chân người đẹp.
Thơ như thế mà in ra bằng một thứ chữ chắc chắn, đậm nét thì thực lệch lạc cả. Hồn thơ là một cái gì rất mong manh, có khi chỉ một tí cũng đủ làm tiêu tan hết. Không lẽ mỗi bài thơ - không, mỗi câu thơ, in một thứ chữ, nhưng phải như thế mới có nghĩa.”
Có cái gì chuyển thay đây với đó,
Một cái gì lên xuống mãi không thôi.
Lắng càng lâu càng nghe mãi xa xôi...
Một tiếng nhẹ trong tiếng nào nhẹ nữa.
Cho đến khi yêu, người vẫn ưa nhìn lòng mình hơn nhìn nhan sắc người yêu:
Gặp tình cờ song chẳng biết vì đâu
Chân em trắng vậy mà lòng anh lạnh.
Cái màu trắng kia tưởng ở trong lòng người thơ nhiều hơn là trên chân người đẹp.
Thơ như thế mà in ra bằng một thứ chữ chắc chắn, đậm nét thì thực lệch lạc cả. Hồn thơ là một cái gì rất mong manh, có khi chỉ một tí cũng đủ làm tiêu tan hết. Không lẽ mỗi bài thơ - không, mỗi câu thơ, in một thứ chữ, nhưng phải như thế mới có nghĩa.”
(Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam)
Câu 1 [1043017]: Lý do tác giả bài viết thích thơ Phạm Hầu khi đọc lại là gì?
A, Do nội dung thơ đã thay đổi hoàn toàn so với lần trước.
B, Do thơ được chép tay với nét chữ nhỏ mảnh, tạo cảm giác khác biệt.
C, Do Phạm Hầu viết thêm những bài thơ mới.
D, Do lối chữ trên tạp chí Tao đàn được thay đổi.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì văn bản có chi tiết Hoài Thanh nói rõ “Hôm nay đại khái cũng những bài thơ ấy, tôi lại thích.” → cho thấy nội dung thơ về cơ bản vẫn giống như lần đọc đầu tiên, chỉ có cách thức trình bày khác.
- C sai vì văn bản không đề cập đến việc Phạm Hầu viết thêm thơ mới, sự thay đổi nằm ở cách trình bày, không phải ở việc bổ sung tác phẩm.
- D sai vì tác giả có nói “lối chữ Tao đàn ngày trước” là “chắc chắn, đậm nét”. Lối chữ mà ông thích sau này là do “tay tác giả chép”, hoàn toàn khác với lối chữ của tạp chí. → tạp chí Tao đàn không phải nguyên nhân của sự thay đổi này.
→ B là đáp án đúng vì trong đoạn văn có nêu “những bài tôi xem hôm nay đều do tay tác giả chép bằng một lối chữ khác hẳn lối chữ Tao đàn ngày trước.” Đó là lối chữ “mảnh khảnh, nhỏ nét, nằm trên trang giấy như còn e thẹn, ngập ngừng”, và “đã giúp tôi hiểu Phạm Hầu dễ dàng hơn”. Đáp án: B
- A sai vì văn bản có chi tiết Hoài Thanh nói rõ “Hôm nay đại khái cũng những bài thơ ấy, tôi lại thích.” → cho thấy nội dung thơ về cơ bản vẫn giống như lần đọc đầu tiên, chỉ có cách thức trình bày khác.
- C sai vì văn bản không đề cập đến việc Phạm Hầu viết thêm thơ mới, sự thay đổi nằm ở cách trình bày, không phải ở việc bổ sung tác phẩm.
- D sai vì tác giả có nói “lối chữ Tao đàn ngày trước” là “chắc chắn, đậm nét”. Lối chữ mà ông thích sau này là do “tay tác giả chép”, hoàn toàn khác với lối chữ của tạp chí. → tạp chí Tao đàn không phải nguyên nhân của sự thay đổi này.
→ B là đáp án đúng vì trong đoạn văn có nêu “những bài tôi xem hôm nay đều do tay tác giả chép bằng một lối chữ khác hẳn lối chữ Tao đàn ngày trước.” Đó là lối chữ “mảnh khảnh, nhỏ nét, nằm trên trang giấy như còn e thẹn, ngập ngừng”, và “đã giúp tôi hiểu Phạm Hầu dễ dàng hơn”. Đáp án: B
Câu 2 [1043018]: Phạm Hầu được tác giả bài viết miêu tả như thế nào trong cuộc sống?
A, Một người mạnh mẽ, luôn để lại ấn tượng sâu sắc.
B, Một người sôi nổi, nhiệt tình và đầy sức sống.
C, Một người trầm lặng, sống khép kín và nội tâm.
D, Một người thích hòa mình vào đám đông và được yêu mến.
Giải thích chi tiết:
Trong đoạn trích, Hoài Thanh miêu tả Phạm Hầu qua các chi tiết như:
- “Ở đời có những người nói to bước vững. Phạm Hầu quyết không phải trong hạng ấy”.
- “Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi”.
- “Người còn mải sống với mình.”
- “Lòng người là một vọng hải đài, người chỉ việc đứng trên đài lòng mà ngắm.”
→ Những câu văn đã khắc họa một con người không ồn ào, không phô trương, mà ngược lại, sống khép kín, trầm lặng và hướng nội. Ông không quan tâm thế giới bên ngoài mà chỉ tập trung vào thế giới nội tâm của mình. Đáp án: C
Trong đoạn trích, Hoài Thanh miêu tả Phạm Hầu qua các chi tiết như:
- “Ở đời có những người nói to bước vững. Phạm Hầu quyết không phải trong hạng ấy”.
- “Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi”.
- “Người còn mải sống với mình.”
- “Lòng người là một vọng hải đài, người chỉ việc đứng trên đài lòng mà ngắm.”
→ Những câu văn đã khắc họa một con người không ồn ào, không phô trương, mà ngược lại, sống khép kín, trầm lặng và hướng nội. Ông không quan tâm thế giới bên ngoài mà chỉ tập trung vào thế giới nội tâm của mình. Đáp án: C
Câu 3 [1043019]: Theo tác giả, mỗi câu thơ nên được in bằng loại chữ như thế nào?
A, Mỗi câu thơ nên có một loại chữ riêng để phù hợp với nội dung.
B, Tất cả các câu thơ nên được in bằng một loại chữ thống nhất.
C, Không quan trọng loại chữ nào được sử dụng.
D, Nên sử dụng chữ viết tay để giữ gìn nét đẹp truyền thống.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì tác giả không ủng hộ việc in thơ bàng một loại chữ thống nhất.
- C sai vì tác giả coi chữ in ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ.
- D sai vì tác giả không nhấn mạnh đến chữ viết tay như “truyền thống” mà chỉ dùng nó để so sánh sự khác biệt trong cách cảm nhận thơ.
→ A đúng vì trong văn bản, tác giả cho rằng thơ Phạm Hầu có “hồn thơ mong manh”, nêu in bằng chữ đậm nét, cứng cáp thì trở nên “lệch lạc cả”. Tác giả nhấn mạnh “không lẽ mỗi bài thơ – không, mỗi câu thơ, in một thứ chữ, nhưng phải như thế mới có ý nghĩa.” → cần một hình thức phù hợp với nội dung, mỗi bài, mỗi câu thơ có thể in ấn theo cách khác nhau để không làm hỏng cảm xúc. Đáp án: A
- B sai vì tác giả không ủng hộ việc in thơ bàng một loại chữ thống nhất.
- C sai vì tác giả coi chữ in ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ.
- D sai vì tác giả không nhấn mạnh đến chữ viết tay như “truyền thống” mà chỉ dùng nó để so sánh sự khác biệt trong cách cảm nhận thơ.
→ A đúng vì trong văn bản, tác giả cho rằng thơ Phạm Hầu có “hồn thơ mong manh”, nêu in bằng chữ đậm nét, cứng cáp thì trở nên “lệch lạc cả”. Tác giả nhấn mạnh “không lẽ mỗi bài thơ – không, mỗi câu thơ, in một thứ chữ, nhưng phải như thế mới có ý nghĩa.” → cần một hình thức phù hợp với nội dung, mỗi bài, mỗi câu thơ có thể in ấn theo cách khác nhau để không làm hỏng cảm xúc. Đáp án: A
Câu 4 [1043020]: Vì sao tác giả bài viết cho rằng việc in thơ bằng chữ “chắc chắn, đậm nét” là lệch lạc?
A, Vì lối chữ này không phù hợp với sự mong manh của hồn thơ Phạm Hầu.
B, Vì lối chữ đó không thể hiện được phong cách viết của Phạm Hầu.
C, Vì nó làm mất đi giá trị thẩm mỹ của bài thơ.
D, Vì nó gây khó khăn trong việc cảm nhận nội dung bài thơ.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì vấn đề không nằm ở phong cách viết tay hay phong cách in, mà ở sự tương phản với hồn thơ.
- C sai vì nói “mất giá trị thẩm mỹ” không được nói đến trong văn bản.
- D sai vì không phải do “khó cảm nhận” mà do sự lệch lạc giữa hình thức và tinh thần thơ.
→ A đúng vì tác giả nhấn mạnh “hồn thơ là một cái gì rất mong manh, có khi chỉ một tí cũng đủ làm tiêu tan hết. Thơ như thế mà in ra bằng một thứ chữ chắc chắc, đậm nét thì thực lệch lạc cả.” → nguyên nhân chính là không phù hợp giữa hồn thơ mong manh, e thẹn của Phạm Hầu và lối chữ in cứng cáp, đậm nét. Đáp án: A
- B sai vì vấn đề không nằm ở phong cách viết tay hay phong cách in, mà ở sự tương phản với hồn thơ.
- C sai vì nói “mất giá trị thẩm mỹ” không được nói đến trong văn bản.
- D sai vì không phải do “khó cảm nhận” mà do sự lệch lạc giữa hình thức và tinh thần thơ.
→ A đúng vì tác giả nhấn mạnh “hồn thơ là một cái gì rất mong manh, có khi chỉ một tí cũng đủ làm tiêu tan hết. Thơ như thế mà in ra bằng một thứ chữ chắc chắc, đậm nét thì thực lệch lạc cả.” → nguyên nhân chính là không phù hợp giữa hồn thơ mong manh, e thẹn của Phạm Hầu và lối chữ in cứng cáp, đậm nét. Đáp án: A
Câu 5 [1043021]: Nội dung chính của đoạn văn là gì?
A, Sự thay đổi trong cách trình bày thơ Phạm Hầu qua các thời kỳ.
B, Tình yêu của Phạm Hầu qua cách ông nhìn nhận người yêu.
C, Vai trò của hình thức trình bày đối với cảm nhận thơ ca.
D, Phân tích phong cách thơ và con người Phạm Hầu thông qua nét chữ.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì nội dung đáp án chỉ là một khía cạnh được dùng để dẫn dắt vấn đề.
- B sai vì nội dung đáp án chỉ là một ví dụ nhỏ được sử dụng để minh họa cho phong cách thơ.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ là một kết luận được rút ra nhưng chưa đầy đủ bằng việc gắn kết nó với một đối tượng cụ thể là Phạm Hầu.
→ D đúng vì đoạn văn không chỉ đơn thuần nói về cách trình bày thơ, mà là một sự phân tích sâu sắc về mối liên hệ giữa nét chữ, hồn thơ và con người của Phạm Hầu. Đáp án: D
- A sai vì nội dung đáp án chỉ là một khía cạnh được dùng để dẫn dắt vấn đề.
- B sai vì nội dung đáp án chỉ là một ví dụ nhỏ được sử dụng để minh họa cho phong cách thơ.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ là một kết luận được rút ra nhưng chưa đầy đủ bằng việc gắn kết nó với một đối tượng cụ thể là Phạm Hầu.
→ D đúng vì đoạn văn không chỉ đơn thuần nói về cách trình bày thơ, mà là một sự phân tích sâu sắc về mối liên hệ giữa nét chữ, hồn thơ và con người của Phạm Hầu. Đáp án: D
Chùm 02. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Sách vở thường viết rằng, hai thế hệ rất khó hiểu nhau, cha mẹ và con cái không hiểu nhau, đàn ông và phụ nữ không hiểu nhau. Vì chúng ta bày tỏ theo những kiểu khác nhau, diễn giải sự việc theo cách khác nhau, dùng từ ngữ với những ý nghĩa khác nhau.
Tôi tự hỏi, có phải ta đã chấp nhận những lý lẽ ấy như sự biện hộ mà quên rằng vẫn còn một cách khác để hiểu. Rằng sự giao tiếp thực sự giữa con người với nhau có thể vượt qua ngôn ngữ. Đó là cách mà những người yêu thương thường dùng, khi họ thực sự yêu thương.
Yêu và biết cách yêu là hai điều khác nhau, phải vậy không? Ta luôn có thể yêu cho bản thân mình, bằng cách nào cũng được, nói hay không nói, chia sẻ hay không, nhưng để yêu cho người khác thì phải biết cách yêu - tức là biết cách bắt sóng cảm xúc của người ấy để vuốt ve, yêu thương, chia sẻ với những cảm xúc thường tìm cách lẩn trốn ấy. Đó là khi ta giao tiếp không phải để bày tỏ chính mình mà là để thấu hiểu người ấy. Nói hay thinh lặng không phải để mở cửa tâm hồn mình mà tìm đường vào tâm hồn người ta yêu. Đó là khi ta lắng nghe, không chỉ những lời nói, mà lắng nghe một làn sóng, một tín hiệu vô thanh. Những tín hiệu yếu ớt của cảm xúc.”
Tôi tự hỏi, có phải ta đã chấp nhận những lý lẽ ấy như sự biện hộ mà quên rằng vẫn còn một cách khác để hiểu. Rằng sự giao tiếp thực sự giữa con người với nhau có thể vượt qua ngôn ngữ. Đó là cách mà những người yêu thương thường dùng, khi họ thực sự yêu thương.
Yêu và biết cách yêu là hai điều khác nhau, phải vậy không? Ta luôn có thể yêu cho bản thân mình, bằng cách nào cũng được, nói hay không nói, chia sẻ hay không, nhưng để yêu cho người khác thì phải biết cách yêu - tức là biết cách bắt sóng cảm xúc của người ấy để vuốt ve, yêu thương, chia sẻ với những cảm xúc thường tìm cách lẩn trốn ấy. Đó là khi ta giao tiếp không phải để bày tỏ chính mình mà là để thấu hiểu người ấy. Nói hay thinh lặng không phải để mở cửa tâm hồn mình mà tìm đường vào tâm hồn người ta yêu. Đó là khi ta lắng nghe, không chỉ những lời nói, mà lắng nghe một làn sóng, một tín hiệu vô thanh. Những tín hiệu yếu ớt của cảm xúc.”
(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội nhà văn, 2019)
Câu 6 [1043022]: Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
A, So sánh.
B, Chứng minh.
C, Bình luận.
D, Phân tích.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì trong đoạn văn có yếu tố so sánh như “yêu và biết cách yêu là hai điều khác nhau” hay “nói hay thinh lặng không phải để mở cửa tâm hồn mình mà tìm đường vào tâm hồn người ta yêu”. Tuy nhiên, so sánh chỉ là một phương diện để làm rõ ý, không phải thao tác lập luận chính.
- B sai vì chứng minh cần có dẫn chứng thực tế, trong đoạn trích tác giả không đưa ra ví dụ thực tiễn hay bằng chứng cụ thể nào, tất cả chỉ là suy ngẫm và lập luận bằng lý lẽ.
- D sai vì trong đoạn trích tác giả không tách vấn đề thành nhiều mặt để giải thích mà chủ yếu nêu cảm nhận, bình luận, khái quát triết lý về yêu thương.
→ C đúng vì bình luận là nêu ý kiến, bàn luận, đánh giá về một vấn đề trong đời sống. Trong đoạn trích, tác giả có những suy tư, ý kiến chủ quan: bàn về việc “con người thường khó hiểu nhau”, gợi ra quan niệm “yêu thương thật sự là phải biết cách yêu, biết thấu hiểu.” Đáp án: C
- A sai vì trong đoạn văn có yếu tố so sánh như “yêu và biết cách yêu là hai điều khác nhau” hay “nói hay thinh lặng không phải để mở cửa tâm hồn mình mà tìm đường vào tâm hồn người ta yêu”. Tuy nhiên, so sánh chỉ là một phương diện để làm rõ ý, không phải thao tác lập luận chính.
- B sai vì chứng minh cần có dẫn chứng thực tế, trong đoạn trích tác giả không đưa ra ví dụ thực tiễn hay bằng chứng cụ thể nào, tất cả chỉ là suy ngẫm và lập luận bằng lý lẽ.
- D sai vì trong đoạn trích tác giả không tách vấn đề thành nhiều mặt để giải thích mà chủ yếu nêu cảm nhận, bình luận, khái quát triết lý về yêu thương.
→ C đúng vì bình luận là nêu ý kiến, bàn luận, đánh giá về một vấn đề trong đời sống. Trong đoạn trích, tác giả có những suy tư, ý kiến chủ quan: bàn về việc “con người thường khó hiểu nhau”, gợi ra quan niệm “yêu thương thật sự là phải biết cách yêu, biết thấu hiểu.” Đáp án: C
Câu 7 [1043023]: Theo đoạn trích, hai thế hệ rất khó hiểu nhau vì nguyên nhân nào?
A, Vì ta bày tỏ, sử dụng ngôn ngữ theo những cách khác nhau.
B, Vì ta bày tỏ, diễn giải sự việc, sử dụng ngôn ngữ theo những cách khác nhau.
C, Vì ta bày tỏ, diễn giải sự việc theo cách khác nhau.
D, Vì ta bày tỏ theo những kiểu khác nhau, sử dụng ngôn ngữ khác nhau.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì chỉ nói đến “bày tỏ, sử dụng ngôn ngữ” → thiếu yếu tố “diễn giải sự việc”.
- C sai vì chỉ có “bày tỏ, diễn giải sự việc” → thiếu phần “ngôn ngữ”.
- D sai vì chỉ có “bày tỏ theo kiểu khác nhau, sử dụng ngôn ngữ khác nhau” → thiếu “diễn giải sự việc”.
→ B đúng vì trong đoạn trích có nêu “Sách vở thường viết rằng, hai thế hệ rất khó hiểu nhau, cha mẹ và con cái không hiểu nhau, đàn ông và phụ nữ không hiểu nhau. Vì chúng ta bày tỏ theo những kiểu khác nhau, diễn giải sự việc theo cách khác nhau, dùng từ ngữ với những ý nghĩa khác nhau.” Đáp án: B
- A sai vì chỉ nói đến “bày tỏ, sử dụng ngôn ngữ” → thiếu yếu tố “diễn giải sự việc”.
- C sai vì chỉ có “bày tỏ, diễn giải sự việc” → thiếu phần “ngôn ngữ”.
- D sai vì chỉ có “bày tỏ theo kiểu khác nhau, sử dụng ngôn ngữ khác nhau” → thiếu “diễn giải sự việc”.
→ B đúng vì trong đoạn trích có nêu “Sách vở thường viết rằng, hai thế hệ rất khó hiểu nhau, cha mẹ và con cái không hiểu nhau, đàn ông và phụ nữ không hiểu nhau. Vì chúng ta bày tỏ theo những kiểu khác nhau, diễn giải sự việc theo cách khác nhau, dùng từ ngữ với những ý nghĩa khác nhau.” Đáp án: B
Câu 8 [1043024]: Theo tác giả, cách nào là giải pháp giúp con người thực sự hiểu nhau?
A, Biết cách yêu.
B, Tìm đường vào tâm hồn người ta yêu.
C, Biết lắng nghe.
D, Sự giao tiếp thực sự.
Giải thích chi tiết:
Trong đoạn trích có nêu “Rằng sự giao tiếp thực sự giữa con người với nhau có thể vượt qua ngôn ngữ. Đó là cách mà những người yêu thương thường dùng, khi họ thực sự yêu thương.”
→ Giải pháp giúp con người thực sự hiểu nhau là: sự giao tiếp thực sự. Đáp án: D
Trong đoạn trích có nêu “Rằng sự giao tiếp thực sự giữa con người với nhau có thể vượt qua ngôn ngữ. Đó là cách mà những người yêu thương thường dùng, khi họ thực sự yêu thương.”
→ Giải pháp giúp con người thực sự hiểu nhau là: sự giao tiếp thực sự. Đáp án: D
Câu 9 [1043025]: “Ta luôn có thể yêu cho bản thân mình, bằng cách nào cũng được, nói hay không nói, chia sẻ hay không, nhưng để yêu cho người khác thì phải biết cách yêu - tức là biết cách bắt sóng cảm xúc của người ấy để vuốt ve, yêu thương, chia sẻ với những cảm xúc thường tìm cách lẩn trốn ấy. Đó là khi ta giao tiếp không phải để bày tỏ chính mình mà là để thấu hiểu người ấy.”
Nhận định nào về câu trên là đúng?
Nhận định nào về câu trên là đúng?
A, Giao tiếp chính là vũ khí để thấu hiểu và yêu thương giữa người với người.
B, Giao tiếp chính là vũ khí có vai trò quyết định để biết cách yêu và thấu hiểu bản thân.
C, Giao tiếp chính là vũ khí để đổi lấy tình yêu, sự sẻ chia từ người khác.
D, Giao tiếp chính là vũ khí để bắt sóng được cảm xúc của người khác.
Giải thích chi tiết:
Trong đoạn trích tác giả có nhấn mạnh:
- “Đó là khi ta giao tiếp không phải để bày tỏ chính mình mà là để thấu hiểu người ấy”
- Tác giả cũng chia sẻ “... để vuốt ve, yêu thương, chia sẻ với những cảm xúc thường tìm cách lẩn trốn ấy”.
→ “Giao tiếp” không chỉ để “bắt sóng cảm xúc” mà để thấu hiểu và yêu thương người khác nhiều hơn. Đáp án: A
Trong đoạn trích tác giả có nhấn mạnh:
- “Đó là khi ta giao tiếp không phải để bày tỏ chính mình mà là để thấu hiểu người ấy”
- Tác giả cũng chia sẻ “... để vuốt ve, yêu thương, chia sẻ với những cảm xúc thường tìm cách lẩn trốn ấy”.
→ “Giao tiếp” không chỉ để “bắt sóng cảm xúc” mà để thấu hiểu và yêu thương người khác nhiều hơn. Đáp án: A
Câu 10 [1043026]: Từ nội dung đoạn trích, em rút ra bài học sâu sắc nào cho bản thân?
A, Không chỉ yêu bản thân mà cần mở lòng ra yêu thương người khác.
B, Biết yêu thương và chia sẻ với mọi người xung quanh giúp con người sống vui vẻ, lạc quan hơn.
C, Hãy biết cách giao tiếp thực sự để thấu hiểu và yêu thương người khác chân thành.
D, Tình yêu chính là sự đồng cảm, thấu hiểu và sẻ chia giữa con người với con người trong cuộc sống.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì nội dung đáp án chưa thể hiện rõ trọng tâm về “cách yêu” – sự giao tiếp để thấu hiểu, mà chỉ đang đề cập tới việc hãy mở lòng để yêu thương.
- B sai vì đoạn trích không bàn đến niềm vui hay sự lạc quan mà chỉ tập trung vào bản chất tình yêu và sự thấu hiểu qua giao tiếp.
- D sai vì nội dung đáp án mang tính khái quát chung về tình yêu, chưa thể hiện rõ yêu cầu cốt lõi mà tác giả nhấn mạnh đó là “giao tiếp thực sự” – phương tiện để yêu và thấu hiểu. Đáp án: C
- A sai vì nội dung đáp án chưa thể hiện rõ trọng tâm về “cách yêu” – sự giao tiếp để thấu hiểu, mà chỉ đang đề cập tới việc hãy mở lòng để yêu thương.
- B sai vì đoạn trích không bàn đến niềm vui hay sự lạc quan mà chỉ tập trung vào bản chất tình yêu và sự thấu hiểu qua giao tiếp.
- D sai vì nội dung đáp án mang tính khái quát chung về tình yêu, chưa thể hiện rõ yêu cầu cốt lõi mà tác giả nhấn mạnh đó là “giao tiếp thực sự” – phương tiện để yêu và thấu hiểu. Đáp án: C
Chùm 03. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Có lần tôi ngồi chờ nhận phòng ở một resort, ngồi cạnh bàn tôi là một gia đình dắt theo vài đứa trẻ, đứa lớn nhất tầm 10 tuổi. Chúng rượt đuổi nhau rất ồn, dù nhân viên đã nhắc vài lần. Chưa kịp làm quen với tiếng ồn của bọn nhỏ, tôi bỗng giật thót mình khi người mẹ kêu lớn: “Ti ơi, có đi tè không con?”. Cả sảnh chờ ngẩng lên nhìn, bất đắc dĩ nghe trọn cuộc thảo luận “vào hay không vào nhà vệ sinh” của hai mẹ con.
Những chuyện như thế tôi gặp mỗi ngày tại nơi công cộng, và tôi tự hỏi người lớn còn không ý thức được sự phiền nhiễu của bản thân, không biết phép tắc tối thiểu chỗ đông người thì sao dạy được con trẻ.
Tất nhiên, tôi cũng gặp những đứa trẻ và các phụ huynh chuẩn mực. Buổi sáng, chúng vào thang máy, chào hỏi những người đứng sẵn trong thang, tháo ba lô và cầm trên tay để tiết kiệm không gian, tránh chạm vào người khác, rồi chúng đứng im lặng, trật tự. Có những đứa trẻ quấy khóc vì không chịu đi học, ba mẹ chúng lập tức xin lỗi mọi người. Tôi nghĩ đó là cách nhẹ nhàng, vừa làm gương, vừa rèn giũa thói quen cho trẻ.
Gia đình chính là phần quan trọng của việc giáo dục trẻ con, vì trẻ học đầu tiên và thường xuyên không ở đâu xa, chính là từ bố mẹ. Trong gia đình, nếu người lớn không thực hành phép tắc thì không thể dạy trẻ bằng lý thuyết. Và nếu không được dạy dỗ bởi gia đình, chúng sẽ được cuộc đời dạy cho những bài học.
Tôi vẫn thường nhẫn nhịn, cam chịu những đứa trẻ ồn ào, một phần vì thấy vô ích, phần vì ngại những bình luận cho rằng “trẻ con biết gì đâu mà khắt khe”. Đúng là trẻ con có thể không biết gì, nhưng người lớn chắc chắn phải hiểu một điều đơn giản: những đứa trẻ ồn ào rồi sẽ tiếp tục tạo nên một thế hệ người lớn huyên náo.”
Những chuyện như thế tôi gặp mỗi ngày tại nơi công cộng, và tôi tự hỏi người lớn còn không ý thức được sự phiền nhiễu của bản thân, không biết phép tắc tối thiểu chỗ đông người thì sao dạy được con trẻ.
Tất nhiên, tôi cũng gặp những đứa trẻ và các phụ huynh chuẩn mực. Buổi sáng, chúng vào thang máy, chào hỏi những người đứng sẵn trong thang, tháo ba lô và cầm trên tay để tiết kiệm không gian, tránh chạm vào người khác, rồi chúng đứng im lặng, trật tự. Có những đứa trẻ quấy khóc vì không chịu đi học, ba mẹ chúng lập tức xin lỗi mọi người. Tôi nghĩ đó là cách nhẹ nhàng, vừa làm gương, vừa rèn giũa thói quen cho trẻ.
Gia đình chính là phần quan trọng của việc giáo dục trẻ con, vì trẻ học đầu tiên và thường xuyên không ở đâu xa, chính là từ bố mẹ. Trong gia đình, nếu người lớn không thực hành phép tắc thì không thể dạy trẻ bằng lý thuyết. Và nếu không được dạy dỗ bởi gia đình, chúng sẽ được cuộc đời dạy cho những bài học.
Tôi vẫn thường nhẫn nhịn, cam chịu những đứa trẻ ồn ào, một phần vì thấy vô ích, phần vì ngại những bình luận cho rằng “trẻ con biết gì đâu mà khắt khe”. Đúng là trẻ con có thể không biết gì, nhưng người lớn chắc chắn phải hiểu một điều đơn giản: những đứa trẻ ồn ào rồi sẽ tiếp tục tạo nên một thế hệ người lớn huyên náo.”
(Ngô Tú Ngân, Những đứa trẻ ồn ào, theo vnexpress.net)
Câu 11 [1043027]: Theo tác giả, cách nào là hiệu quả nhất để giáo dục trẻ về phép tắc nơi công cộng?
A, Mắng mỏ và trừng phạt khi trẻ sai.
B, Nhờ sự dạy dỗ của giáo viên ở trường học.
C, Nêu gương và hình thành thói quen.
D, Đưa trẻ đến các lớp học kỹ năng sống.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì tác không khuyến khích cách dạy con bằng sự áp đặt hay trừng phạt.
- B sai vì tác giả nhấn mạnh trẻ học đầu tiên và thường xuyên nhất là từ bố mẹ, trong gia đình, không phải từ trường học.
- D sai vì đoạn văn không nhắc tới “lớp học kỹ năng sống”, đặc biệt nêu ở gia đình không có sự nêu gương, việc học ở lớp kỹ năng cũng không bền vững.
→ C đúng vì trong đoạn trích tác giả đưa ra nhiều ví dụ như: phụ huynh làm gương cho con (xin lỗi khi trẻ quấy khóc, hướng dẫn con chào hỏi, giữ trật tự, tháo ba lô trong thang máy,... Đây chính là cách “nhẹ nhàng, vừa làm gương, vừa rèn giũa thói quen cho trẻ”. Đáp án: C
- A sai vì tác không khuyến khích cách dạy con bằng sự áp đặt hay trừng phạt.
- B sai vì tác giả nhấn mạnh trẻ học đầu tiên và thường xuyên nhất là từ bố mẹ, trong gia đình, không phải từ trường học.
- D sai vì đoạn văn không nhắc tới “lớp học kỹ năng sống”, đặc biệt nêu ở gia đình không có sự nêu gương, việc học ở lớp kỹ năng cũng không bền vững.
→ C đúng vì trong đoạn trích tác giả đưa ra nhiều ví dụ như: phụ huynh làm gương cho con (xin lỗi khi trẻ quấy khóc, hướng dẫn con chào hỏi, giữ trật tự, tháo ba lô trong thang máy,... Đây chính là cách “nhẹ nhàng, vừa làm gương, vừa rèn giũa thói quen cho trẻ”. Đáp án: C
Câu 12 [1043028]: Câu nào sau đây không đúng với nội dung của bài viết?
A, Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.
B, Hành vi của trẻ phản chiếu thói quen của người lớn.
C, Người lớn cần làm gương để giáo dục trẻ.
D, Ứng xử nơi công cộng phản ánh ý thức văn hóa.
Giải thích chi tiết:
A là đáp án không đúng với nội dung bài viết, đoạn văn tập trung vào việc giáo dục hành vi, phép tắc của trẻ nơi công cộng, không nói về việc nuôi dưỡng “tâm hồn” hay các giá trị tinh thần.
→ tác giả chỉ bàn đến hành vi ứng xử, không phải khía cạnh tâm lý, tình cảm. Đáp án: A
A là đáp án không đúng với nội dung bài viết, đoạn văn tập trung vào việc giáo dục hành vi, phép tắc của trẻ nơi công cộng, không nói về việc nuôi dưỡng “tâm hồn” hay các giá trị tinh thần.
→ tác giả chỉ bàn đến hành vi ứng xử, không phải khía cạnh tâm lý, tình cảm. Đáp án: A
Câu 13 [1043029]: Việc tác giả đối chiếu hình ảnh những đứa trẻ ồn ào với hình ảnh những đứa trẻ trật tự nhằm mục đích gì?
A, Tạo sự đối lập để thể hiện sự bức xúc của tác giả với những đứa trẻ ồn ào.
B, Cho thấy sự khác biệt giữa trẻ và người lớn.
C, Nhấn mạnh vai trò giáo dục khác biệt từ phía người lớn.
D, Phản ánh sự phát triển hành vi của trẻ nhỏ khi tiếp xúc với xã hội.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì mặc dù tác giả có bức xúc với trẻ ồn ào nhưng việc đối chiếu không chỉ để bày tỏ sự khó chịu mà nhằm làm nổi bật sự khác biệt trong giáo dục và nêu gương của cha mẹ.
- B sai vì đoạn văn so sánh những đứa trẻ khác nhau, không phải đối chiếu trẻ với người lớn.
- D sai vì tác giả không bàn đến tiến trình phát triển tâm lý – xã hội tự nhiên của trẻ, mà tập trung vào sự tác động của gia đình và cha mẹ.
→ C đúng vì hình ảnh những đứa trẻ ồn ào được đặt cạnh những đứa trẻ trật tự, lễ pháp, điều này nhấn mạnh chính cách giáo dục và hành vi của người lớn mới quyết định cách ứng xử của trẻ nơi công cộng. Đáp án: C
- A sai vì mặc dù tác giả có bức xúc với trẻ ồn ào nhưng việc đối chiếu không chỉ để bày tỏ sự khó chịu mà nhằm làm nổi bật sự khác biệt trong giáo dục và nêu gương của cha mẹ.
- B sai vì đoạn văn so sánh những đứa trẻ khác nhau, không phải đối chiếu trẻ với người lớn.
- D sai vì tác giả không bàn đến tiến trình phát triển tâm lý – xã hội tự nhiên của trẻ, mà tập trung vào sự tác động của gia đình và cha mẹ.
→ C đúng vì hình ảnh những đứa trẻ ồn ào được đặt cạnh những đứa trẻ trật tự, lễ pháp, điều này nhấn mạnh chính cách giáo dục và hành vi của người lớn mới quyết định cách ứng xử của trẻ nơi công cộng. Đáp án: C
Câu 14 [1043030]: Tác giả đã kết hợp sử dụng các phương thức biểu đạt nào trong văn bản?
A, Tự sự, nghị luận.
B, Tự sự, nghị luận, biểu cảm.
C, Biểu cảm, nghị luận, thuyết minh.
D, Nghị luận, biểu cảm.
Giải thích chi tiết:
B là đáp án đúng vì trong văn bản có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt:
- Tự sự: kể chuyện ở resort, thang máy.
- Nghị luận: khẳng định vai trò giáo dục của gia đình.
- Biểu cảm: bộc lộ thái độ, cảm xúc (bức xúc, suy tư, đồng tình). Đáp án: B
B là đáp án đúng vì trong văn bản có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt:
- Tự sự: kể chuyện ở resort, thang máy.
- Nghị luận: khẳng định vai trò giáo dục của gia đình.
- Biểu cảm: bộc lộ thái độ, cảm xúc (bức xúc, suy tư, đồng tình). Đáp án: B
Câu 15 [1043031]: Thông điệp mà tác giả muốn truyền tải qua văn bản là gì?
A, Trẻ con cần được học cách điều chỉnh cảm xúc và hành vi ở nơi công cộng.
B, Giữ trật tự nơi công cộng là quy tắc ứng xử đúng đắn cần được dạy cho trẻ em.
C, Người lớn cần dạy dỗ trẻ con từ nhỏ bằng những trải nghiệm ở nơi công cộng.
D, Sự giáo dục trong gia đình quyết định hành vi ứng xử nơi công cộng của trẻ.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì không chỉ trẻ con cần học cách điều chỉnh cảm xúc, hành vi mà nhấn mạnh vai trò của cha mẹ trong việc dạy trẻ.
- B sai vì văn bản không chỉ nói đến giữ trật tự mà còn nhấn mạnh đến phép tắc, văn hóa ứng xử nói chung.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ đang nói tới một phần của việc giáo dục đó là giáo dục nơi công cộng, chưa phản ánh được hết trọng tâm văn bản bởi tác giả đang nhấn mạnh vai trò của gia đình và bố mẹ nói chung, qua việc làm gương và thực hành phép tắc.
→ D đúng vì văn bản nhấn mạnh các vấn đề như: mọi hành vi ứng xử nơi công cộng của trẻ em (tốt hay xấu) đều xuất phát và bị quyết định bởi sự giáo dục trong gia đình, trực tiếp là hành vi của bố mẹ. Đáp án: D
- A sai vì không chỉ trẻ con cần học cách điều chỉnh cảm xúc, hành vi mà nhấn mạnh vai trò của cha mẹ trong việc dạy trẻ.
- B sai vì văn bản không chỉ nói đến giữ trật tự mà còn nhấn mạnh đến phép tắc, văn hóa ứng xử nói chung.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ đang nói tới một phần của việc giáo dục đó là giáo dục nơi công cộng, chưa phản ánh được hết trọng tâm văn bản bởi tác giả đang nhấn mạnh vai trò của gia đình và bố mẹ nói chung, qua việc làm gương và thực hành phép tắc.
→ D đúng vì văn bản nhấn mạnh các vấn đề như: mọi hành vi ứng xử nơi công cộng của trẻ em (tốt hay xấu) đều xuất phát và bị quyết định bởi sự giáo dục trong gia đình, trực tiếp là hành vi của bố mẹ. Đáp án: D
Chùm 04. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Hôm nay, thầy sẽ không dặn dò các em về những điều xa xôi, cũng không dám nói nhiều về những thành tựu của công nghệ. Vì thầy tin rằng, thế hệ các em có nhãn quan quảng đại hơn, nắm bắt và hiểu biết hơn thế hệ của thầy về nhiều thành tựu mà loài người mang đến. Thầy muốn nhắn nhủ các em về lẽ sống và bản lĩnh.
Đời sống đã có nhiều đổi thay, đáng mừng lắm; nhưng trọng trách của những người làm giáo dục là đồng hành để thay đổi tốt hơn đến mỗi con người, đến từng số phận. Các em sẽ là những người làm cho bức tranh giáo dục sáng hơn, mỗi con người tốt hơn và là người mang năng lượng tích cực hơn đến với cuộc sống và với mỗi người.
Điều đau đáu, điều trăn trở, có khi đau xót trong thầy là về lẽ sống, về yêu thương, về sự biết ơn và về những điều dường như ta đang vô tình dần đánh mất. Có thể thầy chưa đúng hết, cũng có thể cuộc sống chuyển động quá nhanh, cũng có thể vòng xoáy của cuộc đời cuốn ta vào cuộc, rồi ta không còn thời gian dành cho những điều tưởng chừng bé nhỏ nhưng rất đỗi đáng yêu. Có xót xa không khi có học sinh phải chịu đựng trong cô đơn và đơn độc giã biệt cuộc đời? Có đau đớn không khi con cái trưởng thành rồi chỉ biết sống cho riêng mình, mặc cho mẹ cha trong cảnh cùng khốn khó? Có đáng suy ngẫm không khi ai đó dắt tay bà cụ sang đường như là biểu tượng của việc làm tử tế, mà lẽ ra đó là việc bình thường của một con người tử tế? Lẽ nào thiếu vắng đến thế chăng? Và lẽ nào chúng ta bình tâm khi những đồng nghiệp của chúng ta hằng ngay đi qua những cung đường hiểm trở, đánh cược cuộc đời vì những trẻ thơ? Và chúng ta nghĩ gì, khi những đứa trẻ chen nhau trong những mái tôn ngày hè oi bức, đường đến trường với bước chân trần? Có nặng lòng không khi trẻ đến trường như một sự sợ hãi, lo âu?... Xin đừng lý luận rằng, đó là cá biệt, mà hãy nhớ rằng, mỗi con người là một thế giới để yêu thương và phải được yêu thương; hãy nhớ rằng giáo dục là để mỗi người được lớn lên theo những gì họ có; và làm một việc tốt như là lẽ tự nhiên của mỗi con người chứ không phải là chờ người ta quay phim, chụp ảnh, chờ người ta biểu dương, khen thưởng; và hãy nhớ rằng, cháy rừng có thể chỉ bắt đầu bằng một đốm lửa nhỏ nhoi... Thầy mong muốn các em hãy đi đến tận cùng của cuộc sống, chạm đến đáy sâu tâm can của những kiếp người để không thờ ơ và trở thành vô cảm, để những gì chân chính trội lên. Thấu hiểu không phải để rồi bi lụy mà để nhen nhóm dần cái tốt đẹp bằng việc mình làm và đừng bao giờ để con tim mình nguội lạnh.”
Đời sống đã có nhiều đổi thay, đáng mừng lắm; nhưng trọng trách của những người làm giáo dục là đồng hành để thay đổi tốt hơn đến mỗi con người, đến từng số phận. Các em sẽ là những người làm cho bức tranh giáo dục sáng hơn, mỗi con người tốt hơn và là người mang năng lượng tích cực hơn đến với cuộc sống và với mỗi người.
Điều đau đáu, điều trăn trở, có khi đau xót trong thầy là về lẽ sống, về yêu thương, về sự biết ơn và về những điều dường như ta đang vô tình dần đánh mất. Có thể thầy chưa đúng hết, cũng có thể cuộc sống chuyển động quá nhanh, cũng có thể vòng xoáy của cuộc đời cuốn ta vào cuộc, rồi ta không còn thời gian dành cho những điều tưởng chừng bé nhỏ nhưng rất đỗi đáng yêu. Có xót xa không khi có học sinh phải chịu đựng trong cô đơn và đơn độc giã biệt cuộc đời? Có đau đớn không khi con cái trưởng thành rồi chỉ biết sống cho riêng mình, mặc cho mẹ cha trong cảnh cùng khốn khó? Có đáng suy ngẫm không khi ai đó dắt tay bà cụ sang đường như là biểu tượng của việc làm tử tế, mà lẽ ra đó là việc bình thường của một con người tử tế? Lẽ nào thiếu vắng đến thế chăng? Và lẽ nào chúng ta bình tâm khi những đồng nghiệp của chúng ta hằng ngay đi qua những cung đường hiểm trở, đánh cược cuộc đời vì những trẻ thơ? Và chúng ta nghĩ gì, khi những đứa trẻ chen nhau trong những mái tôn ngày hè oi bức, đường đến trường với bước chân trần? Có nặng lòng không khi trẻ đến trường như một sự sợ hãi, lo âu?... Xin đừng lý luận rằng, đó là cá biệt, mà hãy nhớ rằng, mỗi con người là một thế giới để yêu thương và phải được yêu thương; hãy nhớ rằng giáo dục là để mỗi người được lớn lên theo những gì họ có; và làm một việc tốt như là lẽ tự nhiên của mỗi con người chứ không phải là chờ người ta quay phim, chụp ảnh, chờ người ta biểu dương, khen thưởng; và hãy nhớ rằng, cháy rừng có thể chỉ bắt đầu bằng một đốm lửa nhỏ nhoi... Thầy mong muốn các em hãy đi đến tận cùng của cuộc sống, chạm đến đáy sâu tâm can của những kiếp người để không thờ ơ và trở thành vô cảm, để những gì chân chính trội lên. Thấu hiểu không phải để rồi bi lụy mà để nhen nhóm dần cái tốt đẹp bằng việc mình làm và đừng bao giờ để con tim mình nguội lạnh.”
(GS Nguyễn Văn Minh, Bài phát biểu của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, theo vnexpress.net)
Câu 16 [1043032]: Các phương thức biểu đạt nào được kết hợp vận dụng trong đoạn trích trên?
A, Miêu tả, thuyết minh.
B, Biểu cảm, nghị luận.
C, Tự sự, miêu tả.
D, Tự sự, nghị luận.
Giải thích chi tiết:
- Biểu cảm: bộc lộ tình cảm, cảm xúc, trăn trở, đau xót, mong muốn,... (Ví dụ: “có xót xa không khi...”, “có đau đớn không khi...”)
- Nghị luận: nêu quan điểm, lập luận về lẽ sống, tình yêu thương, trách nhiệm của con người và giáo dục. Đáp án: B
- Biểu cảm: bộc lộ tình cảm, cảm xúc, trăn trở, đau xót, mong muốn,... (Ví dụ: “có xót xa không khi...”, “có đau đớn không khi...”)
- Nghị luận: nêu quan điểm, lập luận về lẽ sống, tình yêu thương, trách nhiệm của con người và giáo dục. Đáp án: B
Câu 17 [1043033]: Theo đoạn trích, điều gì khiến tác giả không ngừng trăn trở?
A, Về lẽ sống, về bản lĩnh, về yêu thương, về sự biết ơn.
B, Về lẽ sống, về yêu thương, về điều ta vô tình đánh mất.
C, Về lẽ sống, về yêu thương, về bản lĩnh, về điều vô tình đánh mất.
D, Về lẽ sống, về yêu thương, về sự biết ơn, về điều vô tình đánh mất.
Giải thích chi tiết:
Trong đoạn trích có nêu “Điều đau đáu, điều trăn trở, có khi đau xót trong thầy là về lẽ sống, về yêu thương, về sự biết ơn và về những điều dường như ta đang vô tình dần đánh mất.”
→ D là đáp án đúng. Đáp án: D
Trong đoạn trích có nêu “Điều đau đáu, điều trăn trở, có khi đau xót trong thầy là về lẽ sống, về yêu thương, về sự biết ơn và về những điều dường như ta đang vô tình dần đánh mất.”
→ D là đáp án đúng. Đáp án: D
Câu 18 [1043034]: “Có xót xa không khi có học sinh phải chịu đựng trong cô đơn và đơn độc giã biệt cuộc đời? Có đau đớn không khi con cái trưởng thành rồi chỉ biết sống cho riêng mình, mặc cho mẹ cha trong cảnh cùng khốn khó? Có đáng suy ngẫm không khi ai đó dắt tay bà cụ sang đường như là biểu tượng của việc làm tử tế, mà lẽ ra đó là việc bình thường của một con người tử tế? Lẽ nào thiếu vắng đến thế chăng? Và lẽ nào chúng ta bình tâm khi những đồng nghiệp của chúng ta hằng ngay đi qua những cung đường hiểm trở, đánh cược cuộc đời vì những trẻ thơ? Và chúng ta nghĩ gì, khi những đứa trẻ chen nhau trong những mái tôn ngày hè oi bức, đường đến trường với bước chân trần? Có nặng lòng không khi trẻ đến trường như một sự sợ hãi, lo âu?”
Các biện pháp tu từ nào được sử dụng trong đoạn thơ trên?
Các biện pháp tu từ nào được sử dụng trong đoạn thơ trên?
A, Câu hỏi tu từ, nói quá.
B, So sánh, nói quá.
C, Điệp cấu trúc, câu hỏi tu từ.
D, Ẩn dụ, câu hỏi tu từ.
Giải thích chi tiết:
- Điệp cấu trúc: “có...không...?”, “lẽ nào....?”
- Câu hỏi tu từ: “có xót xa không....?”, “có đau đớn không...?”, “có đáng suy ngẫm không...?”, “lẽ nào...?” Đáp án: C
- Điệp cấu trúc: “có...không...?”, “lẽ nào....?”
- Câu hỏi tu từ: “có xót xa không....?”, “có đau đớn không...?”, “có đáng suy ngẫm không...?”, “lẽ nào...?” Đáp án: C
Câu 19 [1043035]: “cháy rừng có thể chỉ bắt đầu bằng một đốm lửa nhỏ nhoi.”
Nhận định nào về câu trên là đúng?
Nhận định nào về câu trên là đúng?
A, Những giá trị to lớn, vĩ đại có thể được xuất phát và vun đắp từ những điều nhỏ nhé.
B, Những giá trị to lớn, vĩ đại ngay từ đầu đều được làm nên từ những điều nhỏ bé.
C, Những giá trị to lớn, vĩ đại chỉ được hình thành khi có sự xuất hiện của những điều nhỏ bé.
D, Những giá trị to lớn, vĩ đại sẽ không thể tồn tại nếu thiếu sự vun đắp từ những điều nhỏ bé.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì từ “đều” khiến câu mang tính khẳng định tuyệt đối vì không phải mọi giá trị lớn đều nhất thiết hình thành từ điều nhỏ bé, sẽ có những cái được tạo nên trực tiếp từ những điều lớn lao, phi thường.
- C sai vì từ “chỉ” khiến câu mang nghĩa là điều nhỏ bé là điều kiện duy nhất để hình thành cái vĩ đại nhưng trong ngữ cảnh câu văn chỉ đưa ra một hình ảnh gợi ý: cái to lớn có thể được bắt đầu từ những cái nhỏ bé.
- D sai vì đoạn trích nhấn mạnh vào sự khởi đầu (bắt đầu từ một đốm lửa nhỏ), chứ không bàn đến sự duy trì hay tồn tại của cái vĩ đại. Vì vậy, ý “không thể tồn tại nếu thiếu sự vun đắp” chưa hợp lý và không thể hiện đúng nội dung ngữ liệu.
→ A đúng vì câu nói nhấn mạnh cái vĩ đại không nhất thiết bắt đầu từ những điều to tát, mà từ những việc làm nhỏ bé, bình thường. Đáp án: A
- B sai vì từ “đều” khiến câu mang tính khẳng định tuyệt đối vì không phải mọi giá trị lớn đều nhất thiết hình thành từ điều nhỏ bé, sẽ có những cái được tạo nên trực tiếp từ những điều lớn lao, phi thường.
- C sai vì từ “chỉ” khiến câu mang nghĩa là điều nhỏ bé là điều kiện duy nhất để hình thành cái vĩ đại nhưng trong ngữ cảnh câu văn chỉ đưa ra một hình ảnh gợi ý: cái to lớn có thể được bắt đầu từ những cái nhỏ bé.
- D sai vì đoạn trích nhấn mạnh vào sự khởi đầu (bắt đầu từ một đốm lửa nhỏ), chứ không bàn đến sự duy trì hay tồn tại của cái vĩ đại. Vì vậy, ý “không thể tồn tại nếu thiếu sự vun đắp” chưa hợp lý và không thể hiện đúng nội dung ngữ liệu.
→ A đúng vì câu nói nhấn mạnh cái vĩ đại không nhất thiết bắt đầu từ những điều to tát, mà từ những việc làm nhỏ bé, bình thường. Đáp án: A
Câu 20 [1043036]: Mục đích chính của đoạn trích trên là gì?
A, Truyền cảm hứng, định hướng cho các thế hệ trẻ về lẽ sống nhân văn, sống bản lĩnh, có trách nhiệm, biết thấu hiểu, yêu thương, biết hành động vì những giá trị tốt đẹp của con người và toàn thể xã hội.
B, Truyền cảm hứng tới thế hệ trẻ những bài học nhân văn về lẽ sống biết yêu thương, biết thấu hiểu, đồng cảm, sẻ chia những giá trị tốt đẹp để con người được sống hạnh phúc hơn.
C, Truyền cảm hứng, khuyên các thế hệ trẻ nên sống nhân văn, sống yêu thương, biết ơn và trân trọng những gì mình đang có và biết tạo nên những giá trị to lớn ngay từ những hành động nhỏ bé thiết thực.
D, Truyền cảm hứng, mong muốn các thế hệ trẻ nhìn nhận chính xác hơn về lẽ sống nhân văn, khuyên chúng ta không ngừng trau dồi cho mình tình yêu thương, sự thấu hiểu, đồng cảm để không thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì chỉ nhấn mạnh vào yêu thương, thấu hiểu, sẻ chia nhưng thiếu bản lĩnh, trách nhiệm, hành động tích cực mà tác giả nhấn mạnh.
- C sai vì thiên về biết ơn, trân trọng và hành động nhỏ bé nhưng chưa phản ánh hết sự bản lĩnh, trách nhiệm xã hội mà tác giả gửi gắm.
- D sai vì thiếu các yếu tố khác như: bản lĩnh, trách nhiệm, hành động thiết thực để làm nên những điều giá trị.
→ A đúng vì đã nhấn mạnh được những điều tác giả gửi gắm đó là yêu thương, thấu hiểu, biết ơn, nhắc nhở các thế hệ trẻ về sự bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và hành động tích cực để lan tỏa những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng. Như vậy, có thể thấy tác giả vừa truyền cảm hứng, vừa định hướng những bài học về lối sống cho thế hệ trẻ. Đáp án: A
- B sai vì chỉ nhấn mạnh vào yêu thương, thấu hiểu, sẻ chia nhưng thiếu bản lĩnh, trách nhiệm, hành động tích cực mà tác giả nhấn mạnh.
- C sai vì thiên về biết ơn, trân trọng và hành động nhỏ bé nhưng chưa phản ánh hết sự bản lĩnh, trách nhiệm xã hội mà tác giả gửi gắm.
- D sai vì thiếu các yếu tố khác như: bản lĩnh, trách nhiệm, hành động thiết thực để làm nên những điều giá trị.
→ A đúng vì đã nhấn mạnh được những điều tác giả gửi gắm đó là yêu thương, thấu hiểu, biết ơn, nhắc nhở các thế hệ trẻ về sự bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và hành động tích cực để lan tỏa những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng. Như vậy, có thể thấy tác giả vừa truyền cảm hứng, vừa định hướng những bài học về lối sống cho thế hệ trẻ. Đáp án: A
Chùm 05. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Năm 2025, kỳ thi THPT quốc gia vừa kết thúc, kết quả vừa được công bố. Lại thêm một thế hệ mười tám bước đến vạch đích tự đặt ra đầu tiên trong đời mình. Trên mạng, sẽ có những tin báo điểm được chụp lại, được chia sẻ trong tự hào. Nhưng cũng có những em khóc trong im lặng. Tệ hơn nữa là những đứa trẻ dại dột nghĩ rằng “thế là hết”.
Nhưng không, không có cái “hết” nào ở tuổi mười tám cả.
Đây không phải là lời an ủi. Đây đơn giản chỉ là điều mà những người đã đi qua, tim từng hẫng một nhịp khi giám thị hô: bắt đầu giờ làm bài, từng run tay gõ số báo danh tra điểm, từng thất vọng, từng ngơ ngác, từng trống rỗng và rơi, từng tưởng như chệch khỏi đường ray... giờ ngồi lại mới có thể nói thành lời.
Không có điểm số nào đáng để một đứa trẻ 18 tuổi phải coi nhẹ bản thân. Và cũng không có điểm số nào đủ lớn để các em kiêu hãnh đến suốt đời.
Chúng tôi, hai mươi năm sau ngày biết điểm, ngồi lại với nhau trong một quán bia, nói về những gì đã qua - những lối rẽ, những sai lầm, những bài học, những quyết tâm âm thầm và cả những điều kỳ diệu đã đến ngoài mọi dự đoán.
Và rồi chúng tôi bật cười, vì nhận ra rằng: tuổi trẻ đúng là giống nhau thật - cũng bối rối, cũng mơ mộng, cũng sợ sai, cũng từng cho rằng điều gì đó là tất cả - nhưng cuộc đời thì thú vị làm sao khi nó chưa bao giờ đi theo một lộ trình cố định.
Nếu kết quả kỳ thi khiến bạn thất vọng, bạn không cần phải để nỗi buồn kéo đến tận hôm sau. Điều đẹp nhất của tuổi trẻ là nó luôn cho phép mình được bắt đầu lại, hoàn toàn tươi mới, với tất cả quyết tâm, cho đến khi nhìn thấy những điều kỳ diệu của cuộc sống này.
Đừng để một buổi sáng tháng bảy khiến ta quên mất rằng tuổi trẻ còn rất dài, và thế giới này luôn có những điều kỳ diệu cho những người chịu đi tiếp.
Chúng tôi đã đi được một chặng đường, để trải nghiệm một phần phép màu này. Và tuổi mười tám hôm nay một ngày nào đó cũng sẽ kể lại câu chuyện của mình trong một quán nhỏ, với những người bạn cũ, bằng nụ cười và tất cả sự bao dung và tự hào về chính cuộc đời mình.”
Nhưng không, không có cái “hết” nào ở tuổi mười tám cả.
Đây không phải là lời an ủi. Đây đơn giản chỉ là điều mà những người đã đi qua, tim từng hẫng một nhịp khi giám thị hô: bắt đầu giờ làm bài, từng run tay gõ số báo danh tra điểm, từng thất vọng, từng ngơ ngác, từng trống rỗng và rơi, từng tưởng như chệch khỏi đường ray... giờ ngồi lại mới có thể nói thành lời.
Không có điểm số nào đáng để một đứa trẻ 18 tuổi phải coi nhẹ bản thân. Và cũng không có điểm số nào đủ lớn để các em kiêu hãnh đến suốt đời.
Chúng tôi, hai mươi năm sau ngày biết điểm, ngồi lại với nhau trong một quán bia, nói về những gì đã qua - những lối rẽ, những sai lầm, những bài học, những quyết tâm âm thầm và cả những điều kỳ diệu đã đến ngoài mọi dự đoán.
Và rồi chúng tôi bật cười, vì nhận ra rằng: tuổi trẻ đúng là giống nhau thật - cũng bối rối, cũng mơ mộng, cũng sợ sai, cũng từng cho rằng điều gì đó là tất cả - nhưng cuộc đời thì thú vị làm sao khi nó chưa bao giờ đi theo một lộ trình cố định.
Nếu kết quả kỳ thi khiến bạn thất vọng, bạn không cần phải để nỗi buồn kéo đến tận hôm sau. Điều đẹp nhất của tuổi trẻ là nó luôn cho phép mình được bắt đầu lại, hoàn toàn tươi mới, với tất cả quyết tâm, cho đến khi nhìn thấy những điều kỳ diệu của cuộc sống này.
Đừng để một buổi sáng tháng bảy khiến ta quên mất rằng tuổi trẻ còn rất dài, và thế giới này luôn có những điều kỳ diệu cho những người chịu đi tiếp.
Chúng tôi đã đi được một chặng đường, để trải nghiệm một phần phép màu này. Và tuổi mười tám hôm nay một ngày nào đó cũng sẽ kể lại câu chuyện của mình trong một quán nhỏ, với những người bạn cũ, bằng nụ cười và tất cả sự bao dung và tự hào về chính cuộc đời mình.”
(Bùi Phú Châu, Sau ngày biết điểm thi, theo vnexpress.net)
Câu 21 [1043037]: Tác giả cho rằng điều gì là không có ở tuổi mười tám?
A, Sự bồng bột và thiếu trách nhiệm.
B, Những cảm xúc thất vọng và lo âu.
C, Một kết thúc hoàn toàn.
D, Những kỳ vọng không thực tế.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì trong đoạn văn tác giả không hề phủ nhận sự bồng bột, nông nổi và đôi khi thiếu trách nhiệm của con người khi ở độ tuổi 18 “cũng bối rối, cũng mơ mộng, cũng sợ sai, cũng từng cho rằng điều gì đó là tất cả”.
- B sai vì bài viết nêu rõ rằng: tuổi 18 đã trải qua “thất vọng, ngơ ngác, trống rỗng, rơi…”, nghĩa là cảm xúc lo âu, thất vọng, hụt hẫng hoàn toàn tồn tại.
- D sai vì bài viết cho rằng, ở tuổi 18, các bạn trẻ thường có nhiều kỳ vọng, đôi khi phi thực tế (ví dụ cho rằng kết quả thi là tất cả), bài viết cũng cho thấy điều này vẫn hiện hữu “cũng từng cho rằng điều gì đó là tất cả”.
→ C đúng vì tác giả có khẳng định “không có cái “hết” nào ở tuổi mười tám cả” → tuổi 18 chưa phải dấu chấm hết cho bất kỳ ai, kể cả khi thi rớt hay đạt điểm thấp vì chúng ta vẫn còn cơ hội để bắt đầu lại. Đáp án: C
- A sai vì trong đoạn văn tác giả không hề phủ nhận sự bồng bột, nông nổi và đôi khi thiếu trách nhiệm của con người khi ở độ tuổi 18 “cũng bối rối, cũng mơ mộng, cũng sợ sai, cũng từng cho rằng điều gì đó là tất cả”.
- B sai vì bài viết nêu rõ rằng: tuổi 18 đã trải qua “thất vọng, ngơ ngác, trống rỗng, rơi…”, nghĩa là cảm xúc lo âu, thất vọng, hụt hẫng hoàn toàn tồn tại.
- D sai vì bài viết cho rằng, ở tuổi 18, các bạn trẻ thường có nhiều kỳ vọng, đôi khi phi thực tế (ví dụ cho rằng kết quả thi là tất cả), bài viết cũng cho thấy điều này vẫn hiện hữu “cũng từng cho rằng điều gì đó là tất cả”.
→ C đúng vì tác giả có khẳng định “không có cái “hết” nào ở tuổi mười tám cả” → tuổi 18 chưa phải dấu chấm hết cho bất kỳ ai, kể cả khi thi rớt hay đạt điểm thấp vì chúng ta vẫn còn cơ hội để bắt đầu lại. Đáp án: C
Câu 22 [1043038]: “Không có điểm số nào đáng để một đứa trẻ 18 tuổi phải coi nhẹ bản thân.”
Câu văn trên thể hiện quan điểm gì của người viết?
Câu văn trên thể hiện quan điểm gì của người viết?
A, Học sinh nên tự hào vì đã cố gắng hết mình trong kì thi.
B, Không nên quan trọng hóa kỳ thi quá mức.
C, Cần cố gắng để đạt điểm cao hơn.
D, Đừng so sánh điểm số với người khác.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì câu văn không nhấn mạnh đến việc tự hào, mà là cảnh báo về việc không coi nhẹ bản thân chỉ vì điểm số.
- C sai vì câu văn không khuyên nỗ lực để nâng điểm, mà nhấn mạnh điểm số không quyết định giá trị bản thân.
- D sai vì nội dung câu văn không nói trực tiếp đến việc so sánh mà chỉ nói đến việc đừng coi nhẹ bản thân vì điểm số.
→ B đúng vì câu văn đã khẳng định điểm thi không phải thước đo duy nhất của giá trị con người, không nên quan trọng hóa kỳ thi quá mức. Đáp án: B
- A sai vì câu văn không nhấn mạnh đến việc tự hào, mà là cảnh báo về việc không coi nhẹ bản thân chỉ vì điểm số.
- C sai vì câu văn không khuyên nỗ lực để nâng điểm, mà nhấn mạnh điểm số không quyết định giá trị bản thân.
- D sai vì nội dung câu văn không nói trực tiếp đến việc so sánh mà chỉ nói đến việc đừng coi nhẹ bản thân vì điểm số.
→ B đúng vì câu văn đã khẳng định điểm thi không phải thước đo duy nhất của giá trị con người, không nên quan trọng hóa kỳ thi quá mức. Đáp án: B
Câu 23 [1043039]: Vì sao tác giả nói rằng: “Đây không phải là lời an ủi”?
A, Vì tác giả không tin vào những lời động viên sáo rỗng.
B, Vì tác giả muốn học sinh đối mặt với thực tế cuộc sống.
C, Vì tác giả từng trải qua kỳ thi, nên hiểu rõ cảm giác lúc đó mà không cần phải nói lời an ủi.
D, Vì đây là sự thật được rút ra từ trải nghiệm của những người đi trước.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì mặc dù tác giả muốn tránh “lời an ủi sáo rỗng” nhưng câu văn nhấn mạnh hơn ở chỗ đây là sự thật trải nghiệm, không phải vì “không tin”.
- B sai vì tác giả không chỉ khuyên “đối mặt với thực tế” mà còn khẳng định đây là bài học thật sự sau trải nghiệm.
- C sai vì nội dung bài có nói tác giả từng trải nhưng không phải đế tránh nói lời an ủi mà để khẳng định đây là một sự thật đã kiểm chứng qua trải nghiệm.
→ D đúng vì đoạn trích có nêu “Đây đơn giản chỉ là điều mà những người đã đi qua, tim từng hẫng một nhịp... giờ ngồi lại mới có thể nói thành lời.” điều này cho thấy tác giả khẳng định đó không phải an ủi mà là sự thật được chiêm nghiệm. Đáp án: D
- A sai vì mặc dù tác giả muốn tránh “lời an ủi sáo rỗng” nhưng câu văn nhấn mạnh hơn ở chỗ đây là sự thật trải nghiệm, không phải vì “không tin”.
- B sai vì tác giả không chỉ khuyên “đối mặt với thực tế” mà còn khẳng định đây là bài học thật sự sau trải nghiệm.
- C sai vì nội dung bài có nói tác giả từng trải nhưng không phải đế tránh nói lời an ủi mà để khẳng định đây là một sự thật đã kiểm chứng qua trải nghiệm.
→ D đúng vì đoạn trích có nêu “Đây đơn giản chỉ là điều mà những người đã đi qua, tim từng hẫng một nhịp... giờ ngồi lại mới có thể nói thành lời.” điều này cho thấy tác giả khẳng định đó không phải an ủi mà là sự thật được chiêm nghiệm. Đáp án: D
Câu 24 [1043040]: “Chúng tôi đã đi được một chặng đường, để trải nghiệm một phần phép màu này.”
Từ “phép màu” trong câu văn trên được hiểu là
Từ “phép màu” trong câu văn trên được hiểu là
A, Những điều kỳ diệu, tốt đẹp, bất ngờ mà cuộc sống mang lại sau nhiều nỗ lực và trải nghiệm.
B, Những thay đổi tích cực đến bất ngờ từ cuộc sống mà trước đó không thể hình dung hết.
C, Những cơ hội không ngờ tới mở ra sau những lần tưởng như thất bại trong đời.
D, Những điều tốt đẹp xảy ra trong hành trình sống, khiến con người cảm thấy biết ơn và trân trọng.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì nội dung đáp án nhấn mạnh tới tính bất ngờ, tích cực nhưng chưa bao quát hết ý về sự trải nghiệm, nỗ lực và những bài học con người có được như nội dung đoạn trích.
- C sai vì chỉ nhấn mạnh “cơ hội sau thất bại” trong khi “phép màu” còn rộng hơn như: niềm vui, sự may mắn, thành tựu).
- D sai vì thiên nhiều về cảm xúc biết ơn, chưa cho thấy tính kỳ diệu, bất ngờ mà đoạn trích có nhắc tới.
→ A đúng vì “phép màu” chính là những điều kỳ diệu, bất ngờ của cuộc đời mà ta chỉ nhận ra khi đã trải qua. Câu văn trước cũng nhấn mạnh rằng sau những lối rẽ, sai lầm, quyết tâm âm thầm… mới thấy được những điều kỳ diệu. Đáp án: A
- B sai vì nội dung đáp án nhấn mạnh tới tính bất ngờ, tích cực nhưng chưa bao quát hết ý về sự trải nghiệm, nỗ lực và những bài học con người có được như nội dung đoạn trích.
- C sai vì chỉ nhấn mạnh “cơ hội sau thất bại” trong khi “phép màu” còn rộng hơn như: niềm vui, sự may mắn, thành tựu).
- D sai vì thiên nhiều về cảm xúc biết ơn, chưa cho thấy tính kỳ diệu, bất ngờ mà đoạn trích có nhắc tới.
→ A đúng vì “phép màu” chính là những điều kỳ diệu, bất ngờ của cuộc đời mà ta chỉ nhận ra khi đã trải qua. Câu văn trước cũng nhấn mạnh rằng sau những lối rẽ, sai lầm, quyết tâm âm thầm… mới thấy được những điều kỳ diệu. Đáp án: A
Câu 25 [1043041]: Thông điệp mà người viết muốn gửi đến người đọc là gì?
A, Tuổi trẻ cần cẩn trọng trong việc chọn lộ trình và mục tiêu ngay từ đầu để tránh sai lầm.
B, Kỳ thi THPT quốc gia là dấu mốc quan trọng, nhưng không quyết định toàn bộ cuộc đời.
C, Mỗi người cần nỗ lực hết mình trong thi cử để không hối tiếc về sau.
D, Thành công chỉ đến với những ai biết bám sát kế hoạch đã đặt ra từ trước.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì văn bản không nhấn mạnh chuyện “chọn đúng lộ trình ngay từ đầu” mà khẳng định tuổi trẻ luôn có thể bắt đầu lại.
- C sai vì văn bản không bàn quá nhiều về chuyện “nỗ lực trong thi cử” mà tập trung vào thái độ sau khi có kết quả.
- D sai vì tác giả nhấn mạnh rằng cuộc đời không đi theo lộ trình cố định, luôn có những bất ngờ và cơ hội mới.
→ B đúng vì văn bản có nêu “không có cái ‘hết’ nào ở tuổi mười tám cả”, “điểm số không đáng để coi nhẹ bản thân”. Kỳ thi chỉ là một chặng đường, không quyết định toàn bộ tương lai của chúng ta. Đáp án: B
- A sai vì văn bản không nhấn mạnh chuyện “chọn đúng lộ trình ngay từ đầu” mà khẳng định tuổi trẻ luôn có thể bắt đầu lại.
- C sai vì văn bản không bàn quá nhiều về chuyện “nỗ lực trong thi cử” mà tập trung vào thái độ sau khi có kết quả.
- D sai vì tác giả nhấn mạnh rằng cuộc đời không đi theo lộ trình cố định, luôn có những bất ngờ và cơ hội mới.
→ B đúng vì văn bản có nêu “không có cái ‘hết’ nào ở tuổi mười tám cả”, “điểm số không đáng để coi nhẹ bản thân”. Kỳ thi chỉ là một chặng đường, không quyết định toàn bộ tương lai của chúng ta. Đáp án: B
Chùm 06. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Cuộc sống không thường xuyên diễn ra như chúng ta mong đợi. Khi gặp phải những kết quả không mong muốn, chúng ta thường có cảm xúc tiêu cực. Nếu điều này xảy ra với bạn ngay bây giờ, cho dù nó có áp đảo và đáng sợ đến đâu, tôi muốn bạn biết rằng, bạn có thể vượt qua cơn bão này. Bạn mạnh mẽ hơn những gì bạn cảm thấy lúc này và khôn ngoan hơn những gì bạn tưởng.
Một khi cơn bão dịu đi và nó chắc chắn sẽ qua đi, đừng nghĩ rằng bạn cần phải đứng dậy ngay lập tức và trở về vị trí cũ. Hãy cho bản thân thời gian để ngồi với cảm xúc hiện tại của bạn. Khi bạn dành thời gian và không gian cho cảm xúc của mình, bạn sẽ biết cách xử lí chúng. Hãy đặt ra những câu hỏi quan trọng như “Bây giờ tôi đang cảm thấy thế nào?”, “Cảm xúc của tôi như đang muốn nói với tôi điều gì?”, “Tôi đã học được gì từ trải nghiệm này?”. Khi đặt ra những câu hỏi này với sự tò mò thay vì phán xét, chúng ta sẽ nhận ra những sự thật sâu sắc hơn về bản thân.
Quá trình này sẽ giúp chúng ta bình tĩnh và phản ứng một cách khôn ngoan thay vì bốc đồng. Chúng ta có cơ hội để định nghĩa lại con người thực sự của mình thông qua cách bản thân phản ứng trước một thất bại. Hãy nhớ rằng, những câu chuyện vĩ đại nhất không phải là câu chuyện mà trong đó mọi thứ đều diễn ra suôn sẻ như mong đợi, chúng luôn là những câu chuyện về việc vượt qua khó khăn và hồi sinh sau thất bại.
Chúng ta vẫn chưa viết xong cuốn sách của cuộc đời mình. Hãy viết tiếp một trong những câu chuyện ý nghĩa nhất mà không phải hối tiếc…”
Một khi cơn bão dịu đi và nó chắc chắn sẽ qua đi, đừng nghĩ rằng bạn cần phải đứng dậy ngay lập tức và trở về vị trí cũ. Hãy cho bản thân thời gian để ngồi với cảm xúc hiện tại của bạn. Khi bạn dành thời gian và không gian cho cảm xúc của mình, bạn sẽ biết cách xử lí chúng. Hãy đặt ra những câu hỏi quan trọng như “Bây giờ tôi đang cảm thấy thế nào?”, “Cảm xúc của tôi như đang muốn nói với tôi điều gì?”, “Tôi đã học được gì từ trải nghiệm này?”. Khi đặt ra những câu hỏi này với sự tò mò thay vì phán xét, chúng ta sẽ nhận ra những sự thật sâu sắc hơn về bản thân.
Quá trình này sẽ giúp chúng ta bình tĩnh và phản ứng một cách khôn ngoan thay vì bốc đồng. Chúng ta có cơ hội để định nghĩa lại con người thực sự của mình thông qua cách bản thân phản ứng trước một thất bại. Hãy nhớ rằng, những câu chuyện vĩ đại nhất không phải là câu chuyện mà trong đó mọi thứ đều diễn ra suôn sẻ như mong đợi, chúng luôn là những câu chuyện về việc vượt qua khó khăn và hồi sinh sau thất bại.
Chúng ta vẫn chưa viết xong cuốn sách của cuộc đời mình. Hãy viết tiếp một trong những câu chuyện ý nghĩa nhất mà không phải hối tiếc…”
(Hae Min, Khi mọi điều không như ý, NXB Thế giới, 2025)
Câu 26 [1043042]: Theo đoạn trích, khi gặp những kết quả không như mong muốn con người sẽ ra sao?
A, Thấy cần phải đứng dậy ngay lập tức.
B, Có cảm xúc tiêu cực.
C, Đặt ra những câu hỏi với sự tò mò.
D, Bình tĩnh và phản ứng một cách khôn ngoan.
Giải thích chi tiết:
Văn bản có nêu “Khi gặp phải những kết quả không mong muốn, chúng ta thường có cảm xúc tiêu cực.”
→ B là đáp án đúng. Đáp án: B
Văn bản có nêu “Khi gặp phải những kết quả không mong muốn, chúng ta thường có cảm xúc tiêu cực.”
→ B là đáp án đúng. Đáp án: B
Câu 27 [1043043]: Theo tác giả, chúng ta nên làm gì để vượt qua những cảm xúc tiêu cực?
A, Đứng dậy ngay lập tức và trở về vị trí cũ, đặt ra những câu hỏi với sự tò mò thay vì phán xét.
B, Cho bản thân thời gian để ngồi với cảm xúc hiện tại để hiểu sâu sắc hơn về bản thân.
C, Dành thời gian và không gian cho cảm xúc của mình, đặt ra những câu hỏi để tìm lại chính mình.
D, Dành thời gian cho cảm xúc của bản thân, đặt ra những câu hỏi tò mò thay vì phán xét.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì tác giả nói ngược lại “đừng nghĩ rằng bạn cần phải đứng dậy ngay lập tức…”
- B sai vì thiếu “tò mò thay vì phán xét”.
- C sai vì tác giả không nói “tìm lại chính mình” mà là “hiểu sâu sắc hơn về bản thân”.
→ D đúng vì văn bản có nêu “Hãy cho bản thân thời gian để ngồi với cảm xúc hiện tại của bạn... Khi đặt ra những câu hỏi này với sự tò mò thay vì phán xét, chúng ta sẽ nhận ra những sự thật sâu sắc hơn về bản thân.” → cách vượt qua tiêu cực là cho phép mình trải nghiệm cảm xúc và đặt câu hỏi với sự tò mò, không phán xét. Đáp án: D
- A sai vì tác giả nói ngược lại “đừng nghĩ rằng bạn cần phải đứng dậy ngay lập tức…”
- B sai vì thiếu “tò mò thay vì phán xét”.
- C sai vì tác giả không nói “tìm lại chính mình” mà là “hiểu sâu sắc hơn về bản thân”.
→ D đúng vì văn bản có nêu “Hãy cho bản thân thời gian để ngồi với cảm xúc hiện tại của bạn... Khi đặt ra những câu hỏi này với sự tò mò thay vì phán xét, chúng ta sẽ nhận ra những sự thật sâu sắc hơn về bản thân.” → cách vượt qua tiêu cực là cho phép mình trải nghiệm cảm xúc và đặt câu hỏi với sự tò mò, không phán xét. Đáp án: D
Câu 28 [1043044]: Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích trên là?
A, Bác bỏ.
B, So sánh.
C, Chứng minh.
D, Bình luận.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì đoạn văn không nhằm bác bỏ một quan điểm cụ thể nào.
- B sai vì đoạn văn không so sánh trực tiếp hai sự vật, hiện tượng.
- C sai vì đoạn văn không đưa ra dẫn chứng cụ thể, số liệu hay ví dụ thực tế để chứng minh.
→ D đúng vì toàn bộ đoạn trích chủ yếu là những nhận định, bàn luận, lời khuyên, suy ngẫm về cách con người nên ứng xử trước thất bại. Đáp án: D
- A sai vì đoạn văn không nhằm bác bỏ một quan điểm cụ thể nào.
- B sai vì đoạn văn không so sánh trực tiếp hai sự vật, hiện tượng.
- C sai vì đoạn văn không đưa ra dẫn chứng cụ thể, số liệu hay ví dụ thực tế để chứng minh.
→ D đúng vì toàn bộ đoạn trích chủ yếu là những nhận định, bàn luận, lời khuyên, suy ngẫm về cách con người nên ứng xử trước thất bại. Đáp án: D
Câu 29 [1043045]: “Hãy nhớ rằng, những câu chuyện vĩ đại nhất không phải là câu chuyện mà trong đó mọi thứ đều diễn ra suôn sẻ như mong đợi, chúng luôn là những câu chuyện về việc vượt qua khó khăn và hồi sinh sau thất bại.”
Nhận định nào về câu trên là đúng?
Nhận định nào về câu trên là đúng?
A, Thử thách, khó khăn trong cuộc sống là điều tất yếu, con người nên từ bỏ suy nghĩ về một cuộc sống nhẹ nhàng, thuận lợi.
B, Thử thách, khó khăn thậm chí sự không hoàn hảo là điều tất yếu của cuộc sống, đó đều cần thiết để tạo nên những giá trị khác biệt và ý nghĩa.
C, Thử thách, khó khăn có vai trò quyết định tới những thành công mà con người đạt được ở tương lai, không có khó khăn thì không có thành công.
D, Thử thách, khó khăn tạo nên những giá trị cốt lõi để con người trưởng thành, nếu cuộc sống dễ dàng thì không thể tạo ra giá trị khác biệt.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì nội dung đáp án mang tính cực đoan, tác giả không khuyên từ bỏ mong ước cuộc sống thuận lời mà chỉ nhấn mạnh những khó khăn trong cuộc sống là tất yếu.
- C sai vì nội dung đáp án có sự tuyệt đói hóa vai trò của khó khăn, tác giả chỉ nhấn mạnh nó là yếu tố quan trọng, không nói “quyết định” hay “bắt buộc” cần có.
- D sai vì nội dung đáp án đang khẳng định một cách chủ quan, bởi thử thách, khó khăn chưa hẳn đã tạo nên “giá trị cốt lõi” để con ngườu trưởng thành vì để trưởng thành con người cần trải qua rất nhiều điều, trải nghiệm rất nhiều cung bậc khác nhau.
→ B đúng vì nội dung đáp án nhấn mạnh những khó khăn, thất bại là tất yếu và cần thiết để con người có thể làm nên thành công, những điều giá trị cho cuộc đời. Đáp án: B
- A sai vì nội dung đáp án mang tính cực đoan, tác giả không khuyên từ bỏ mong ước cuộc sống thuận lời mà chỉ nhấn mạnh những khó khăn trong cuộc sống là tất yếu.
- C sai vì nội dung đáp án có sự tuyệt đói hóa vai trò của khó khăn, tác giả chỉ nhấn mạnh nó là yếu tố quan trọng, không nói “quyết định” hay “bắt buộc” cần có.
- D sai vì nội dung đáp án đang khẳng định một cách chủ quan, bởi thử thách, khó khăn chưa hẳn đã tạo nên “giá trị cốt lõi” để con ngườu trưởng thành vì để trưởng thành con người cần trải qua rất nhiều điều, trải nghiệm rất nhiều cung bậc khác nhau.
→ B đúng vì nội dung đáp án nhấn mạnh những khó khăn, thất bại là tất yếu và cần thiết để con người có thể làm nên thành công, những điều giá trị cho cuộc đời. Đáp án: B
Câu 30 [1043046]: “Chúng ta vẫn chưa viết xong cuốn sách của cuộc đời mình. Hãy viết tiếp một trong những câu chuyện ý nghĩa nhất mà không phải hối tiếc…”
Theo em, đoạn văn trên gửi gắm thông điệp gì?
Theo em, đoạn văn trên gửi gắm thông điệp gì?
A, Cuộc sống là một hành trình dài, chúng ta còn rất nhiều cơ hội để tạo ra những giá trị cao đẹp và bền vững, sống một cách trọn vẹn để không phải hối tiếc.
B, Cuộc sống là một hành trình dài nhưng chúng ta cần cố gắng không ngừng để tạo ra những thành tựu vĩ đại trước khi quá muộn.
C, Cuộc sống là một hành trình dài, hãy nỗ lực đạt được thành công để được mọi người ngưỡng mộ.
D, Cuộc sống là một hành trình dài, hãy nỗ lực hết mình để làm giàu và tạo nên tên tuổi ghi dấu ấn trong đời.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì quá nhấn mạnh vào “thành tựu vĩ đại” và “trước khi quá muộn”, điều này không phù hợp với tinh thần nhân văn, bao dung của tác giả.
- C sai vì đoạn văn không nói về sự ngưỡng mộ của người khác.
- D sai vì tác giả không đề cập đến tiền bạc hay danh tiếng.
→ A đúng vì nội dung đáp án nhấn mạnh cơ hội, ý nghĩa và thông điệp sống trọn vẹn để không hối tiếc. Đáp án: A
- B sai vì quá nhấn mạnh vào “thành tựu vĩ đại” và “trước khi quá muộn”, điều này không phù hợp với tinh thần nhân văn, bao dung của tác giả.
- C sai vì đoạn văn không nói về sự ngưỡng mộ của người khác.
- D sai vì tác giả không đề cập đến tiền bạc hay danh tiếng.
→ A đúng vì nội dung đáp án nhấn mạnh cơ hội, ý nghĩa và thông điệp sống trọn vẹn để không hối tiếc. Đáp án: A
Chùm 07. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Nhận được lòng tốt từ người khác là một trải nghiệm tuyệt vời. Hãy thử nghĩ tới lần mà ai đó đối xử tốt với bạn, chẳng hạn một người qua đường chỉ bạn đường tới bến tàu, hay một người lạ lao mình xuống sông để cứu bạn khỏi chết đuối.
Những việc ấy tác động thế nào tới bạn? Chắc hẳn là một tác động tích cực, bởi khi ai đó chìa tay giúp đỡ khi ta cần, ta sẽ thấy nhẹ nhõm. Bất cứ ai cũng muốn được lắng nghe, được đối xử bằng tình bằng hữu và một tấm lòng ấm áp, được thấu hiểu, và được nâng niu.
Điều tương tự cũng xảy đến với vế còn lại của phương trình này: cho đi lòng tốt cũng tác động tích cực tới ta hệt như khi nhận được lòng tốt vậy. Nếu bạn đồng tình với khái niệm mở rộng mà tôi sẽ đưa ra về lòng tốt trong cuốn sách này, bạn có thể chắc chắn rằng những người giàu lòng nhân ái thường khỏe mạnh và sống lâu hơn; được nhiều người biết tới, làm việc hiệu quả hơn, thành công hơn trong kinh doanh và hạnh phúc hơn những người khác (Đây cũng là điều đã được nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh). Nói cách khác, họ hướng tới một cuộc sống thú vị và sung túc hơn những người không có phẩm chất này. Họ được trang bị tốt hơn, sẵn sàng đối mặt với tất cả sự bất định đến đáng sợ của cuộc sống.
Nhưng có người sẽ phản đối thế này: Giả sử ta đối tốt với người khác để cảm thấy tốt hơn và sống lâu hơn, chẳng phải nghĩ vậy là đang phủ nhận bản chất cốt yếu của lòng tốt hay sao? Ta sẽ biến nó thành việc tư lợi và tính toán. Như thế, nó không còn là lòng tốt nữa. Đúng vậy! Mục đích của lòng tốt được tự suy từ chính nó, không phải từ những động cơ khác. Lợi ích đích thực của lòng tốt là đối xử tốt với người khác. Lòng tốt đem lại ý nghĩa và giá trị cho cuộc sống nhiều hơn bất cứ nhân tố nào khác, nó nâng ta vượt qua khỏi những rắc rối và xung đột trong ta, khiến ta cảm thấy tốt hơn về bản thân mình.
Những việc ấy tác động thế nào tới bạn? Chắc hẳn là một tác động tích cực, bởi khi ai đó chìa tay giúp đỡ khi ta cần, ta sẽ thấy nhẹ nhõm. Bất cứ ai cũng muốn được lắng nghe, được đối xử bằng tình bằng hữu và một tấm lòng ấm áp, được thấu hiểu, và được nâng niu.
Điều tương tự cũng xảy đến với vế còn lại của phương trình này: cho đi lòng tốt cũng tác động tích cực tới ta hệt như khi nhận được lòng tốt vậy. Nếu bạn đồng tình với khái niệm mở rộng mà tôi sẽ đưa ra về lòng tốt trong cuốn sách này, bạn có thể chắc chắn rằng những người giàu lòng nhân ái thường khỏe mạnh và sống lâu hơn; được nhiều người biết tới, làm việc hiệu quả hơn, thành công hơn trong kinh doanh và hạnh phúc hơn những người khác (Đây cũng là điều đã được nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh). Nói cách khác, họ hướng tới một cuộc sống thú vị và sung túc hơn những người không có phẩm chất này. Họ được trang bị tốt hơn, sẵn sàng đối mặt với tất cả sự bất định đến đáng sợ của cuộc sống.
Nhưng có người sẽ phản đối thế này: Giả sử ta đối tốt với người khác để cảm thấy tốt hơn và sống lâu hơn, chẳng phải nghĩ vậy là đang phủ nhận bản chất cốt yếu của lòng tốt hay sao? Ta sẽ biến nó thành việc tư lợi và tính toán. Như thế, nó không còn là lòng tốt nữa. Đúng vậy! Mục đích của lòng tốt được tự suy từ chính nó, không phải từ những động cơ khác. Lợi ích đích thực của lòng tốt là đối xử tốt với người khác. Lòng tốt đem lại ý nghĩa và giá trị cho cuộc sống nhiều hơn bất cứ nhân tố nào khác, nó nâng ta vượt qua khỏi những rắc rối và xung đột trong ta, khiến ta cảm thấy tốt hơn về bản thân mình.
(Piero Ferrucci, Giá trị của sự tử tế, NXB Hồng Đức, 2019)
Câu 31 [1043047]: Theo đoạn trích trên, khi nhận được lòng tốt từ người khác, chúng ta thường cảm thấy như thế nào?
A, Hoài nghi, lo lắng, cảnh giác.
B, Nhẹ nhõm, tích cực.
C, Ngạc nhiên, lo sợ.
D, Phân vân, hoài nghi.
Giải thích chi tiết:
Trong đoạn trích, tác giả viết “...khi ai đó chìa tay giúp đỡ khi ta cần, ta sẽ thấy nhẹ nhõm. Chắc hẳn là một tác động tích cực...”
→ Cảm xúc mà người nhận được lòng tốt thường có là nhẹ nhõm và tích cực. Đáp án: B
Trong đoạn trích, tác giả viết “...khi ai đó chìa tay giúp đỡ khi ta cần, ta sẽ thấy nhẹ nhõm. Chắc hẳn là một tác động tích cực...”
→ Cảm xúc mà người nhận được lòng tốt thường có là nhẹ nhõm và tích cực. Đáp án: B
Câu 32 [1043048]: Từ đoạn trích, những người giàu lòng nhân ái thường có những đặc điểm nào?
A, Khỏe mạnh, làm việc hiệu quả, dễ dàng đạt được thành công nhưng cuộc sống không mấy hạnh phúc.
B, Thông minh, mạnh khỏe và sống lâu hơn, được nhiều người biết tới.
C, Sức khỏe tốt, được nhiều người biết tới, làm việc hiệu quả, thành công và hạnh phúc hơn.
D, Khỏe mạnh, sống lâu hơn, thông minh, dễ đạt được thành công và hạnh phúc hơn.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì nói “cuộc sống không mấy hạnh phúc” là trái ngược với nội dung văn bản.
- B sai vì văn bản không nhắn tới “thông minh”
- D sai vì văn bản không nhắc tới “thông minh” và cụm từ “dễ đạt được thành công” cũng không chính xác vì văn bản chỉ nói “thành công hơn trong kinh doanh”.
→ C đúng vì trong đoạn trích có nêu “...những người giàu lòng nhân ái thường khỏe mạnh và sống lâu hơn; được nhiều người biết tới, làm việc hiệu quả hơn, thành công hơn trong kinh doanh và hạnh phúc hơn những người khác.” Đáp án: C
- A sai vì nói “cuộc sống không mấy hạnh phúc” là trái ngược với nội dung văn bản.
- B sai vì văn bản không nhắn tới “thông minh”
- D sai vì văn bản không nhắc tới “thông minh” và cụm từ “dễ đạt được thành công” cũng không chính xác vì văn bản chỉ nói “thành công hơn trong kinh doanh”.
→ C đúng vì trong đoạn trích có nêu “...những người giàu lòng nhân ái thường khỏe mạnh và sống lâu hơn; được nhiều người biết tới, làm việc hiệu quả hơn, thành công hơn trong kinh doanh và hạnh phúc hơn những người khác.” Đáp án: C
Câu 33 [1043049]: Mục đích chính của việc tác giả đưa ra ý kiến phản đối trong đoạn văn cuối cùng là gì?
A, Để khẳng định rằng lòng tốt dễ bị đánh đồng với sự giả tạo.
B, Để nhấn mạnh lòng tốt phải xuất phát từ nội tâm chân thành.
C, Để cảnh báo việc lòng tốt có thể bị lợi dụng trong xã hội hiện đại.
D, Để nhấn mạnh rằng động cơ vị kỷ không làm mất đi giá trị hành vi tốt.
Giải thích chi tiết:
Đoạn văn cuối như sau: “Nhưng có người sẽ phản đối thế này: Giả sử ta đối tốt với người khác để cảm thấy tốt hơn và sống lâu hơn, chẳng phải nghĩ vậy là đang phủ nhận bản chất cốt yếu của lòng tốt hay sao? … Đúng vậy! Mục đích của lòng tốt được tự suy từ chính nó, không phải từ những động cơ khác.”
- A sai vì văn bản không nói lòng tốt dễ bị coi là giả tạo mà chỉ nhấn mạnh: nếu coi lòng tốt như một công cụ để có lợi ích cá nhân → thì nó mất đi bản chất.
- C sai vì đoạn văn không hề bàn đến chuyện “lòng tốt bị người khác lợi dụng” mà bàn về động cơ khi ta làm việc tốt.
- D sai vì văn bản nói ngược lại: nếu làm việc tốt vì động cơ vị kỳ → không còn là lòng tốt nữa.
→ B đúng vì đoạn văn muốn truyền đạt thông điệp rằng: “mục đích của lòng tốt được tự suy từ chính nó” → lòng tốt tự nó đã có giá trị khi được xuất phát từ sự chân thành, tự nhiên, không vì mục đích tư lợi nào khác. Đáp án: B
Đoạn văn cuối như sau: “Nhưng có người sẽ phản đối thế này: Giả sử ta đối tốt với người khác để cảm thấy tốt hơn và sống lâu hơn, chẳng phải nghĩ vậy là đang phủ nhận bản chất cốt yếu của lòng tốt hay sao? … Đúng vậy! Mục đích của lòng tốt được tự suy từ chính nó, không phải từ những động cơ khác.”
- A sai vì văn bản không nói lòng tốt dễ bị coi là giả tạo mà chỉ nhấn mạnh: nếu coi lòng tốt như một công cụ để có lợi ích cá nhân → thì nó mất đi bản chất.
- C sai vì đoạn văn không hề bàn đến chuyện “lòng tốt bị người khác lợi dụng” mà bàn về động cơ khi ta làm việc tốt.
- D sai vì văn bản nói ngược lại: nếu làm việc tốt vì động cơ vị kỳ → không còn là lòng tốt nữa.
→ B đúng vì đoạn văn muốn truyền đạt thông điệp rằng: “mục đích của lòng tốt được tự suy từ chính nó” → lòng tốt tự nó đã có giá trị khi được xuất phát từ sự chân thành, tự nhiên, không vì mục đích tư lợi nào khác. Đáp án: B
Câu 34 [1043050]: “Nói cách khác, họ hướng tới một cuộc sống thú vị và sung túc hơn những người không có phẩm chất này. Họ được trang bị tốt hơn, sẵn sàng đối mặt với tất cả sự bất định đến đáng sợ của cuộc sống.”
Cụm từ “sự bất định đến đáng sợ của cuộc sống” trong đoạn văn trên chỉ điều gì?
Cụm từ “sự bất định đến đáng sợ của cuộc sống” trong đoạn văn trên chỉ điều gì?
A, Trạng thái tĩnh lặng đến đáng sợ khiến con người mất phương hướng.
B, Trạng thái con người cảm thấy bất lực với những gì đang diễn ra trong cuộc sống.
C, Những điều không chắc chắn và cả những khó khăn, thử thách đang tiềm ẩn trong cuộc sống.
D, Những điều không cố định, không ổn định có thể mang tới khó khăn, thử thách cho con người.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì từ “bất định” không có nghĩa là “tĩnh lặng” mà mang nghĩa chỉ sự không ổn định, khó đoán.
- B sai vì nội dung đáp án chỉ là một hệ quả (bất lực) chứ không phải bản chất của bất định, bởi “bất định” là đặc tính của hoàn cảnh, không phải cảm giác bất lực.
- D sai vì từ “không ổn định, không cố định” đang nhìn sự bất định như một trạng thái bề ngoài nhưng trong văn bản muốn làm rõ sự bất định tiềm ẩn những điều không chắc chắn, tiền ẩn những khó khăn và thử thách (nghĩa rộng và sâu hơn)
→ C đúng vì:
- “nhưng điều không chắc chắn” → sự bất định
- “những khó khăn, thử thách tiềm ẩn” → nhấn mạnh sự bất định không chỉ là mơ hồ mà còn có thể kéo theo những tình huống gây trở ngại, đòi hỏi con người phải đối mặt. Đáp án: C
- A sai vì từ “bất định” không có nghĩa là “tĩnh lặng” mà mang nghĩa chỉ sự không ổn định, khó đoán.
- B sai vì nội dung đáp án chỉ là một hệ quả (bất lực) chứ không phải bản chất của bất định, bởi “bất định” là đặc tính của hoàn cảnh, không phải cảm giác bất lực.
- D sai vì từ “không ổn định, không cố định” đang nhìn sự bất định như một trạng thái bề ngoài nhưng trong văn bản muốn làm rõ sự bất định tiềm ẩn những điều không chắc chắn, tiền ẩn những khó khăn và thử thách (nghĩa rộng và sâu hơn)
→ C đúng vì:
- “nhưng điều không chắc chắn” → sự bất định
- “những khó khăn, thử thách tiềm ẩn” → nhấn mạnh sự bất định không chỉ là mơ hồ mà còn có thể kéo theo những tình huống gây trở ngại, đòi hỏi con người phải đối mặt. Đáp án: C
Câu 35 [1043051]: Chủ đề chính của đoạn văn trên là gì?
A, Tác động tích cực của lòng tốt đối với mỗi người, khi sống có lòng tốt con người không chỉ cảm thấy thoải mái, thanh thản về tinh thần, thể chất mà sự nghiệp cũng tốt hơn; bản chất của lòng tốt cần được xuất phát từ trái tim không phải vì lợi ích cá nhân.
B, Tác động tích cực của lòng tốt đối với mỗi người, khi sống có lòng tốt con người sẽ có một cơ thể khỏe mạnh và dễ dàng gặt hái được thành công trong cuộc sống; bản chất của lòng tốt cần được xuất phát từ trái tim không phải vì lợi ích cá nhân.
C, Tác động tích cực của lòng tốt tới sức khỏe tinh thần của con người, khi trao đi lòng tốt con người dễ dàng nhận được sự thư thái trong tâm hồn; bản chất của lòng tốt cần được xuất phát từ trái tim không phải vì lợi ích cá nhân.
D, Tác động tích cực của lòng tốt đối với sự nghiệp của mỗi người, khi sống tốt con người dễ dàng tạo được những giá trị tốt đẹp, khi ấy sự nghiệp cũng được thuận lợi, suôn sẻ và thành công hơn.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì nội dung đáp án chưa bao quát hết toàn bộ nội dung, chỉ nói “cơ thể khỏe mạnh, dễ thành công” → chưa bao quát hạnh phúc, tinh thần.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ đang nói đến tác động tinh thần → bỏ qua sức khỏe, sự nghiệp, hạnh phúc.
- D sai vì nội dung đáp án chỉ đang nhấn mạnh sự nghiệp nhưng đây chỉ là một phương diện phản ánh trong văn bản.
→ A đúng vì đã bao quát được đúng, đủ hai nội dung trọng tâm của đoạn trích: lợi ích của lòng tốt (thoải mái, thanh thản về tinh thần, sự nghiệp tốt..) và bản chất của lòng tốt (chân thành, xuất phát từ trái tim) Đáp án: A
- B sai vì nội dung đáp án chưa bao quát hết toàn bộ nội dung, chỉ nói “cơ thể khỏe mạnh, dễ thành công” → chưa bao quát hạnh phúc, tinh thần.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ đang nói đến tác động tinh thần → bỏ qua sức khỏe, sự nghiệp, hạnh phúc.
- D sai vì nội dung đáp án chỉ đang nhấn mạnh sự nghiệp nhưng đây chỉ là một phương diện phản ánh trong văn bản.
→ A đúng vì đã bao quát được đúng, đủ hai nội dung trọng tâm của đoạn trích: lợi ích của lòng tốt (thoải mái, thanh thản về tinh thần, sự nghiệp tốt..) và bản chất của lòng tốt (chân thành, xuất phát từ trái tim) Đáp án: A
Chùm 08. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Tony mở báo ra coi. Mục giải trí scandal bầu sô ca sĩ. Mục xã hội: tin ngộ độc thực phẩm. Tin quốc tế: Nước A chết người, nước B chiến tranh. Tin thể thao: tin mua bán đô. Tin kinh tế: Lạm phát, nhập siêu. Tin thời tiết: Lũ lụt, triều cường, hạn hán, bão xa, bão gần... Vô hình trung, cứ mỗi buổi sáng thức dậy, bên tách cafe, người ta mở báo ra là bắt đầu lo lắng. Có những lo lắng rất thật và có những lo lắng không đâu. Và cảm giác ấy theo họ suốt ngày dài làm việc, dẫn đến hiệu quả sẽ kém đi, vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trong khi lẽ ra mọi người nên bắt đầu ngày mới với sự hưng phấn để có năng suất lao động cao hơn.
Cùng một cơn mưa người tiêu cực sẽ bực mình vì phải trùm áo mưa, người lạc quan thì nghĩ đến cây cối sẽ được xanh tươi, không khí sẽ được trong lành. Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực. Cái thiện có thể sẽ thua cái ác trong một thời điểm, nhưng chung cuộc sẽ chiến thắng. Cứ sau một sự cố, con người lại tìm ra nguyên nhân và khắc phục nó. Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ được rửa sạch. Lỗi lầm của người khác, thay vì giữ trong lòng và tức giận, thôi bỏ qua, mình sẽ thấy thoải mái hơn rất nhiều. Nói một cách khác, nếu bạn được sống 100 năm, xem như là bộ phim 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia li, mất mát.”
Cùng một cơn mưa người tiêu cực sẽ bực mình vì phải trùm áo mưa, người lạc quan thì nghĩ đến cây cối sẽ được xanh tươi, không khí sẽ được trong lành. Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực. Cái thiện có thể sẽ thua cái ác trong một thời điểm, nhưng chung cuộc sẽ chiến thắng. Cứ sau một sự cố, con người lại tìm ra nguyên nhân và khắc phục nó. Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ được rửa sạch. Lỗi lầm của người khác, thay vì giữ trong lòng và tức giận, thôi bỏ qua, mình sẽ thấy thoải mái hơn rất nhiều. Nói một cách khác, nếu bạn được sống 100 năm, xem như là bộ phim 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia li, mất mát.”
(Tony buổi sáng, Trên đường băng, NXB Trẻ, 2015)
Câu 36 [1043052]: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
A, Tự sự.
B, Miêu tả.
C, Nghị luận.
D, Biểu cảm.
Giải thích chi tiết:
Vấn đề nghị luận đoạn trích đang đề cập: thái độ sống tích cự và cách nhìn nhận các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống, đặc biệt là tin tức trên báo chí, để duy trì tinh thần lạc quan và nâng cao hiệu suất làm việc.
→ Đây là văn bản nghị luận nên phương thức biểu đạt chính là nghị luận.
→ C là đáp án đúng. Đáp án: C
Vấn đề nghị luận đoạn trích đang đề cập: thái độ sống tích cự và cách nhìn nhận các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống, đặc biệt là tin tức trên báo chí, để duy trì tinh thần lạc quan và nâng cao hiệu suất làm việc.
→ Đây là văn bản nghị luận nên phương thức biểu đạt chính là nghị luận.
→ C là đáp án đúng. Đáp án: C
Câu 37 [1043053]: Theo đoạn trích trên, việc đọc báo buổi sáng thường đem đến cho con người cảm xúc gì?
A, Cảm giác lo lắng, hiệu quả công việc giảm sút.
B, Sự phấn khởi, nâng cao năng suất lao động.
C, Niềm vui, sự hứng khởi chào đón ngày mới.
D, Sự bình tĩnh đón nhận và thấu hiểu các vấn đề đang diễn ra.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì trong đoạn trích tác giả khẳng định hiệu quả công việc giảm sút, không phải tăng lên.
- C sai vì đoạn trích cho thấy tâm trạng lo âu, tiêu cực, không phải niềm vui.
- D sai vì đây không phải ý kiến nhà văn nêu trong đoạn trích.
→ A đúng vì trong đoạn trích có nêu “Tony mở báo ra coi thì thấy nào là thiên tai, nào là tai nạn… Mình thấy lo lắng cho vận mệnh đất nước… Hiệu quả công việc cũng giảm sút hẳn.” → việc đọc báo buổi sáng tăng cảm giác lo lắng và ảnh hưởng đến năng suất lao động. Đáp án: A
- B sai vì trong đoạn trích tác giả khẳng định hiệu quả công việc giảm sút, không phải tăng lên.
- C sai vì đoạn trích cho thấy tâm trạng lo âu, tiêu cực, không phải niềm vui.
- D sai vì đây không phải ý kiến nhà văn nêu trong đoạn trích.
→ A đúng vì trong đoạn trích có nêu “Tony mở báo ra coi thì thấy nào là thiên tai, nào là tai nạn… Mình thấy lo lắng cho vận mệnh đất nước… Hiệu quả công việc cũng giảm sút hẳn.” → việc đọc báo buổi sáng tăng cảm giác lo lắng và ảnh hưởng đến năng suất lao động. Đáp án: A
Câu 38 [1043054]: “Tony mở báo ra coi. Mục giải trí scandal bầu sô ca sĩ. Mục xã hội: tin ngộ độc thực phẩm. Tin quốc tế: Nước A chết người, nước B chiến tranh. Tin thể thao: tin mua bán đô. Tin kinh tế: Lạm phát, nhập siêu. Tin thời tiết: Lũ lụt, triều cường, hạn hán, bão xa, bão gần... Vô hình trung, cứ mỗi buổi sáng thức dậy, bên tách cafe, người ta mở báo ra là bắt đầu lo lắng.”
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong đoạn văn trên là?
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong đoạn văn trên là?
A, Nhấn mạnh bức tranh toàn cảnh của xã hội với những vấn đề nổi cộm, hỗn loạn xuất hiện trên các trang báo.
B, Nhấn mạnh sự tràn ngập các thông tin tiêu cực, những cảm xúc lo lắng, bất an của con người khi tiếp xúc với những thông tin đó hàng ngày.
C, Nhấn mạnh và làm nổi bật những trạng thái cảm xúc lo lắng, bất an của con người khi tiếp xúc với các thông tin tiêu cực hàng ngày.
D, Nhấn mạnh bức tranh xã hội đầy hỗn loạn cùng vô vàn những thông tin tiêu cực đang xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng xã hội.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì đoạn văn không tập trung vào “toàn cảnh xã hội” mà nhấn mạnh cảm xúc người đọc khi đối diện với thông tin tiêu cực.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ nói đến cảm xúc, chưa thể hiện được yếu tố “sự tràn ngập thông tin tiêu cực mà phép liệt kê mang lại.
- D sai vì trong đoạn trích, tác giả nói về báo chí không phải mạng xã hội.
→ B đúng vì trong đoạn trích liệt kê nhiều loại tin tiêu cực và kết luận “người ta mở báo ra là bắt đầu lo lắng” → biện pháp liệt kê nhấn mạnh sự tràn ngập tin xấu và tâm trạng lo âu của con người khi đối diện với thông tin tiêu cực. Đáp án: B
- A sai vì đoạn văn không tập trung vào “toàn cảnh xã hội” mà nhấn mạnh cảm xúc người đọc khi đối diện với thông tin tiêu cực.
- C sai vì nội dung đáp án chỉ nói đến cảm xúc, chưa thể hiện được yếu tố “sự tràn ngập thông tin tiêu cực mà phép liệt kê mang lại.
- D sai vì trong đoạn trích, tác giả nói về báo chí không phải mạng xã hội.
→ B đúng vì trong đoạn trích liệt kê nhiều loại tin tiêu cực và kết luận “người ta mở báo ra là bắt đầu lo lắng” → biện pháp liệt kê nhấn mạnh sự tràn ngập tin xấu và tâm trạng lo âu của con người khi đối diện với thông tin tiêu cực. Đáp án: B
Câu 39 [1043055]: “Cái thiện có thể sẽ thua cái ác trong một thời điểm, nhưng chung cuộc sẽ chiến thắng.”
Nhận định nào về câu trên là đúng?
Nhận định nào về câu trên là đúng?
A, Cái thiện nhất định chiến thắng cái ác bởi con người không để cho cái ác có cơ hội nảy nở, tồn tại.
B, Cái thiện dù có đấu tranh hay không thì cuối cùng cái ác vẫn luôn thất bại trước cái thiện.
C, Cái thiện sẽ chiến thắng cái ác bởi đó là quy luật phù hợp với đạo đức, lẽ sống nhân văn mà con người hướng tới.
D, Cái thiện chắc chắn sẽ chiến thắng cái ác nên con người không cần bận tâm quá nhiều, không cần đấu tranh với cái ác.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì đoạn văn không đề cập tới việc “con người không cho cái ác cơ hội tồn tại” và trên thực tế, con người cũng chưa thể chắc chắn làm được điều đó.
- B sai vì đây là một nhận định sai, đoạn trích không khẳng định “không cần đấu tranh” vì nếu không đấu tranh, cái thiện khó có thể chiến thắng cái ác.
- D sai vì đây là một suy nghĩ tiêu cực và thụ động, việc tin vào sự chiến thắng chung cuộc của cái thiện không có nghĩa là buông xuôi, không đấu tranh. Ngược lại, niềm tin đó là động lực để con người tiếp tục đấu tranh và khắc phục hậu quả, như tác giả nói “cứ sau một sự cố, con người lại tìm ra nguyên nhân và khắc phục nó”.
→ C đúng vì câu văn nhấn mạnh niềm tin vào quy luật mang tính nhân văn: cái thiện cuối cùng sẽ chiến thắng cái ác. Đáp án: C
- A sai vì đoạn văn không đề cập tới việc “con người không cho cái ác cơ hội tồn tại” và trên thực tế, con người cũng chưa thể chắc chắn làm được điều đó.
- B sai vì đây là một nhận định sai, đoạn trích không khẳng định “không cần đấu tranh” vì nếu không đấu tranh, cái thiện khó có thể chiến thắng cái ác.
- D sai vì đây là một suy nghĩ tiêu cực và thụ động, việc tin vào sự chiến thắng chung cuộc của cái thiện không có nghĩa là buông xuôi, không đấu tranh. Ngược lại, niềm tin đó là động lực để con người tiếp tục đấu tranh và khắc phục hậu quả, như tác giả nói “cứ sau một sự cố, con người lại tìm ra nguyên nhân và khắc phục nó”.
→ C đúng vì câu văn nhấn mạnh niềm tin vào quy luật mang tính nhân văn: cái thiện cuối cùng sẽ chiến thắng cái ác. Đáp án: C
Câu 40 [1043056]: “Cùng một cơn mưa người tiêu cực sẽ bực mình vì phải trùm áo mưa, người lạc quan thì nghĩ đến cây cối sẽ được xanh tươi, không khí sẽ được trong lành. Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực.”
Dòng nào sau đây không thể hiện đúng thông điệp của đoạn văn trên?
Dòng nào sau đây không thể hiện đúng thông điệp của đoạn văn trên?
A, Thái độ sống tiêu cực sẽ khiến con người không thể cảm nhận được những vẻ đẹp dịu dàng mà cuộc đời ban tặng.
B, Nếu ta nhìn nhận cuộc sống qua lăng kính tiêu cực thì cuộc sống xung quanh ta cũng vận hành như vậy.
C, Nếu không thể thay đổi hiện tượng khách quan, con người hãy học cách chấp nhận và để mọi thứ vận hành thông qua lăng kính tích cực.
D, Hãy luôn sống tích cực, lạc quan chắc chắn chúng ta không bao giờ gặp phải những điều tiêu cực.
Giải thích chi tiết:
→ D là đáp án đúng vì đoạn văn không nói “không bao giờ gặp phải điều tiêu cực” mà nhấn mạnh rằng dù khó khăn vẫn xảy ra, ta nên chọn cách nhìn tích cực để bước tiếp, vượt qua khó khăn. Đáp án: D
→ D là đáp án đúng vì đoạn văn không nói “không bao giờ gặp phải điều tiêu cực” mà nhấn mạnh rằng dù khó khăn vẫn xảy ra, ta nên chọn cách nhìn tích cực để bước tiếp, vượt qua khó khăn. Đáp án: D
Chùm 09. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Quả thực, tôi từng viết điếu văn cho chính mình. Nhiều người nghe vậy thì bảo: “Sống sờ sờ ra mà nói chuyện chết chóc, xui lắm!”. Người ta hay kiêng kỵ nhắc đến cái chết. Tôi thì nghĩ khác. Cái chết luôn hiện diện trong mỗi chúng ta, không phải là để sợ hãi hay bi quan, mà là để nhắc mình sống tốt hơn.
Tôi từng thấy ở nhiều quốc gia, người ta nói về cái chết một cách rất nhẹ nhàng. Họ không xem đó là kết thúc ảm đạm, mà là dịp để nhắc lại những kỷ niệm vui, những điều tốt đẹp của người đã khuất. Tôi viết điếu văn cho chính mình như một cách để nói với mọi người: nếu tôi có ra đi, thì hãy nhớ rằng tôi đã sống tử tế, và tôi đã sống thật.
Tôi từng chứng kiến nhiều người thân, bạn bè dần lụi tàn vì ung thư – lặng lẽ, âm thầm và đau đớn. Có người vì không khám sức khỏe định kỳ, có người vì lối sống chưa lành mạnh. Đến khi phát hiện bệnh thì đã quá muộn. Những trải nghiệm ấy khiến tôi nhìn cái chết không phải bằng sự sợ hãi, mà bằng ý thức chủ động sống.
Tôi chọn cách sống chậm. Sống để chiêm nghiệm. Sống để trân trọng từng khoảnh khắc. Và tôi đã đăng ký hiến tạng. Với tôi, hiến tạng là một cách sống tử tế – bởi khi mình không còn tồn tại, cơ thể mình vẫn có thể trao lại sự sống cho người khác. Đó là một cái chết có ích, một cái chết không lãng phí.
Từ khi đăng ký hiến tạng, tôi tự thấy mình sống có trách nhiệm hơn. Tôi ăn uống điều độ hơn, tránh xa những thứ không tốt cho sức khỏe, suy nghĩ tích cực hơn, tập thể thao đều đặn hơn. Bởi vì lúc này, tôi không chỉ sống cho mình – mà còn sống cho cả những người có thể được trao lại sự sống trong tương lai.
Tôi thường chia sẻ công khai về chuyện này, cả trên truyền thông, cả mạng xã hội. Không phải để gây sự chú ý, mà là để nói rằng: đừng sợ nói về cái chết. Khi ta đối diện với nó một cách thẳng thắn, ta sẽ thấy cuộc sống đáng quý hơn rất nhiều.
Tôi vẫn thường nhắn mọi người trên trang cá nhân: “Tập thể dục đi! Chạy bộ đi!” Vì suy cho cùng, đời người chỉ cần hai thứ quan trọng nhất: sức khỏe và thời gian. Khi bạn có sức khỏe, bạn sẽ có thêm thời gian. Và khi bạn có thời gian, bạn sẽ làm được nhiều điều có ý nghĩa hơn”... Không phải là lần đầu tiên, cũng không phải là lần cuối cùng mình nói về cái chết và tâm thế sống.”
Tôi từng thấy ở nhiều quốc gia, người ta nói về cái chết một cách rất nhẹ nhàng. Họ không xem đó là kết thúc ảm đạm, mà là dịp để nhắc lại những kỷ niệm vui, những điều tốt đẹp của người đã khuất. Tôi viết điếu văn cho chính mình như một cách để nói với mọi người: nếu tôi có ra đi, thì hãy nhớ rằng tôi đã sống tử tế, và tôi đã sống thật.
Tôi từng chứng kiến nhiều người thân, bạn bè dần lụi tàn vì ung thư – lặng lẽ, âm thầm và đau đớn. Có người vì không khám sức khỏe định kỳ, có người vì lối sống chưa lành mạnh. Đến khi phát hiện bệnh thì đã quá muộn. Những trải nghiệm ấy khiến tôi nhìn cái chết không phải bằng sự sợ hãi, mà bằng ý thức chủ động sống.
Tôi chọn cách sống chậm. Sống để chiêm nghiệm. Sống để trân trọng từng khoảnh khắc. Và tôi đã đăng ký hiến tạng. Với tôi, hiến tạng là một cách sống tử tế – bởi khi mình không còn tồn tại, cơ thể mình vẫn có thể trao lại sự sống cho người khác. Đó là một cái chết có ích, một cái chết không lãng phí.
Từ khi đăng ký hiến tạng, tôi tự thấy mình sống có trách nhiệm hơn. Tôi ăn uống điều độ hơn, tránh xa những thứ không tốt cho sức khỏe, suy nghĩ tích cực hơn, tập thể thao đều đặn hơn. Bởi vì lúc này, tôi không chỉ sống cho mình – mà còn sống cho cả những người có thể được trao lại sự sống trong tương lai.
Tôi thường chia sẻ công khai về chuyện này, cả trên truyền thông, cả mạng xã hội. Không phải để gây sự chú ý, mà là để nói rằng: đừng sợ nói về cái chết. Khi ta đối diện với nó một cách thẳng thắn, ta sẽ thấy cuộc sống đáng quý hơn rất nhiều.
Tôi vẫn thường nhắn mọi người trên trang cá nhân: “Tập thể dục đi! Chạy bộ đi!” Vì suy cho cùng, đời người chỉ cần hai thứ quan trọng nhất: sức khỏe và thời gian. Khi bạn có sức khỏe, bạn sẽ có thêm thời gian. Và khi bạn có thời gian, bạn sẽ làm được nhiều điều có ý nghĩa hơn”... Không phải là lần đầu tiên, cũng không phải là lần cuối cùng mình nói về cái chết và tâm thế sống.”
(Trương Anh Ngọc, Hành trình sống trọn với sự thật, dũng cảm và khác biệt, theo nhandan.vn)
Câu 41 [1043057]: Theo đoạn trích, việc làm nào của tác giả khiến mọi người không khỏi ngạc nhiên?
A, Đăng ký hiến tạng.
B, Tập thể dục đều đặn.
C, Chia sẻ công khai câu chuyện của mình trên mạng xã hội.
D, Viết điếu văn cho chính mình.
Giải thích chi tiết:
Trong đoạn văn, tác giả có kể “Quả thực, tôi từng viết điếu văn cho chính mình. Nhiều người nghe vậy thì bảo: ‘Sống sờ sờ ra mà nói chuyện chết chóc, xui lắm!’”.
Điều này khiến mọi người không khỏi ngạc nhiên, vì viết điếu văn cho chính mình là việc rất lạ, ít ai làm.
→ D là đáp án đúng. Đáp án: D
Trong đoạn văn, tác giả có kể “Quả thực, tôi từng viết điếu văn cho chính mình. Nhiều người nghe vậy thì bảo: ‘Sống sờ sờ ra mà nói chuyện chết chóc, xui lắm!’”.
Điều này khiến mọi người không khỏi ngạc nhiên, vì viết điếu văn cho chính mình là việc rất lạ, ít ai làm.
→ D là đáp án đúng. Đáp án: D
Câu 42 [1043058]: Theo tác giả, đời người cần hai thứ quan trọng nhất là?
A, Sự tử tế, trách nhiệm.
B, Sức khỏe, thời gian.
C, Sống chậm, sự chiêm nghiệm.
D, Sống tử tế, sống thật.
Giải thích chi tiết:
Trong văn bản có nêu “Suy cho cùng, đời người chỉ cần hai thứ quan trọng nhất: sức khỏe và thời gian. Khi bạn có sức khỏe, bạn sẽ có thêm thời gian. Và khi bạn có thời gian, bạn sẽ làm được nhiều điều có ý nghĩa hơn.”
→ B là đáp án đúng. Đáp án: B
Trong văn bản có nêu “Suy cho cùng, đời người chỉ cần hai thứ quan trọng nhất: sức khỏe và thời gian. Khi bạn có sức khỏe, bạn sẽ có thêm thời gian. Và khi bạn có thời gian, bạn sẽ làm được nhiều điều có ý nghĩa hơn.”
→ B là đáp án đúng. Đáp án: B
Câu 43 [1043059]: Quan niệm về cái chết của tác giả có gì khác biệt so với quan niệm truyền thống được tác giả đề cập trong văn bản?
A, Tác giả cũng kiêng kỵ và né tránh việc nhắc về cái chết giống như nhiều người xung quanh.
B, Tác giả cho rằng cái chết là một kết thúc ảm đạm nhất cuộc đời con người, khi nhắc tới rất sợ hãi và bi quan.
C, Tác giả cho rằng việc nói về cái chết là để nhắc nhở mình sống tốt hơn, không phải để sợ hãi hay bi quan.
D, Tác giả cho rằng cái chết là một kết thúc nhẹ nhàng, nhắc về cái chết là dịp nhắc tới những kỉ niệm vui về người đã khuất.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì tác giả nói “người ta hay kiêng kỵ nhắc đến cái chết. Tôi thì nghĩ khác.” → tác giả không né tránh mà ngược lại, chủ động viết điếu văn cho chính mình.
- B sai vì nội dung đáp án chính là quan niệm truyền thống mà tác giả phản bác. Tác giả không coi cái chết là bi quan, ảm đạm, mà xem nó như một lời nhắc nhở để sống tốt hơn.
- D sai vì nội dung đáp án chính là quan niệm của “nhiều quốc gia khác” nhìn về cái chết, không phải quan niệm riêng của tác giả, tác giả chỉ dẫn lại ví dụ đó để đối chiếu.
→ C đúng vì nội dung đáp án chính là quan niệm mới mẻ và khác biệt của tác giả, cái chết được nhìn như một phần tự nhiên của đời sống, giúp con người trân trọng từng khoảnh khắc và sống tử tế hơn. Đáp án: C
- A sai vì tác giả nói “người ta hay kiêng kỵ nhắc đến cái chết. Tôi thì nghĩ khác.” → tác giả không né tránh mà ngược lại, chủ động viết điếu văn cho chính mình.
- B sai vì nội dung đáp án chính là quan niệm truyền thống mà tác giả phản bác. Tác giả không coi cái chết là bi quan, ảm đạm, mà xem nó như một lời nhắc nhở để sống tốt hơn.
- D sai vì nội dung đáp án chính là quan niệm của “nhiều quốc gia khác” nhìn về cái chết, không phải quan niệm riêng của tác giả, tác giả chỉ dẫn lại ví dụ đó để đối chiếu.
→ C đúng vì nội dung đáp án chính là quan niệm mới mẻ và khác biệt của tác giả, cái chết được nhìn như một phần tự nhiên của đời sống, giúp con người trân trọng từng khoảnh khắc và sống tử tế hơn. Đáp án: C
Câu 44 [1043060]: Thái độ “sống chậm” của tác giả trong đoạn trích trên có ý nghĩa gì?
A, Sống là để nhìn nhận mọi việc một cách thấu đáo từ đó biết trân trọng hơn những khoảnh khắc của cuộc sống.
B, Sống là để trải nghiệm, học hỏi nhiều hơn từ đó biết trân trọng những gì mình đang có.
C, Sống là để nhìn nhận mọi việc một cách thấu đáo từ đó rút ra những bài học, hoàn thiện bản thân mỗi ngày.
D, Sống là để trải nghiệm, chiêm nghiệm, rút ra cho mình những bài học sâu sắc từ đó biết trân quý bản thân hơn.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì nội dung đáp án thiếu yếu tố chiêm nghiệm, thấu đáo mà tập trung vào trải nghiệm, học hỏi, đây không phải là trọng tâm.
- C sai vì trong đoạn trích tác giả không nhấn mạnh chuyện “hoàn thiện bản thân” mà nhấn mạnh trân trọng khoảnh khắc.
- D sai vì trong đoạn trích tác giả nói “sống để trân trọng từng khoảnh khắc”, không phải tập trung vào “bản thân” mà là thái độ với cuộc sống.
→ A đúng vì nội dung đáp án phù hợp với mục đích mà tác giả tự đặt ra cho mình: chiêm nghiệm (nhìn nhận thấu đáo) và trân trọng từng khoảnh khắc. Đáp án: A
- B sai vì nội dung đáp án thiếu yếu tố chiêm nghiệm, thấu đáo mà tập trung vào trải nghiệm, học hỏi, đây không phải là trọng tâm.
- C sai vì trong đoạn trích tác giả không nhấn mạnh chuyện “hoàn thiện bản thân” mà nhấn mạnh trân trọng khoảnh khắc.
- D sai vì trong đoạn trích tác giả nói “sống để trân trọng từng khoảnh khắc”, không phải tập trung vào “bản thân” mà là thái độ với cuộc sống.
→ A đúng vì nội dung đáp án phù hợp với mục đích mà tác giả tự đặt ra cho mình: chiêm nghiệm (nhìn nhận thấu đáo) và trân trọng từng khoảnh khắc. Đáp án: A
Câu 45 [1043061]: “Khi bạn có sức khỏe, bạn sẽ có thêm thời gian. Và khi bạn có thời gian, bạn sẽ làm được nhiều điều có ý nghĩa hơn”... Không phải là lần đầu tiên, cũng không phải là lần cuối cùng mình nói về cái chết và tâm thế sống.”
Nhận định nào đúng khi hiểu về cụm từ “tâm thế sống” trong đoạn văn trên?
Nhận định nào đúng khi hiểu về cụm từ “tâm thế sống” trong đoạn văn trên?
A, Là trạng thái chủ động, con người luôn nghĩ, luôn trăn trở về sự sống và cái chết.
B, Là trạng thái con người hoang mang, lo lắng về cách sống và những việc mình đang làm.
C, Là trạng thái con người có sự kiên định, giữ vững quan điểm về lối sống của mình.
D, Là trạng thái chủ động, thái độ, cách nhìn nhận tích cực, dám đối diện trực tiếp với sự sống và cái chết.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì “tâm thế sống” không chỉ là trăn trở mà còn là thái độ sống tích cực.
- B sai vì tác giả không hoang mang mà rất chủ động và nhẹ nhàng khi nói về cái chết.
- C sai vì kiên định là một phần nhưng tác giả nhấn mạnh chủ động, dám đối diện và nhìn tích cực.
→ D đúng vì cụm từ “tâm thế sống” trong đoạn trích đề cập đến toàn bộ thái độ, nhận thức và ý chí của tác giả đối với cuộc đời và cái chết. Trong đoạn trích, tác giả thể hiện một “tâm thế sống” chủ động và tích cực, dám đối diện với cái chết một cách thẳng thắn và hành động có trách nhiệm. Đáp án: D
- A sai vì “tâm thế sống” không chỉ là trăn trở mà còn là thái độ sống tích cực.
- B sai vì tác giả không hoang mang mà rất chủ động và nhẹ nhàng khi nói về cái chết.
- C sai vì kiên định là một phần nhưng tác giả nhấn mạnh chủ động, dám đối diện và nhìn tích cực.
→ D đúng vì cụm từ “tâm thế sống” trong đoạn trích đề cập đến toàn bộ thái độ, nhận thức và ý chí của tác giả đối với cuộc đời và cái chết. Trong đoạn trích, tác giả thể hiện một “tâm thế sống” chủ động và tích cực, dám đối diện với cái chết một cách thẳng thắn và hành động có trách nhiệm. Đáp án: D
Chùm 10. Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 01 đến 05
“Bạo lực học đường là vấn đề nan giải và ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe tâm thần của trẻ em, tăng các nguy cơ rối loạn, lo âu, trầm cảm và làm giảm sự tự tin của học sinh vào bản thân. Các tác động không chỉ nhất thời mà còn lâu dài, tiềm ẩn mối nguy về các rối loạn nghiêm trọng hơn như trầm cảm, tự hoại hay tự tử. Gần như trong mọi nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của học sinh trên thế giới đều đề cập đến các trải nghiệm bạo lực, bắt nạt học đường.
Ngày nay với Internet và mạng xã hội, có lẽ hiện tượng này được nhìn nhận và ghi lại nhiều hơn. Giống như một tảng băng chìm dần được nổi lên trên mặt nước. Liệu tảng băng ấy có lớn hơn so với trước đây hay không? Hiện chưa có những nghiên cứu chính thức kết luận số lượng và tần suất các vụ bạo lực học đường tăng so với trước đây.
Tuy nhiên nếu hỏi có nhức nhối hay không thì chắc chắn là rất nhức nhối. Bởi lẽ một vụ việc học sinh đánh nhau sẽ không chỉ ảnh hưởng đến những em có liên quan mà còn đến cả môi trường học tập chung. Những học sinh còn lại có thể cảm thấy bất an ngay trong chính lớp học, ngôi trường của mình. Xa hơn nữa có thể là cảm giác nặng nề hoặc suy giảm lòng tin kéo dài trong các em.
Tại Đức, khâu “phòng bệnh” rất được chú trọng. Các trường luôn chú trọng xây dựng môi trường học loại trừ từ sớm những vấn đề có thể tác động đến sức khỏe tâm thần học sinh. Chẳng hạn, các trường luôn xây dựng rất nhiều hoạt động từ thể thao đến giải trí, giúp học sinh luôn có không gian giải tỏa năng lượng và cảm xúc.
Các chương trình học tập được cân đối. Giáo viên thường sắp xếp linh hoạt thời gian biểu trong năm để học sinh luôn có lộ trình ôn tập kiểm tra, thi cử hợp lý, tránh trường hợp để học sinh gần đến sát những ngày cuối mới ôn tập, rất dễ làm tăng nguy cơ rối loạn lo âu do thi cử.
Trường học ở Đức luôn có một chuyên viên tâm lí học đường riêng. Họ sẽ là người xây dựng các hoạt động kiến tạo trường học lành mạnh. Họ cũng thường xuyên tổ chức các buổi chia sẻ, thảo luận cho các em nhận thức sức khỏe tinh thần hay cách ứng phó với những biểu hiện bắt nạt. Đặc biệt, họ còn tạo thêm những hoạt động dành cho phụ huynh, bởi phụ huynh cũng cần biết cách nắm bắt tâm lý của con. Nếu có nhu cầu, chính phụ huynh cũng có thể nhận được những tư vấn tâm lý từ các chuyên viên của trường.
Tất nhiên, nhiệm vụ chính của các chuyên viên vẫn sẽ là lắng nghe và chia sẻ với học sinh. Học sinh có những vấn đề sẽ được gỡ rối. Nếu nghi ngờ học sinh có các vấn đề rối loạn tâm thần hoặc gặp những ca khó, họ sẽ hướng dẫn các em đến gặp bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia tâm lý. Ở Đức, hệ thống điều trị ngoại trú chăm sóc sức khỏe tâm thần rất tốt, rộng khắp và dễ tiếp cận, ngay cả với học sinh.”
Ngày nay với Internet và mạng xã hội, có lẽ hiện tượng này được nhìn nhận và ghi lại nhiều hơn. Giống như một tảng băng chìm dần được nổi lên trên mặt nước. Liệu tảng băng ấy có lớn hơn so với trước đây hay không? Hiện chưa có những nghiên cứu chính thức kết luận số lượng và tần suất các vụ bạo lực học đường tăng so với trước đây.
Tuy nhiên nếu hỏi có nhức nhối hay không thì chắc chắn là rất nhức nhối. Bởi lẽ một vụ việc học sinh đánh nhau sẽ không chỉ ảnh hưởng đến những em có liên quan mà còn đến cả môi trường học tập chung. Những học sinh còn lại có thể cảm thấy bất an ngay trong chính lớp học, ngôi trường của mình. Xa hơn nữa có thể là cảm giác nặng nề hoặc suy giảm lòng tin kéo dài trong các em.
Tại Đức, khâu “phòng bệnh” rất được chú trọng. Các trường luôn chú trọng xây dựng môi trường học loại trừ từ sớm những vấn đề có thể tác động đến sức khỏe tâm thần học sinh. Chẳng hạn, các trường luôn xây dựng rất nhiều hoạt động từ thể thao đến giải trí, giúp học sinh luôn có không gian giải tỏa năng lượng và cảm xúc.
Các chương trình học tập được cân đối. Giáo viên thường sắp xếp linh hoạt thời gian biểu trong năm để học sinh luôn có lộ trình ôn tập kiểm tra, thi cử hợp lý, tránh trường hợp để học sinh gần đến sát những ngày cuối mới ôn tập, rất dễ làm tăng nguy cơ rối loạn lo âu do thi cử.
Trường học ở Đức luôn có một chuyên viên tâm lí học đường riêng. Họ sẽ là người xây dựng các hoạt động kiến tạo trường học lành mạnh. Họ cũng thường xuyên tổ chức các buổi chia sẻ, thảo luận cho các em nhận thức sức khỏe tinh thần hay cách ứng phó với những biểu hiện bắt nạt. Đặc biệt, họ còn tạo thêm những hoạt động dành cho phụ huynh, bởi phụ huynh cũng cần biết cách nắm bắt tâm lý của con. Nếu có nhu cầu, chính phụ huynh cũng có thể nhận được những tư vấn tâm lý từ các chuyên viên của trường.
Tất nhiên, nhiệm vụ chính của các chuyên viên vẫn sẽ là lắng nghe và chia sẻ với học sinh. Học sinh có những vấn đề sẽ được gỡ rối. Nếu nghi ngờ học sinh có các vấn đề rối loạn tâm thần hoặc gặp những ca khó, họ sẽ hướng dẫn các em đến gặp bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia tâm lý. Ở Đức, hệ thống điều trị ngoại trú chăm sóc sức khỏe tâm thần rất tốt, rộng khắp và dễ tiếp cận, ngay cả với học sinh.”
(Trọng Nhân, Nạn bạo lực học đường, phải ngăn chặn mầm mống từ sớm, theo tuoitre.vn)
Câu 46 [1043062]: Những thao tác lập luận được sử dụng kết hợp trong đoạn trích trên là?
A, Bình luận, bác bỏ, giải thích, so sánh.
B, Phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ.
C, Chứng minh, so sánh, giải thích, phân tích.
D, Giải thích, phân tích, bình luận, so sánh.
Giải thích chi tiết:
- Giải thích: bạo lực học đường ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe tâm thần.
- Phân tích: chỉ ra tác động nhất thời, lâu dài, phạm vi ảnh hưởng (cá nhân, môi trường, niềm tin).
- So sánh: lấy kinh nghiệm từ Đức đối chiếu với thực trạng.
- Bình luận: tác giả đưa ra ý kiến đánh giá về hiện tượng và bình luận về việc ghi nhận bạo lực qua mạng xã hội.
→ D là đáp án đúng. Đáp án: D
- Giải thích: bạo lực học đường ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe tâm thần.
- Phân tích: chỉ ra tác động nhất thời, lâu dài, phạm vi ảnh hưởng (cá nhân, môi trường, niềm tin).
- So sánh: lấy kinh nghiệm từ Đức đối chiếu với thực trạng.
- Bình luận: tác giả đưa ra ý kiến đánh giá về hiện tượng và bình luận về việc ghi nhận bạo lực qua mạng xã hội.
→ D là đáp án đúng. Đáp án: D
Câu 47 [1043063]: Tác hại của bạo lực học đường được đề cập trong văn bản là?
A, Ảnh hưởng sức khỏe tinh thần, giảm sự tự tin, tăng nguy cơ rối loạn tinh thần, tiềm ẩn các vấn đề nghiêm trọng như: trầm cảm, tự hoại, tự tử.
B, Ảnh hưởng sức khỏe tinh thần, tăng nguy cơ rối loạn tinh thần như: trầm cảm, tự hoại, tự tử, lo âu, trầm cảm.
C, Ảnh hưởng nghiêm trọng sức khỏe tinh thần, làm giảm sự tự tin của học sinh vào bản thân dẫn đến trầm cảm, tự hoại, tự tử.
D, Ảnh hưởng nghiêm trọng sức khỏe tinh thần, tăng nguy cơ rối loại, lo âu, trầm cảm, nghiêm trọng hơn là xuất hiện các hành động như: trầm cảm, tự tử.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì thiếu ý “giảm sự tự tin”.
- C sai vì đáp án bỏ qua các tác hại trung gian và trực tiếp được nêu là “tăng các nguy cơ rối loạn, lo âu”
- D sai vì “trầm cảm” không phải hành động, mà là trạng thái tâm lý, ngoài ra đáp án còn thiếu “giảm sự tự tin” và “tự hoại”.
→ A là đáp án đúng vì:
Trong đoạn trích có nêu:
“... ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe tâm thần của trẻ em, tăng các nguy cơ rối loạn, lo âu, trầm cảm và làm giảm sự tự tin của học sinh vào bản thân.”
“Các tác động... tiềm ẩn mối nguy về các rối loạn nghiêm trọng hơn như trầm cảm, tự hoại hay tự tử.” Đáp án: A
- B sai vì thiếu ý “giảm sự tự tin”.
- C sai vì đáp án bỏ qua các tác hại trung gian và trực tiếp được nêu là “tăng các nguy cơ rối loạn, lo âu”
- D sai vì “trầm cảm” không phải hành động, mà là trạng thái tâm lý, ngoài ra đáp án còn thiếu “giảm sự tự tin” và “tự hoại”.
→ A là đáp án đúng vì:
Trong đoạn trích có nêu:
“... ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe tâm thần của trẻ em, tăng các nguy cơ rối loạn, lo âu, trầm cảm và làm giảm sự tự tin của học sinh vào bản thân.”
“Các tác động... tiềm ẩn mối nguy về các rối loạn nghiêm trọng hơn như trầm cảm, tự hoại hay tự tử.” Đáp án: A
Câu 48 [1043064]: Nguyên nhân nào khiến hiện tượng bạo lực học đường hiện nay được ghi nhận nhiều hơn?
A, Do thiếu sự kết nối, lắng nghe và chia sẻ giữa các em học sinh với gia đình, nhà trường.
B, Do sự phát triển mạnh mẽ cùng những hệ quả của Internet và mạng xã hội.
C, Do học sinh ngày càng đề cao cái tôi, cùng với đó là sự nhạy cảm và yếu đuối.
D, Do mạng xã hội và Internet thổi phồng mức độ nghiêm trọng của vấn đề.
Giải thích chi tiết:
- A sai vì văn bản không đề cập.
- C sai vì không có trong văn bản.
- D sai vì văn bản không nói thổi phồng mà là giúp ghi nhận rõ hơn.
→ B đúng vì trong văn bản có nêu “Ngày nay với Internet và mạng xã hội, có lẽ hiện tượng này được nhìn nhận và ghi lại nhiều hơn. Giống như một tảng băng chìm dần được nổi lên trên mặt nước.” → Nguyên nhân khiến bạo lực học đường được ghi nhận nhiều hơn là nhờ sự phát triển của internet và mạng xã hội, giúp nhiều vụ việc được công khai và lan truyền. Đáp án: B
- A sai vì văn bản không đề cập.
- C sai vì không có trong văn bản.
- D sai vì văn bản không nói thổi phồng mà là giúp ghi nhận rõ hơn.
→ B đúng vì trong văn bản có nêu “Ngày nay với Internet và mạng xã hội, có lẽ hiện tượng này được nhìn nhận và ghi lại nhiều hơn. Giống như một tảng băng chìm dần được nổi lên trên mặt nước.” → Nguyên nhân khiến bạo lực học đường được ghi nhận nhiều hơn là nhờ sự phát triển của internet và mạng xã hội, giúp nhiều vụ việc được công khai và lan truyền. Đáp án: B
Câu 49 [1043065]: “Giống như một tảng băng chìm dần được nổi lên trên mặt nước.”
Nhận định nào đúng khi nói về câu trên?
Nhận định nào đúng khi nói về câu trên?
A, Hiện tượng bạo lực học đường đang dần dần được hạn chế, đẩy lùi, báo hiệu những chuyển biến tích cực.
B, Hiện tượng bạo lực học đường vốn tiềm ẩn sâu, âm ỉ và được phát hiện nhiều hơn, nghiêm trọng hơn gần đây.
C, Hiện tượng bạo lực học đường tiềm ẩn sâu và nghiêm trọng ở tất cả môi trường học đường, không thể kiểm soát hết.
D, Hiện tượng bạo lực học đường đã được hình thành và âm ỉ từ rất lâu nhưng hiện nay mới có cơ hội phát triển nhanh chóng ở tất cả các cơ sở giáo dục.
- A sai vì hình ảnh “nổi lên” không có nghĩa là giảm bớt hay bị đẩy lùi, mà là được phát hiện nhiều hơn.
- C sai vì cụm từ “ở tất cả môi trường học đường” khiến câu trở nên cực đoan, văn bản không khẳng định “tất cả” và “không thể kiểm soát”.
- D sai vì tác giả không nói bạo lực học đường “phát triển nhanh chóng” mà chỉ nhấn mạnh được ghi nhận và nhìn nhận nhiều hơn. Đáp án: B
- C sai vì cụm từ “ở tất cả môi trường học đường” khiến câu trở nên cực đoan, văn bản không khẳng định “tất cả” và “không thể kiểm soát”.
- D sai vì tác giả không nói bạo lực học đường “phát triển nhanh chóng” mà chỉ nhấn mạnh được ghi nhận và nhìn nhận nhiều hơn. Đáp án: B
Câu 50 [1043066]: Từ đoạn trích, bài học nào có thể rút ra cho các cơ sở giáo dục tại Việt Nam nhằm hạn chế bạo lực học đường?
A, Tăng cường các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, có chuyên viên tâm lí học đường, thiết kế và tổ chức chương trình học cân đối, phù hợp.
B, Chú trọng nâng cao kĩ năng sống cho học sinh, mở rộng các lớp học giảng dạy võ thuật, thiết kế các chương trình học cân đối, phù hợp với sức khỏe tinh thần của học sinh.
C, Tăng cường sự quan tâm, lắng nghe và chia sẻ giữa nhà trường - học sinh thông qua các chuyên viên tâm lí học đường, đồng thời gia đình chú trọng phát triển cho con em các kĩ năng cần thiết để tự vệ.
D, Đẩy mạnh hoạt động trao đổi, lắng nghe ý kiến và phản hồi của học sinh từ đó có các biện pháp quản lý chặt chẽ, hiệu quả, đưa ra các quy định, kỉ luật nghiêm khắc để ngăn chặn vấn nạn bạo lực học đường.
Giải thích chi tiết:
- B sai vì văn bản không đề cập đến võ thuật, chỉ nói thể thao – giải trí nói chung.
- C sai vì văn bản nhấn mạnh nhà trường – chuyên viên tâm lí chứ không nói rèn kĩ năng tự vệ cho học sinh.
- D sai vì văn bản tập trung vào phòng ngừa, hỗ trợ tâm lí, không nói đến kỉ luật nghiêm khắc. Đáp án: A
- B sai vì văn bản không đề cập đến võ thuật, chỉ nói thể thao – giải trí nói chung.
- C sai vì văn bản nhấn mạnh nhà trường – chuyên viên tâm lí chứ không nói rèn kĩ năng tự vệ cho học sinh.
- D sai vì văn bản tập trung vào phòng ngừa, hỗ trợ tâm lí, không nói đến kỉ luật nghiêm khắc. Đáp án: A